Trương Nhân Tuấn – Tìm hiểu sách lược mới của Việt Nam ở biển Đông
12/11/2009 | 1:15 chiều | 32 Comments
Category: Quan hệ Việt – Trung
Thẻ: Hoàng Sa-Trường Sa
Trong một bài viết trên Tuần Việt Nam, đăng ngày 8-9-2009 có tựa đề: “Dân tộc hoá cuộc đấu tranh giữ chủ quyền biển đảo” của Hoàng Phương, ông Lưu Văn Lợi, nguyên Trưởng ban Biên giới thuộc Hội đồng Bộ trưởng, có phát biểu rằng: “Cuộc đấu tranh về Hoàng Sa – Trường Sa chỉ có thể giải quyết trên cơ sở dân tộc hoá cuộc đấu tranh và quốc tế hoá vấn đề tranh chấp”. Ông Lưu Văn Lợi được nhiều người biết như là một học giả uy tín và là một nhà ngoại giao có kinh nghiệm.
Lời phát biểu của ông Lợi xảy ra vào đầu tháng 9 (và trước đó, qua một số bài phỏng vấn). Khoảng hai tháng sau, 29-10, người ta đã thấy Quốc hội có những động thái phù hợp với tuyên bố của ông Lưu Văn Lợi: các đại biểu bàn thảo về dự luật “dân quân tự vệ”, với sự lên tiếng trước công chúng của các đại biểu Nguyễn Đăng Trừng, Bế Xuân Trường và đặc biệt của tướng Lê Quang Bình, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – An ninh của Quốc hội. Song song đó, cuối tháng này (tháng 11) trong nước cũng sẽ tổ chức Hội nghị Quốc tế về biển Đông.
Như thế lời phát biểu của ông Lợi có thể đang trở thành một sách lược chính thức của Việt Nam về biển Đông. Sách lược này, tạm gọi là sách lược Lưu Văn Lợi, gồm hai bước song song: 1/ Dân tộc hóa cuộc đấu tranh và 2/ Quốc tế hóa vấn đề tranh chấp.
Ý nghĩa “dân tộc hóa cuộc đấu tranh” được thể hiện qua dự luật “dân quân tự vệ”. Theo báo chí trong nước thì dự luật này: nòng cốt được tổ chức thành các đơn vị gồm dân quân tự vệ cơ động, dân quân tự vệ tại chỗ, dân quân tự vệ binh chủng và cuối cùng mới đến dân quân tự vệ biển. Nhưng đại biển Nguyễn Đăng Trừng kiến nghị sắp xếp lại thứ tự, phải đưa dân quân tự vệ biển lên vị trí đầu tiên trong lực lượng dân quân tự vệ nòng cốt.
Nội dung Dự Luật được báo chí ghi lại như sau: cho phép dân quân tự vệ, trong đó có dân quân tự vệ biển, được quyền nổ súng trong 3 trường hợp : 1/ có lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam, Tư lệnh quân khu và tương đương hoặc người chỉ huy các cấp được ủy quyền khi làm nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu. 2/ Trường hợp thứ hai, khi làm nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu, tuần tra bảo vệ biên giới, biển đảo phát hiện được địch ở mặt đất, trên biển hoặc trên không. 3/ Trường hợp thứ ba là đang thực hiện nhiệm vụ gìn giữ an ninh trật tự, an toàn xã hội và thực hiện quyền phòng vệ chính đáng.
Cũng theo báo chí trong nước thì Đa số ĐBQH đều tán thành việc nâng pháp lệnh về dân quân tự vệ lên thành luật và Dự án Luật sẽ được Quốc hội biểu quyết thông qua vào ngày 23/11 tới. Quốc hội cũng đề nghị tăng ngân sách cho bộ quốc phòng.
Ý nghĩa của “quốc tế hoá vấn đề tranh chấp”, theo ông Lợi thì Việt Nam cần “dựa vào pháp luật quốc tế và lợi dụng sự quan tâm hợp lý của các nước lớn với biển Đông để lôi kéo họ ủng hộ Việt Nam”, và “đưa vấn đề ra quốc tế, nhằm đạt được sự công nhận biển Đông… Nếu cần thiết, có thể đưa vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa ra toà án quốc tế”.
Việc đưa ra tòa án quốc tế để giải quyết tranh chấp thực ra là cốt lõi của sách lược Lưu Văn Lợi. Điều này ông đã ôm ấp từ lâu. Cuốn Cuộc tranh chấp Việt Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ông in năm 1995, với các tài liệu công phu, khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như những phản biện rất thuyết phục, phủ nhận các lý lẽ của Trung Quốc giành Hoàng Sa và Trường Sa. Ông Lợi đã chuẩn bị kỹ lưỡng việc đưa tranh chấp ra một tòa án quốc tế.
Đáng tiếc là hơn 24 năm sau sách lược này mới bắt đầu đưa vào áp dụng. 24 năm đã hoang phí, mà thời gian là tài nguyên quí giá nhất. Vì trong thời gian này, phía Trung Quốc đã vận dụng sức mạnh kinh tế, nghệ thuật tuyên truyền để thuyết phục dư luận quốc tế về chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa và phần lớn biển Đông. Đồng thời, khoảng thời gian đó, phe ngoại giao Việt Nam, nhóm phụ trách về biên giới, đã thể hiện một sự phá sản gần như toàn diện.
