Greg Torode – Hà Nội mất, Bắc Kinh được
01/11/2009 | 11:00 chiều | 34 Comments
Category: Chính trị - Xã hội, Quan hệ Việt – Trung
Thẻ: ASEAN > Biển Đông
Phan Đằng Giang dịch
Căng thẳng trên vùng biển Nam Hải gia tăng, Bắc Kinh có vẻ như đã giành thắng lợi ngoại giao khi biết chắc rằng nhóm nước ASEAN có vẻ như sẽ không bị lôi kéo vào cuộc tranh chấp về lãnh thổ trong thời gian gần.
Các nhà ngoại giao của Bắc Kinh, cả công khai lẫn trong chỗ riêng tư, đều nói rằng tranh chấp phải được giải quyết giữa Trung Quốc và từng nước riêng biệt chứ không phải với 10 nước trong hiệp hội ASEAN – một động thái mà các nhà phân tích cho rằng sẽ củng cố một cách hữu hiệu địa vị của Bắc Kinh, nhất là với tiềm lực kinh tế và quân sự đang lên của họ.
Tranh chấp trên biển Nam Hải đã không được đưa vào chương trình nghị sự tại cuộc họp cấp cao hàng năm của các nhà lãnh đạo ASEAN diễn ra ở Thái Lan vào tuần trước, mà chỉ xuất hiện trong một phiên thảo luận không chính thức, một nhà ngoại giao cho biết. “Bắc Kinh không muốn đưa vấn đề ra thảo luận và người ta đã không đưa”, một vị đại diện có tham gia cuộc họp nói. “Cứ như cuộc họp tuần trước thì không ai nghĩ rằng tất cả chúng ta đều lo lắng về khả năng xảy ra xung đột… ASEAN thường chui đầu xuống cát như thế. ASEAN bao giờ cũng làm theo ý Bắc Kinh”.
Tiến sĩ Jusuf Wanandi, một nhà nghiên cứu Indonesia, nói rằng nếu các nước ASEAN không tìm được động cơ trong việc giải quyết vấn đề đó với Trung Quốc thì họ sẽ đánh mất vai trò trong việc làm giảm thiểu căng thẳng trong tương lai.
“Tôi đã nói nhiều lần rằng nếu ASEAN không đoàn kết thì họ sẽ bị bị xử trí từng nước một một cách riêng rẽ. Nam Hải chứng tỏ rằng điều đó bắt đầu xảy ra rồi”, Wanandi, chuyên viên cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Indonesia, nói. “ASEAN đã đánh mất cơ hội… họ phải chứng tỏ tình đoàn kết hơn nữa trong khi giải quyết các vấn đề với Trung Quốc”.
Năm 2002, ASEAN và Trung Quốc đã kí tuyên bố về biển Nam Hải được dư luận rộng rãi hoan nghênh như là bước khởi đầu quan trọng trong việc làm giảm thiểu căng thăng và tạo cơ sở cho những cuộc đối thoại trong tương lai. Bên cạnh lời kêu gọi kiềm chế và bảo đảm tự do đi lại trên những tuyến hàng hải quan trọng nhất, tuyên bố còn kêu gọi tổ chức những cuộc đối thoại trong tương lai để thiết lập chuẩn mực hành xử mang tính pháp lí.
Càng ngày càng có nhiều người nghi ngờ về khả năng tổ chức những cuộc đối thoại như thế, mặc dù Trung Quốc đã gia tăng những mối liên hệ về kinh tế và chính trị với các nước ASEAN trên những mặt trận khác. Trong khi các quan chức ở Bắc Kinh tỏ ra thận trọng trước những tiếng nói ủng hộ bản tuyên bố và khẳng định rằng họ muốn đối thoại, nhưng họ cũng cho thấy rõ giới hạn của ASEAN. “Thảo luận vấn đề tranh chấp lãnh thổ nhạy cảm trong khuôn khổ hợp tác Trung Quốc và ASEAN sẽ chẳng mang lại lợi ích gì”, bà tiến sĩ Xue Hanqin, đại sứ Trung Quốc tại ASEAN, nói trước khi diễn ra những cuộc gặp mặt hồi tuần trước để giải thích vì sao tranh chấp lãnh hãi bị đưa ra khỏi chương trình nghị sự. “Hội nghị trong ASEAN là để thảo luận khuôn khổ hợp tác chứ không phải cãi nhau”, bà này nói.
Các cuộc tranh cãi về lãnh thổ chỉ bao gồm Trung Quốc và các nước ven biển chứ không phải toàn bộ ASEAN, bà nói thêm.