Nội dung một phần của bài viết “Hà Nội mất, Bắc Kinh được” cho thấy sự phá sản của ngoại giao Việt Nam. Sự phá sản này cần có nhiều giải thích, nhưng một phần tôi đã trình bày qua các bài viết trước đây: Phía ngoại giao Việt Nam đã thiếu một sách lược dài hạn đúng đắn, vì đã không có tư duy Việt Nam, mà chỉ có những chiến thuật tạm bợ, vay mượn xứ người. Tôi đã cảnh báo Việt Nam bị Phi Luật Tân “đâm sau lưng” từ năm 2004. Tháng 8 năm 2009, công hàm của Phi phản đối hồ sơ Việt Nam nộp Ủy ban Thềm Lục địa của Liên hiệp quốc, là nhát dao trí mạng thứ hai mà Phi dành cho Việt Nam. Nhát dao thứ nhứt là Phi xé lẻ “đi đêm” với Trung Quốc để khai thác biển Đông, (vi phạm qui tắc ứng xử biển Đông và không thông qua Việt Nam) ngay trên vùng biển mà Việt Nam có thể có chủ quyền, năm 2004. Nguyên do vì phe ngoại giao Việt Nam đã vay mượn “sáng kiến” của người khác (ở đây là của Phi), dĩ nhiên không thể sử dụng được cho tình trạng cá biệt của Việt Nam, nhưng nếu khả dĩ áp dụng được, trước khi Việt Nam có lợi thì Phi đã có lợi trước. Việc cóp nhặt này nếu không (hay chưa) đem lại thiệt hại cho Việt Nam thì cũng đã đặt Việt Nam vào một tình trạng thật bi đát! Tôi đã viết nhiều bài viết cảnh báo việc này.
Trong một bài phỏng vấn, Giáo sư Carl Thayer có ý kiến như sau về “Qui tắc ứng xử biển Đông”:
“Tôi không nghĩ là sẽ có chuẩn mực hành xử… Quan điểm của tôi là Trung Quốc ngày càng tự tin hơn và muốn ra tay trước và muốn chặn đứng mọi nỗ lực nhằm quốc tế hoá tranh chấp trên vùng biển Nam Hải. Tôi nghĩ là căng thẳng sẽ còn tiếp tục một thời gian nữa.” (RFA, 4-11-2009).
Theo ông này thì không có nguyên tắc hành xử nào cho biển Đông. Khối ASEAN đồng sàng nhưng dị mộng, nội bộ có nhiều xung đột. Việt Nam từ nay không thể dựa vào khối này để đối trọng với Trung Quốc về vấn đề tranh chấp biển Đông. Điều này rõ ràng là một thất bại bi đát của phe ngoại giao. Như thế Trung Quốc sẽ tiếp tục làm mưa làm gió, hành xử như hải tặc với ngư dân Việt Nam, cho đến khi không còn chiếc thuyền của Việt Nam nào dám đi đánh cá ở biển Đông. Biển Đông êm thắm trở thành của Trung Quốc. Việt Nam lâm vào tình trạng bế tắc!
Do đó phe quân đội nhập cuộc. Thực ra, “quân đội” dưới một hình thức khác, dân là quân và quân là dân. Nhiều dấu hiệu cho thấy thẩm quyền từ phe “văn” đang chia sớt cho phe “võ”. Tranh chấp biển Đông như thế (theo sách lược Lưu Văn Lợi) sẽ được giải quyết bằng hai vế: văn và võ, mục tiêu sẽ là đưa vấn đề ra một trọng tài quốc tế.
Tôi thấy đã có nhiều tiếng nói phê bình dự luật “dân quân tự vệ”. Trước hết luật này không hề mâu thuẫn với Hiến pháp và luật Quốc phòng của Việt Nam. Truyền thống Việt Nam luôn là “dân, quân quốc phòng”. Dự luật này do đó cũng không mâu thuẫn với truyền thống, lịch sử. Việc gì cũng cần thời gian. Nên để cho sách lược Lưu Văn Lợi được thử thách. Các phe phụ trách cần thời gian (và phương tiện) đầy đủ để thể hiện tài năng.
Tôi nghĩ rằng sách lược Lưu Văn Lợi có khả năng đột phá bế tắc của Việt Nam hiện nay. Vấn đề cần phải nghiên cứu là giá (máu) phải trả là bao nhiêu? Nhưng lịch sử giữ nước của Việt Nam luôn là các trang sử viết lên bằng máu. Việt Nam khó có phương cách nào khác (để đưa vấn đề tranh chấp ra tòa án quốc tế). Kéo dài tình trạng hôm nay là Việt Nam mất trắng.
Từ lâu tôi đã chống chủ trương của Việt Nam phân định hải phận biển Đông theo lối bỏ qua việc giải quyết chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thỏa thuận hợp tác với các nước khai thác chung trên vùng biển hiện đang tranh chấp. Thực ra đây là sáng kiến của các cố vấn của các nước Phi và Mã Lai mà phía Việt Nam mượn lại. Điều đáng buồn là nhiều “học giả” Việt Nam tỏ ra tâm đắc với lối tư duy tầm gởi này. Tôi đã nói nhiều lần rằng điều này hoàn toàn bất lợi cho Việt Nam. Và thực tế cho thấy ngày hôm nay tôi đã nói đúng.
Tôi nghĩ rằng tôi và ông Lưu Văn Lợi có cùng lập trường về biển Đông. Do đó tôi không có lý do gì mà không ủng hộ “sách lược Lưu Văn Lợi”.
Để sách lược này có thêm yếu tố thành công, tôi đề nghị thêm các việc sau:
Điều quan trọng nhất cho việc đưa ra tòa án quốc tế là vấn đề tài liệu (và hóa giải các hứa hẹn của cộng sản Việt Nam trong quá khứ mà điều này tôi đã nói). Việt Nam phải chuẩn bị một hồ sơ thật chắc chắn. Trong bài về Liên minh Trung Quốc và Phi khai thác biển Đông năm 2004, tôi có viết như sau:
“Riêng thái-độ của người Việt hải-ngoại phải như thế nào để thích-ứng với hoàn-cảnh? Hàng trăm quyển sách hay bài viết về Trường-Sa đã xuất-bản, hàng chục luận-án cao-học, tiến-sĩ của nhiều đại-học trên thế-giới đã nghiên-cứu về Trường-Sa đã công-bố, nhưng rất tiếc, chỉ có 2 quyển sách mà tác-giả là Việt-Nam, số còn lại tác-giả là người ngoại-quốc. Trong đó có hàng chục quyển sách, hàng trăm bài viết mà tác-giả người Tàu. Nhưng trớ-trêu là hai quyển sách của Việt-Nam tìm không thấy ở hải-ngoại để tham-khảo. Không lẽ ta kết-luận rằng ‘người Việt-Nam’, trong cũng như ngoài nước, thờ-ơ với đất nước? Vấn-đề là phía cầm-quyền Việt Nam không có đưa ra một tài-liệu nào cho người dân tham-khảo. Không có tài-liệu, không biết diễn-tiến sự việc, muốn viết cũng không xong, vì biết cái gì mà viết? Tình-trạng vắng bóng người Việt viết về Trường-Sa (cũng như Hoàng-Sa) là hậu-quả của chính-sách bưng-bít thông-tin của CSViệt Nam. Chưa bao giờ việc bưng-bít nầy tác-hại đến đất-nước Việt-Nam như thế. ‘Việt-Nam-phải-thực-sự-đổi-mới’, nói như tựa-đề một quyển sách mới đây, là điều cực-kỳ cấp-bách. Thái-độ của chúng ta, qua những dữ-kiện góp-nhặt đây đó vừa trình-bày, tuy không đầy đủ nhưng tạm để chúng ta quyết-định là phải kịch-liệt phản-đối liên-minh giữa Trung-Trung-Hoa và Phi-Luật-Tân trong vấn-đề khai-thác Trường-Sa và yêu-cầu các nước liên-hệ nhanh-chóng đưa nội-vụ ra tòa án quốc-tế để xác-định chủ-quyền hải-đảo và lãnh-hải của các nước. Một khi vấn-đề chủ-quyền chưa giải-quyết thì việc khai-thác không có lý do nhắc tới.”
Tôi phải nhìn nhận rằng sau bài viết này, Việt Nam đã có công bố một số tài liệu khá quan trọng về biển Đông. Nhưng rất tiếc là phần nhiều tài liệu này đều cũ, đầy dẫy các điểm sai ấu trĩ (khiến cá nhân tôi khi trích dẫn các dữ kiện này, do không kiểm chứng lại, đã phải bị chỉ trích mạnh mẽ!). Nhưng dầu sao nó cũng mở đường cho việc “giao lưu” ngày càng mở rộng như hôm nay. Tuy nhiên, vấn đề “kênh thông tin” cũng là điều đáng nói. Tôi nghĩ là nhà nước nên đóng vai trò vô tư của nó, nên dành “ưu tiên” đăng tải tài liệu cho một hay vài tờ báo uy tín hoặc chuyên ngành, hơn là dành đặc quyền cho một “kênh thông tin” nào đó. Tôi nghĩ rằng “tư duy thần đồng” hay hiện tượng “Lê Văn Tám” cần chấm dứt. Học giả hay anh hùng không thể thổi lên bằng ống đu đủ, nó không còn thích hợp cho thời đại hôm nay.
Sau đó tôi có viết bài về “Chủ quyền của Việt Nam tại bãi Tu Chính-Vũng Mây” vào tháng 4 năm 2009, mục đích nhằm khích tướng để các học giả Việt Nam lên tiếng. Bài này cũng có tác dụng mạnh, nếu không nói là thành công lớn. Số lượng học giả Việt Nam “nhập cuộc” phải nhìn nhận là rất đông đảo. Chỉ từ tháng 4 năm 2009 đến nay đã thấy nhiều buổi hội thảo về biển Đông được tổ chức trong nước. Nhiều bài viết, hay các đặc san về biển Đông đã thấy xuất hiện trước công chúng. Điều này trước nay chưa hề có. Việc này rất quan trọng để thuyết phục dư luận (và lòng dân) trong thời đại @ (và phát triển quyền tự do ngôn luận). Việt Nam cần được dư luận quốc tế ủng hộ, dân trong nước phải chung một tấm lòng, mới có thể thắng.
Nhưng tôi cho rằng vẫn chưa đủ. Hầu hết các dữ kiện về biển Đông (cũng như Hoàng Sa và Trường Sa) mà các tác giả Việt Nam đã sử dụng tôi đều có đọc qua, ngoại trừ một vài tài liệu phía Trung Quốc. Các tài liệu này cũng đã phổ biến từ lâu, nhưng vì hàng rào ngôn ngữ tôi không đọc được.