Các đường hàng hải quốc tế đi ngang qua quần đảo Spratly (Trường Sa). Trung Quốc và Việt Nam coi quần đảo này hoàn toàn thuộc quyền kiểm soát của mình, còn Philippines, Malaysia and Brunei tuyên bố chủ quyền trên một số hòn đảo, Đài Loan tuyên bố có chủ quyền trên vài hòn đảo nhỏ.
Trung Quốc và Việt Nam còn tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Paracels (Hoàng Sa) ở phía Bắc, hiện do Trung Quốc chiếm giữ.
Các quan chức quân sự trong khu vực cảnh báo rằng hoạt động quân sự trên biển của Trung Quốc, Việt Nam và Mĩ đang gia tăng, thể hiện ở việc Trung Quốc gia tăng tiềm lực quân sự và Việt Nam muốn duy trì căn cứ trên 20 hòn đảo nhỏ mà họ đang giữ. Hoa Kì đặc biệt quan tâm theo dõi căn cứ tàu ngầm của Trung Quốc trên đảo Hải Nam.
Trong khi khẳng định chủ quyền trên phần lớn vùng biển Nam Hải, Trung Quốc cũng cảnh cáo các công ty ngoại quốc thực hiện các hợp đồng khai thác dầu với Việt Nam và Philippines. Trong khi đó, Washington đã công khai phản đối những lời đe doạ chống lại các công ty của mình trong cái mà họ gọi là những việc làm hợp pháp.
Các nhà nghiên cứu chiến lược, chuyên gia quân sự và blogger Trung Quốc nhấn mạnh vai trò quan trọng của các mỏ dầu và tiềm năng quân sự trên vùng biển này, nói lên những lo lắng trước sự hiện diện của Việt Nam.
Tiến sĩ Ian Storey, chuyên viên tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore, nói rằng rõ ràng là Trung Quốc đã tỏ ra cứng rắn hơn khi Việt Nam nắm giữ chức Chủ tịch Hiệp hội ASEAN vào năm tới.
“Trên lời nói thì ai cũng tỏ ra trung thành với bản tuyên bố, nhưng trên thực tế, tôi sợ rằng triển vọng của các cuộc thảo luận trong tương lai có thể đã chết rồi”, ông này nói như thế. Bao giờ cũng có mâu thuẫn, khi Trung Quốc nói về giải pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế, nhưng sau đó lại hành động nhằm chống lại việc quốc tế hoá hay khu vực hoá vấn đề… Hiện nay chúng ta càng thấy rõ điều này.
“Giải quyết vấn đề với từng nước một đưa [Trung Quốc] vào vị thế thuận lợi hơn nhiều… Mĩ bao giờ cũng thích [làm việc] theo cách đó – đấy là nền ngoại giao siêu cường căn bản của họ và chúng ta thấy Trung Quốc cũng đang làm như thế.”
Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam ở Học viện Quốc phòng Australia, nói rằng Hà Nội mất nhiều khi ASEAN không còn giữ quan điểm cứng rắn về vấn đề này nữa. “Tôi không nghĩ là sẽ có chuẩn mực hành xử… Quan điểm của tôi là Trung Quốc ngày càng tự tin hơn và muốn ra tay trước và muốn chặn đứng mọi nỗ lực nhằm quốc tế hoá tranh chấp trên vùng biển Nam Hải. Tôi nghĩ là căng thẳng sẽ còn tiếp tục một thời gian nữa.”
Tranh chấp trên biển Nam Hải là giữa Trung Quốc và Việt Nam và ở mức độ ít căng thẳng hơn là với Philippines. Phần lớn các nước ASEAN chẳng có lợi lộc gì và vì vậy mà không muốn bị lôi kéo vào. Đa số còn không muốn có tranh chấp nữa kia.
Nguồn: South China Morning 31/10/2009. Tên bài do talawas đặt lại.
Bản tiếng Việt © 2009 Phan Đằng Giang
Bản tiếng Việt © 2009 talawas blog
Bác Hoàng Trường Sa,
Câu “Từ Vịnh Bắc Bộ tới Hoàng Sa” là cho những người có thể hiểu ẩn ý của nó.
Cho những người không hiểu ẩn ý của câu đó thì chúng tôi có viết:
Hơn lúc nào hết, người dân và Quốc hội cần quan tâm về cuộc đàm phán phân định và trao đổi hợp tác ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, cần tìm hiểu thêm về sự công bằng cho đất nước và để biết rõ về những lựa chọn khó khăn và thử thách đất nước đang đối diện để đạt được sự công bằng ấy. Ý chí và kiến thức của mỗi người sẽ làm nên sức mạnh từ toàn dân và điều này sẽ giúp Việt Nam lựa chọn và đối phó với những thử thách nhằm bảo toàn chủ quyền của đất nước mà tiền nhân đã để lại.