Vì thế tôi đề nghị: cần hệ thống hóa và bổ túc thêm tài liệu của Việt Nam qua các việc 1/ nhà nước bảo trợ một số dự án nghiên cứu về biển Đông. 2/ Lập thư viện online lưu trữ các tài liệu về biển Đông để các học giả các nơi có thể tham khảo. 3/ Tạo sự dễ dàng cho các học giả, nhà nghiên cứu sống ở nước ngoài về nước nghiên cứu hay tổ chức hội thảo hoặc tham dự các buổi hội thảo trong nước.
Nếu luật “dân quân tự vệ” là phần xác của “Dân tộc hóa cuộc đấu tranh – Quốc tế hóa vấn đề tranh chấp” trong sách lược Lưu Văn Lợi, thì phần tài liệu chuẩn bị cho một tòa án quốc tế là phần hồn. Hồn không thể lìa khỏi xác được. Lâu nay phương pháp của Việt Nam, qua bộ Ngoại giao, là làm việc theo lối ốc mượn hồn, do đó thất bại là điều không thể tránh.
@ 2009 Trương Nhân Tuấn
@ 2009 talawas blog
Bình luận
32 Comments (bài “Trương Nhân Tuấn – Tìm hiểu sách lược mới của Việt Nam ở biển Đông”)
1 2 3 Trang sau »
Hải quân hay Cảnh sát biển thì cũng là người, họ cũng mệt mỏi vì những cuộc chiến đẫm máu lắm rồi. Suy cho cùng, tại sao họ lại phải chiến đấu trong khi những đồng đội đã ngã xuống hay bị người “lạ” bắt làm tù binh lại “do lỗi đánh máy” hay lỗi chi chi đó, chỉ có trời mới biết, nên ít được nhắc tới?
“Đảng viên đi trước, làng nước theo sau!” Thôi cứ phát cho mấy ông có “nhân thân tốt”; mấy ông thích dâng đất đai, khoáng sản cho những “đồng chí tốt” ấy; mấy ông Thanh Kiu, Thanh Bao, Thanh Trừng ấy… mỗi ông một chiếc thuyền thúng hay xuồng ba lá giống những cái mà dân miền Trung mới vừa dùng để “tự” cứu mình khỏi lũ dữ ấy và một khẩu AK ‘made in China’ để mấy ổng ra biển “tự vệ”, tàu hải quân sẽ theo sau! Chắc là tàu “lạ” sẽ sợ đến mức cong đuôi chạy bán mạng, lính “lạ” thì sợ đến bậy cả ra quần chứ chẳng chơi! Báo chí thế giới rồi đây sẽ bận rộn với hình ảnh của những chiếc thuyền nhỏ nhoi dám đương đầu với tàu chiến! Trông mới giống hình ảnh người hùng vô danh đứng trước mũi xe tăng ở Thiên An Môn năm nào làm sao! Vinh quang thay!
Ông Dương Danh Huy nói:
“Ông đại biểu nào thật sự đề nghị vũ trang ngư dân để chống các tàu ngư chính, hải quân Trung Quốc chắc không phải hạng quan võ mà là hạng ngồi ghế sa lông xúi trẻ con ăn cứt cá. Sai lầm, nguy hiểm cho ngư dân và có hại cho Việt Nam.
Phải bảo vệ ngư dân và bảo vệ chủ quyền bằng cảnh sát biển và hải quân.”
Tôi hoàn toàn đồng ý với ông. Nhưng chính phủ Việt Nam không làm.
Đáng lý nhiệm vụ của chính phủ là “Phải bảo vệ ngư dân và bảo vệ chủ quyền bằng cảnh sát biển và hải quân”, nhưng lại đẩy công việc đó cho người dân. Hết sức là vô lý.
Ông đại biểu nào thật sự đề nghị vũ trang ngư dân để chống các tàu ngư chính, hải quân Trung Quốc chắc không phải hạng quan võ mà là hạng ngồi ghế sa lông xúi trẻ con ăn cứt cá. Sai lầm, nguy hiểm cho ngư dân và có hại cho Việt Nam.
Phải bảo vệ ngư dân và bảo vệ chủ quyền bằng cảnh sát biển và hải quân.
[…] Posted by congdonghoalan in Biên Khảo, Lịch Sử. Để lại phản hồi Trương Nhân Tuấn – Tìm hiểu sách lược mới của […]
Cứ theo cách phân loại của Lã Thank Kiu thì nhân loại gồm 2 “loại”, một là ‘nhân chi sơ tính bản thiện’ và một là ‘nhân CHỈ SỢ tính bản thiện!’ Điều đáng sợ là, ở VN, quyền hành lại nằm trong tay “loại” thứ 2. Để thực hiện (tạm gọi là) sách lược Lưu Văn Lợi thì điều kiện tiên quyết là phải có sự đồng lòng của cả một dân tộc. Nhưng cái ‘đồng lòng’ ấy làm sao có được!?
Tôi sẽ không kết luận theo kiểu quy nạp rằng nếu người Sài gòn đầu tiên tôi nhìn thấy chỉ mặc có quần xà lỏn ra đường, thì hai người, rồi 3 người, và toàn bộ đàn ông Sài gòn… đều mặc xà lỏn ra đường cả! Ở đây tôi chỉ nói về lòng tin của bản thân tôi mà thôi: Tôi không tin rằng cái sách lược Lưu Văn Lợi có thể thực hiện được. Và tôi đang tự hỏi liệu cái thành quả đấu tranh bằng máu (nếu có) có sẽ lại bị cướp một lần nữa?
Tôi phải mở ngoặc để nói rằng, tôi chưa từng bao giờ đọc hay quan tâm đến chính trị nước nhà trước khi màn kịch “nhận tội” của ông Định được trình chiếu. Từ thời trung học, tôi đã ngấy đến tận cổ những cuốn sách sử bị tỉa sạch hết cả “lề trái” lẫn “lòng đường” chỉ chừa có cái “lề phải”; những thông tin theo kiểu ba tôi vẫn càm ràm ‘nhà văn nói láo, nhà báo nói thêm!’ Tôi đã sướng đến phát cuồng khi ném cuốn tập Văn vào sọt rác ngay sau khi thi tốt nghiệp trung học vì niềm vui được vĩnh biệt những “con đường thênh thang 8 thước” và những “con người mới XHCN”. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, cái đầu óc ‘mọt sách’ của tôi vẫn còn ngây thơ tin rằng, VN mình nghèo vì mình mới trải qua 2 cuộc chiến, rồi mình sẽ làm việc, mình sẽ, sẽ và sẽ…
Cuộc đời không hồng như suy nghĩ của cái tuổi ‘teen’ ấy! Niềm tin vào chính phủ cũng đã đội nón ra đi từ lâu rồi. Thế nên, phải kiên nhẫn lắm tôi mới ngồi xem hết vở kịch của VTV1. Sau đó tôi tìm đọc, từ Cải cách ruộng đất đến NVGP, đến Huế Mậu thân… Càng đọc tôi càng thấy ớn lạnh. Tôi không biết phải dùng từ gì để diễn tả những cảm xúc của mình. Words fail! Chao ôi, cứ theo cái gọi là “trí, phú, địa, hào…” ấy thì cha mẹ tôi được xếp đầu bảng những “kẻ” cần phải “đào tận gốc, trốc tận rễ!” Tôi nhớ ánh mắt kinh hoàng của một đồng nghiệp đáng tuổi mẹ tôi khi chị ấy nhắc đến cụm từ ‘Cải cách ruộng đất’. Tôi tự trách mình hờ hững với thời cuộc, tôi lội ngược dòng ký ức để tìm hiểu xem nguyên nhân nào đã biến tôi thành một Mackeno thứ thiệt như vậy. Tôi dần dần gia nhập dòng người vượt tường – bức tường im lặng vô hình. Từ Bauxite Vietnam tôi biết rằng nhiều người đang đấu tranh đòi trở lại Hiến pháp 1946, tôi – một kẻ chưa bao giờ thèm quan tâm đến hiến pháp – tò mò tìm đọc và chợt hiểu vì sao người ta đã từng tin vào Đảng. Cứ theo cái Hiến pháp ấy thì cái điều luật hai dấu vô cực dựng đứng (luật còng đôi) ấy là một điều luật vi hiến! Hiến pháp có thể sửa một cách tuỳ tiện thế sao? Những người như Nguyễn Hữu Đang… lại phải chịu đựng chừng ấy sao? Người mình lại ác với người mình đến thế sao? Tôi thật sự bị sốc.
“Tự vệ”! Tôi chỉ thấy lạnh buốt sống lưng! Nếu biết vẽ, tôi muốn vẽ một bức tranh trong đó ngài thủ tướng chỉ sợ ‘tính bản thiện’ và ‘sự thật’ ấy còn ‘hấp dẫn’ hơn cả ông Berlusconi trong bức hoạ khoả thân! Tôi hình dung ngài thủ tướng sợ sự thật ấy có 2 cánh rất to (để ‘hạ’ an toàn sau khi kết thúc nhiệm kỳ), ngài lại đang tay dâng vùng đất Tây nguyên cho người ‘lạ’, tay phát súng cho dân, miệng hô hào ‘xử lý thích hợp’. Phía sau ngài là Đảng ‘vinh quang’ với những khẩu hiệu đổi màu. Đó là cách mà tôi thấy sau những tuyên bố hùng hồn về “Tự vệ biển đảo”.
@Lê Tuấn Huy
“Theo tôi, “dân tộc hóa” ở đây đơn giản là tương phản và hóa giải chuyện “ý thức hệ hóa” trong vấn đề chủ quyền và lãnh thổ, là cái mà lẽ ra phạm trù “dân tộc” đã phải gắn liền từ ban đầu”
Tôi có cái mong ước là các vị học rộng, quảng bác sử dụng một thứ tiếng Việt giản dị hơn và dùng một cấu trúc câu cú tiếng Việt bớt bác học hơn để những người đọc “bình dân” như tôi nhanh chóng nắm bắt được ý tưởng mà quý vị muốn trình bày. Tôi nhớ ngày xưa học giả Nguyễn Hiến Lê là người mà gặp những câu cú như trên ông bực bội lắm, từ rất lâu có lần ông viết (tuy có hơi quá đáng): “Ai đọc Xuân Thu Nhã Tập mà không thù ghét thơ, ai đọc “Triết lý đã đi đến đâu” (của Trần Đức Thảo) mà không thâm oán triết lý”.