Bác cũng không hiểu nữa thì tôi đành phải chịu thôi.
Về Vịnh Bắc Bộ thì nó cũng không phải như bác hiểu đâu (về cả hiệp định đó và về tôi nói gì).
-> Dương Danh Huy
Gạt vấn đề “lưỡi bò” sang một bên, tôi nghĩ là chúng ta ở đây đồng ý nhiều hơn là bất đồng, ngay cả ở chuyện cần đưa vấn đề ra trước công lý và quốc tế hóa nó dù rằng đã rất trễ. Rất trễ. Điều này tự thân nó đặt ra vấn đề trách nhiệm của ĐCSVN. Quy trách nhiệm để làm sáng tỏ lỗi lầm và để ngăn ngừa các mất mát lớn hơn từ “nỗi sơ TQ” và “thiếu một chính sách và lập trường” về vấn đề này như ông đã chỉ ra. Quy trách nhiệm để mọi người cùng thấy rằng đây không phải là vấn đề riêng giữa hai ĐCSCN và ĐCSTQ mà là một vấn đề quốc gia hệ trọng đòi hỏi sự tham dự của toàn dân, và đặc biệt là các thành phần ưu tú của dân tộc.
Tôi không thấy lập trường “Hoàng Sa là của Việt Nam” có gì sai trái. Trái lại, ở đây có một sự đồng thuận rõ ràng. Vấn đề Trường Sa phức tạp hơn. Tuy nhiên, nếu đem vấn đề ra bàn thảo công khai, một đồng thuận nào đó trên một số điểm cơ bản cho lập trường của mình vẫn có thể đạt được.
“Cái tựa kia, “Từ Vịnh Bắc Bộ tới Hoàng Sa”, nghĩa đen là nghĩa địa lý, nhưng có thể có nghĩa bóng là dân tộc và Quốc hội Việt Nam cần biết và bàn về cuộc đàm phán này trước khi nó kết thúc nhiều hơn như trong trường hợp VBB.
Tôi cho rằng những vấn đề đó quan trọng hơn, thiết thực hơn và lý thú hơn những vấn đề trong nhận thức của bác (nào là “chủ trương bí mật của ĐCSVN hiện nay”, nào là Dương Danh Huy ủng hộ chủ trương bí mật đó).” (Trích ý kiến bác Dương Danh Huy)
Bác Huy viết bài theo kiểu “thần chú” như rứa mà lại lớn tiếng “trách móc” người khác là “hiểu bài của tui kém quá”. Tui thấy “tội nghiệp” cho bác quá, bác Huy ơi.
Đường đường là một trí thức, sống tại xứ Ăng Lê, hà cớ gì mà không dám nói THẲNG ra những gì mình muốn nói. Bác viết bài nghiên cứu về Biển Đông chứ đâu có phải viết truyện giải trí hay viết văn (như nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trong cuốn Tướng hồi hưu chẳng hạn) mà phải úp úp mở mở như rứa, hỉ?
Bác dùng cái tựa “Từ Vịnh Bắc Bộ tới Hoàng Sa” mà lại gắn cho nó nào là nghĩa đen, nghĩa bóng v.v…làm tui giật mình muốn ngất xỉu luôn, bác Huy ơi. Nhất là nhớ lại cái dạo trước bác Huy khăng khăng nói là phân chia Vịnh Bắc Bộ theo hiệp ước ĐCSVN ký với TQ năm 2000 là CÔNG BẰNG hợp lý. Nếu cái trò lén lút ký dâng cho Tàu gần 11 ngàn kilômét vuông ở VBB là công bằng hợp lý, thì tại sao việc ký phân định vùng biển ngoài cửa VBB lại không giống như vậy, hả bác Huy?
Nếu bác Huy và bác Lê Minh Phiếu quả thực muốn nói những điều trong đoạn trích trên đây thì cứ nói ra thẳng cho bàn dân thiên hạ và ĐCSVN nghe đi. Đừng quá sợ đảng một cách đáng buồn như vậy. Mình là trí thức phải làm gương cho người khác về cái quyền tự do ngôn luận của một công dân, bác Huy ạ. Nếu muốn cho đất nước được dân chủ tự do, mọi người nên vứt bỏ cái nỗi sợ phi lý này. Đây là lời khuyên thành thật của tui, mong bác không phiền lòng.
Bác Hoàng Trường Sa
Nghi ngờ của tôi về “bí mật” này của ĐCSVN có từ ngày tôi đọc các phát biểu của ông cựu Thứ trưởng Bộ Ngoại giao CHXHCNVN Vũ Dũng về cái gọi là “tiến triển” trong thương thuyết giữa VN và TQ về vùng ngoài cửa VBB. Sau đó không lâu, có lẽ do tình cờ có sự trùng hợp ngẫu nhiên, tôi thấy bài đầu tiên của bác Huy viết về đề nghị phân định vùng ngoài cửa VBB (bao gồm vùng biển quanh Hoàng Sa) theo phương cách nói trên.
Thật ra bác đã hiểu rất kém về các bài viết của tôi và Lê Minh Phiếu.
Một trong những mục đích của các bài viết đó không phải để nói Việt Nam nên chấp nhận chia theo đường trung tuyến không tính Hoàng Sa như bác tưởng mà để nói Việt Nam không nên chấp nhận một thoả thuận nào tương đương với được ít hơn đường trung tuyến đó.
Nội cái tựa “Sóng ngầm dưới mặt biển hữu nghị” đáng lẽ cũng đủ làm cho người đọc hiểu rằng các tác giả không tin tưởng lắm vào những tuyên bố chung tốt đẹp của Việt Nam và Trung Quốc rồi:
http://www.minhbien.org/?p=490
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2008/11/081117_eastseaargument.shtml
Một trong những mục đích khác là kêu gọi người VN nói chung và trí thức Việt Nam nói riêng quan tâm về một cuộc đàm phán ranh giới trước khi cuộc đàm phán đó kết thúc. Nếu có nhiều người Việt Nam phân tích với nhiều quan điểm khác nhau tranh chấp, giải pháp trong vùng biển từ Vịnh Bắc Bộ tới Hoàng Sa thì có phải hay không?
Cái tựa kia, “Từ Vịnh Bắc Bộ tới Hoàng Sa”, nghĩa đen là nghĩa địa lý, nhưng có thể có nghĩa bóng là dân tộc và Quốc hội Việt Nam cần biết và bàn về cuộc đàm phán này trước khi nó kết thúc nhiều hơn như trong trường hợp VBB.
Tôi cho rằng những vấn đề đó quan trọng hơn, thiết thực hơn và lý thú hơn những vấn đề trong nhận thức của bác (nào là “chủ trương bí mật của ĐCSVN hiện nay”, nào là Dương Danh Huy ủng hộ chủ trương bí mật đó).
[…] viết “Hà Nội mất, Bắc Kinh được” của Greg Torode nội dung một phần cho thấy sự phá sản của ngoại giao Việt Nam. […]
Bác Dương Danh Huy,
Tôi không đến nỗi lẫn lộn như bác Huy nghĩ đâu. Tuy nhiên, tôi không chia sẻ với lập trường của bác Huy là cứ phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ với TQ theo nguyên tắc chia đều theo đường trung tuyến giữa bờ biển VN và bờ biển đảo Hải Nam của TQ (bỏ qua một bên quần đảo Hoàng Sa đang hoàn toàn do TQ chiếm đóng mà nhà cầm quyền VN không có công hàm chính thức phản đối). Làm như bác Huy nói chính là cái mà tôi tin là chủ trương bí mật của ĐCSVN hiện nay (theo phương châm “bỏ đảo giữ biển” ). Nghi ngờ của tôi về “bí mật” này của ĐCSVN có từ ngày tôi đọc các phát biểu của ông cựu Thứ trưởng Bộ Ngoại giao CHXHCNVN Vũ Dũng về cái gọi là “tiến triển” trong thương thuyết giữa VN và TQ về vùng ngoài cửa VBB. Sau đó không lâu, có lẽ do tình cờ có sự trùng hợp ngẫu nhiên, tôi thấy bài đầu tiên của bác Huy viết về đề nghị phân định vùng ngoài cửa VBB (bao gồm vùng biển quanh Hoàng Sa) theo phương cách nói trên.
Hai bài báo bác đưa links tôi đã đọc từ lâu và đương nhiên tôi hiểu rõ bác muốn nói gì. Chỉ có điều là rất tiếc tôi không chia sẻ với bác và bác Phiếu thôi. Chủ trương của tôi là không nhượng bộ TQ vì cái công hàm quái quỷ Phạm Văn Đồng mà cắn răng từ bỏ quần đảo Hoàng Sa thiêng liêng của Tổ quốc ta bằng cách im lặng từ bỏ nó theo kiểu của ĐCSVN hiện nay qua các cuộc thương thuyết về biển ngoài cửa VBB (tức là, nói như Tiến sĩ Stein Tonnesson, thừa nhận de facto chủ quyền của TQ ở HS). Kính bác.