1. Theo tôi, “dân tộc hóa” ở đây đơn giản là tương phản và hóa giải chuỵên “ý thức hệ hóa” trong vấn đề chủ quyền và lãnh thổ, là cái mà lẽ ra phạm trù “dân tộc” đã phải gắn liền từ ban đầu.
2. Tôi nghĩ rằng chiến thuật tự vệ biển – vâng tôi đồng ý với anh HTS, đây chỉ là chiến thuật – chỉ là một bước đi vá víu và thăm dò. Cái dự án luật liên quan sắp được thông qua, có lẽ rồi sẽ phát huy tác dụng nhiều trên lĩnh vực đối nội hơn là đối ngoại. Tôi cũng cho rằng TQ sẽ nhanh chóng đối ứng lại chiến thuật vá víu này, mạnh mẽ hơn nhiều lần!
Thật ra tôi không tin Chính phủ Việt Nam không biết câu thần chú “Vừng ơi, mở ra” nhưng mà ngại sau khi đọc câu thần chú đó xong rồi thì..40 tên cướp hiện ra xé xác. Thế nên cứ loay hoay tự biên tự diễn mãi, 24 năm muộn mằn mà ông Trương Nhân Tuấn nhắc đến (có lẽ vẫn là ít chăng) là 24 năm “Để yên xem nó còn giở trò gì..”
Tuy rằng ba đề nghị của ông Trương Nhân Tuấn đã được rất nhiều người mong mỏi từ lâu, nhưng nhân đây tôi cũng bày tỏ sự hoàn toàn tán đồng 3 đề nghị đó, cầu mong nó được thực thi. Dù sao thì “Better Too Late Than Never.”
Quyền Cước Tộc Việt,
Đọc lịch sử Việt Nam mà cay xè đôi mắt.
Hãy dở từng trang sử mà xem. Tộc Việt luôn đánh chung một Quyền Cước với Trung Quốc. Hễ đánh cùng một Quyền Cước thì hoặc Tộc Việt thất bại trước Trung Quốc, hoặc cả hai bị ngoại bang xâm lăng.
Mãi thúc thủ trong Quyền Cước hủ bại, từng triều đại nối tiếp nhau đều phải nhu nhược tùng phục trước Trung Quốc.
Ngấm trong dòng máu. Tộc Việt chả sợ bất kỳ quốc gia khổng lồ về người nào, cũng chả sợ bất kỳ quốc gia súng đạn, hạt nhân nào.
Nhưng vào những khúc quanh lịch sử. Tộc Việt bị một dúm vua quan nghiện quyền lực, không bằng lái, chả có GPS, giành tay lái, lái thuyền Tộc Việt qua những chỗ gập gềnh như một Định Mệnh.
Tôi không hiểu chiến thuật “dân quân tự vệ biển”.Tình hình thực tế hiện nay là hạm đội Trung cộng đang hoành hành ở những vùng có tranh chấp. Nếu muốn bảo vệ lãnh hải thì đó là nhiệm vụ của hải quân.
Dân quân tự vệ biển làm sao chống lại được các chiến hạm của giặc? Những tháng năm qua, ngư dân Việt Nam bị Trung cộng bắt, có thể đã bị ngược đãi, có khi từng phải trả tiền chuộc, nhiều lúc mất cả tàu thuyền, lưới cá v.v.. Nhưng hầu như không nghe tin lính Trung cộng giết bà con đồng hương làm nghề chài lưới. Bây giờ, tổ chức dân quân tự vệ biển sẽ lâm trận khi cần thiết. Đương nhiên hải quân địch sẽ bắn trả. Sẽ có người chết, mà tỷ số tử vong phía nào cao hơn, ai cũng tiên đoán được. Không rõ ông Nguyễn Đăng Trừng, người đề nghị đưa dân quân tự vệ biển lên vị trí đầu tiên đẻ “giữ chủ quyền biển đảo” có dám xung phong tham gia lực lượng dân quân tự vệ biển không?
Tôi chỉ thắc mắc có thế thôi. Đừng hỏi ngược tôi thế thì phải làm gì bây giờ.
Cả hai sách lược : 1/ Dân tộc hóa cuộc đấu tranh và 2/ Quốc tế hóa vấn đề tranh chấp, đòi hỏi một sự đoàn kết toàn dân. Và dân đây không chỉ ngừng ở những đồng bào VN trong nước không thôi. Dân đây không thể không có hơn 3 triệu người Việt ở hải ngoại còn được chủ tịch Nguyễn Minh Triết gọi là “khúc ruột ngàn dậm” (= KRND). KRND này với những chuyên gia kỹ thuật, những nhân viên có chức năng đang làm việc trên nhiều quốc gia trên thế giới trong các ngành hành chánh quan trọng, với những người dân sinh sống và buôn bán bình thường ở khắp nơi trên thế giới cũng có thể đóng góp tiếng nói của họ một cách rất khả quan và tích cực.
Tuy nhiên, cái tuy nhiên chết người này, nhà cầm quyền CSVN có thể nhân cơ hội này xin lỗi một cách chính thức nhân dân miền Nam về những sai lầm của mình sau khi chiếm được miền Nam năm 1975. Và xin lỗi xong không đủ, phải có những hành động cụ thể để bày tỏ tấm lòng chân thật của nhà cầm quyền trong sự sám hối này (tuy cũng khá trễ đấy).
Làm được như vậy, sự đoàn kết của dân tộc VN sẽ rất mạnh. Sức mạnh này sẽ giúp dân tộc VN đứng vững trước cơn bão táp đến từ phía Bắc và đồng thời bảo vệ được bờ cõi mà ông cha ta đã khổ công gìn giữ.
Thật ra trước ông Lưu Văn Lợi, cách đây hơn một năm, bài này của Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông đã được VNN đăng:
http://tuanvietnam.net/2009-01-11-viet-nam-truoc-chu-truong-cua-trung-quoc-doi-voi-bien-dong
Trong hơn 60 năm qua kể từ khi Trung Quốc công bố bản đồ lưỡi bò khoanh 75% Biển Đông một cách mập mờ vào năm 1947 cho tới nay, Việt Nam chưa thực sự phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong việc bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông. Đây là một thiệt thòi tương tự như việc chiến đấu trong khi một tay bị buộc sau lưng.
Trong hoàn cảnh hiện nay, dân tộc Việt Nam cần phải vượt qua những cách biệt và Nhà nước cần phải tạo điều kiện để phát huy sức mạnh tổng thể của toàn dân trong việc đấu tranh chống lại những hành động “không thể chấp nhận được” từ phía Trung Quốc.
Bài này cũng làn một trong những bài báo đầu tiên trong nước trong nhiều năm vừa qua nói về tham vọng lưỡi bò của TQ và đăng bản đồ lưỡi bò:
Cùng với những đòi hỏi và những hành động đối với Hoàng Sa, Trường Sa, Trung Quốc còn thể hiện quyết tâm đòi hỏi phần lớn diện tích Biển Đông. Phần Biển Đông mà họ đòi hỏi nằm trong các đường gạch nối trên Biển Đông, được đưa ra đầu tiên vào năm 1947, có hình chữ U hay hình lưỡi bò và do vậy thường được gọi là “đường lưỡi bò” hay “ranh giới lưỡi bò”. Phần diện tích trong đường lưỡi bò này chiếm khoảng 75% diện tích trên Biển Đông, để lại khoảng 25% cho tất cả các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, và Việt Nam, tức mỗi nước được trung bình 5%.
QNCBĐ luôn có chủ trương quốc tế hoá và đa phương hoá tranh chấp Biển Đông. Tháng 3 năm 2009, VNN đã đăng bài của QNCBĐ kêu gọi đưa tranh chấp ra LHQ. Có lẽ đây là một trong những bài báo đầu tiên ở VN kêu gọi đưa tranh chấp ra LHQ:
http://tuanvietnam.net/2009-03-13-tranh-chap-bien-dong-va-vai-tro-cua-lien-hiep-quoc
(Trước đó, lên quan tới việc đưa tranh chấp ra LHQ, Đại sứ Lê Công Phụng còn nói kiểu, “Sống cạnh nước lớn thì phải biết cách mà sống”).
Còn việc đưa Hoàng Sa, Trường Sa ra Toà án Công lý Quốc tế thì tôi nghĩ không đơn giản.
Thứ nhất, nếu Trung Quốc không chịu ra Toà thì Toà sẽ không xử.
Thứ nhì, trước khi đòi ra toà, Việt Nam phải xác định trước khả năng thắng/thua của mình. Vì công hàm Phạm Văn Đồng, tôi không dám chắc 100% hay 90% hay 80%, là Việt Nam sẽ thắng. Tôi nhấn mạnh là cần nghiên cứu thêm.
Thứ ba, nếu VN thắng mà TQ lật lọng không tuân thủ với quyết định của Toà thì chẳng ai làm gì TQ được. Còn nếu TQ thắng mà VN không tuân thủ thì sẽ không ai bênh VN khi TQ dùng bạo lực.
Tóm lại, quan điểm của tôi là quốc tế hoá, nhưng cần nghiên cứu thêm trước khi đòi ra toà.
Sau đó tôi có viết bài về “Chủ quyền của Việt Nam tại bãi Tu Chính-Vũng Mây” vào tháng 4 năm 2009, mục đích nhằm khích tướng để các học giả Việt Nam lên tiếng. Bài này cũng có tác dụng mạnh, nếu không nói là thành công lớn. Số lượng học giả Việt Nam “nhập cuộc” phải nhìn nhận là rất đông đảo. Chỉ từ tháng 4 năm 2009 đến nay đã thấy nhiều buổi hội thảo về biển Đông được tổ chức trong nước. Nhiều bài viết, hay các đặc san về biển Đông đã thấy xuất hiện trước công chúng. Điều này trước nay chưa hề có.
Bác TNT giải thích hiện tượng những bài viết, hội thảo là do tác dụng, thành công của bài “Chủ quyền của Việt Nam tại bãi Tu Chính-Vũng Mây”, nhưng tôi nghĩ nguyên nhân thật là những biến cố như
TQ đuổi BP, Exxon,
Công ty dầu khí hải dương Trung Quốc tuyên bố dự án 30 tỷ USD
Các dự luật đường cơ sở của Philippines
Vụ đụng độ Impeccable
TQ tăng cường tuần tra
Vụ cấm đánh cá năm nay
Vụ thềm lục địa
Những biến cố này, chứ không phải bài của bác TNT, đánh thức VN phần nào rằng tình hình nguy kịch.
Đoạn trên làm tôi nhớ tới bài của bác TNT trên Talawas khen báo cáo thềm lục địa của VN, nói báo cáo đó là như bác ấy la làng những tháng qua gì đó, nhưng sự thật là báo cáo thềm lục địa của VN đã không tính hiệu lực của HS, TS, tức là ngược với như bác ấy la làng.
“Như thế lời phát biểu của ông Lợi có thể đang trở thành một sách lược chính thức của Việt Nam về biển Đông. Sách lược này, tạm gọi là sách lược Lưu Văn Lợi, gồm hai bước song song: 1/ Dân tộc hóa cuộc đấu tranh và 2/ Quốc tế hóa vấn đề tranh chấp.” (Trích lời tác giả Trương Nhân Tuấn)
Việc “Quốc tế hóa” vấn đề tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa là khá dễ hiểu và đã được nhiều người bàn luận từ trước đến nay. Chỉ có ý niệm Dân tộc hóa là cần phải làm sáng tỏ hơn vì đây là một điều tuy nghe cũng quen thuộc nhưng ý nghĩa chưa được xác định rõ.
Dân tộc hóa cuộc đấu tranh bảo vệ HS và TS là gì? Theo ngữ nghĩa, đó là làm cho cuộc đấu tranh này biến thành của TOÀN DÂN TỘC, được dân tộc (ở đây muốn nói là nhân dân VN trong hiện tại và rất có thể trong nhiều thế hệ tương lai nếu cuộc đấu tranh dai dẵng và không ngã ngũ) chấp thuận, đồng tình và ủng hộ cũng như thực hiện. Khi nói rằng phải dân tộc hóa cuộc đấu tranh, thì tự nó đã hàm ý là trước đây cuộc đấu tranh này CHƯA CÓ yếu tố dân tộc, hoặc là vì nó chỉ do ĐCSVN làm trong bí mật, không cho toàn dân biết, hoặc là nó chỉ có tính lẻ tẻ, không đồng bộ trong toàn dân (người đấu tranh, kẻ không đấu tranh), hoặc tệ hơn nữa là không có ai đấu tranh cả (kể luôn ĐCSVN).
Muốn “dân tộc hóa” cuộc đấu tranh bảo vệ HS, TS và Biển Đông thì trước tiên phải cho dân tộc BIẾT hiện HS, TS và Biển Đông đang có vấn đề gì? Ai đang đe dọa sự an nguy của TS, HS và Biển Đông của Tổ quốc ta? Có như vậy dân tộc mới nắm vững được vấn đề, dự trù những khó khăn cần vượt qua, để đem hết tâm trí, tài sản và xương máu (nếu cần) phục vụ cho mục tiêu cao quý là bảo vệ biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Nói cách khác, dân tộc cần có được đầy đủ những thông tin trung thực về HS, TS và Biển Đông. Quan trọng hơn nữa là ý chí bảo vệ HS, TS và Biển Đông của những người đang lãnh đạo đất nước, liệu họ có dám cùng toàn dân tộc hy sinh để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh hải hay không, hay họ chỉ lo bảo vệ sự sống còn và quyền lợi riêng của đảng họ?
Thực tế cho thấy là cho đến hôm nay, người dân trong nước đã không được ĐCSVN thông tin đầy đủ về những gì xảy ra ở Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông. Thậm chí ĐCSVN còn ngăn cấm không cho sinh viên trong nước biểu tình bày tỏ lòng yêu nước và ý chí muốn bảo vệ HS và TS vào cuối năm 2008 khi TQ đơn phương sáp nhập HS và TS của Tổ quốc ta vào huyện (thành phố?) TAM SA của Tàu. Trước hành vi sai trái này của TQ, ĐCSVN đã không có CÔNG HÀM chính thức phản đối mà chỉ phản đối bằng miệng qua loa qua lời phát ngôn viên Lê Dũng.
Như vậy, liệu hôm nay ĐCSVN có thay đổi thái độ hay không khi họ hô hào sách lược “Dân tộc hóa” cuộc đấu tranh bảo vệ HS và TS qua phát biểu của ông Lưu Văn Lợi cũng như qua các thảo luận ồn ào hiện nay tại Quốc hội CHXHCNVN?
Việc lập các nhóm “dân quân tự vệ biển” chỉ là một hành động có tính chiến thuật, chiến lược nằm trong sách lược lớn hơn là việc “dân tộc hóa” đấu tranh. Thành công của nó lệ thuộc vào nhiều yếu tố khác trong đó quan trọng nhất là ý chí bảo vệ đất nước.
Hy vọng rằng đây là bước ngoặt trong đối sách của ĐCSVN chứ không phải là trò tuyên truyền xoa dịu dư luận của Đảng sau mấy chục năm tụng 16 chữ vàng, nhắm mắt bịt tai trước nỗi khổ nhục và chết chóc đau thương của ngư dân VN vô tội.
“Việc đưa ra tòa án quốc tế để giải quyết tranh chấp thực ra là cốt lõi của sách lược Lưu Văn Lợi. Điều này ông đã ôm ấp từ lâu. Cuốn Cuộc tranh chấp Việt Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ông in năm 1995,…
Đáng tiếc là hơn 24 năm sau sách lược này mới bắt đầu đưa vào áp dụng. 24 năm đã hoang phí, mà thời gian là tài nguyên quí giá nhất.” (Trích)
Hình như một trong 2 con số 1995 và 24 là sai rồi ạ.
Cảm ơn chú về một bài viết rất hữu ích!