Baì của Giáp Văn Dương, một thành viên QNCBĐ
http://tuanvietnam.net/khi-trung-quoc-tang-cuong-tranh-chap-bien-dong
Phe ngoại giao VN đã vay mượn “sáng kiến” của người khác (ở đây là của Phi), dĩ nhiên không thể sử dụng được cho tình trạng cá biệt của VN, do đó nếu không (hay chưa) đem lại thiệt hai cho VN thì cũng đã đặt VN vào một tình trạng thật bi đát!
Trước đây bác Trương Nhân Tuấn nói đại rằng Mark Valencia là người Phi để phủ định giải pháp Hoàng Sa, Trường Sa được 12 hải lý, được chứng minh trên talawas là sai. Bây giờ bác TNT chuyển sang nói giải pháp Hoàng Sa, Trường Sa được 12 hải lý là sáng kiến của Phi, nhưng cũng vẫn sai.
Bác TNT lại nói
Tháng 8 năm 2009, công hàm của Phi phản đối hồ sơ VN nộp Ủy Ban Thềm Lục Địa của LHQ, là nhát dao trí mạng thứ hai mà Phi dành cho VN.
Thật ra cơ sở của phản đối của Phi, ít nhất là đối với báo cáo thềm lục địa Bắc của Việt Nam, là các đảo Trường Sa được hơn 12 hải lý rất nhiều. Cơ sở đó trùng với quan điểm của bác TNT. Cái mà bác TNT gọi là nhát dao trí mạng cho Việt Nam, cơ sở của nó trùng với quan điểm của bác TNT.
Giữa động thái của Malaysia và Philippines, tôi cho rằng động thái của Malaysia (nộp báo cáo chung với Việt Nam, không đòi 100% hiệu lực EEZ cho các đảo Trường Sa, không lấy tranh chấp đảo làm cản trở) có lợi cho Việt Nam hơn động thái của Philippines (phản đối các báo cáo của Việt Nam dựa trên cơ sở tranh chấp đảo và các đảo được hơn 12 HL rất nhiều). Ngoài ra, nếu, thay vì phản đối, Philippines cũng có động thái như Malaysia thì sẽ có lợi cho Việt Nam, Malaysia và Philippines, và có hại cho Trung Quốc hơn nhiều.
Hai động thái khác nhau này cho thấy nếu các nước ĐNA trong tranh chấp có lập trường như bác TNT cổ động (đòi thật nhiều EEZ co các đảo, lấy tranh chấp đảo làm cản trở) thì có hại cho VN, có lợi cho TQ.
Nếu việc báo cáo thềm lục địa của Việt Nam còn có thất bại thì thất bại đó là chưa thuyết phục được Philippines bỏ quan điểm như bác TNT cổ động chứ không phải ở đã thuyết phục được Malaysia theo quan điểm các đảo Trường Sa chỉ có vùng đặc quyền kinh tế giới hạn, không lấy tranh chấp đảo làm cản trở bên ngoài quới hạn đó.
Lẽ ra bác TNT phải cám ơn Philippines đã phản đối VN và cho VN cái mà bác gọi là nhát dao thí mạng.
Bác Hoàng Trường Sa,
Tôi thấy bác đã lẫn lộn nhiều thứ, thí dụ như:
1. Lẫn lộn trích Stein Tonnesson với trích tôi (bất cứ độc giả nào theo link BBC cũng có thể thấy được câu bác trích là câu của Tonnesson chứ không phải của tôi).
2. Lẫn lộn quan điểm của Tonnesson với quan điểm của tôi (quan điểm của tôi và Tonnesson giống nhau ở điểm giới hạn vùng biển thuộc HS, TS, nhưng khác nhau ở chủ quyền đối với đảo).
3. Lẫn lộn quan điểm của tôi với quan điểm nào đó mà bác cho là quan điểm của ĐCSVN. Trên thực tế, có thể có 3 quan điểm khác nhau: quan điểm của tôi, quan điểm của ĐCSVN, và quan điểm mà bác cho là của ĐCSVN.
4. Lẫn lộn chủ quyền đối với đảo và phạm vi biển thuộc về đảo. Theo tôi, đây là 2 vấn đề khác nhau. Nếu cho rằng một đảo HSTS có thể được 12 hay 24 hay 36 hay 48 hay 60 hay 120 HL thì đều không có nghĩa công nhận là HSTS thuộc về nước khác.
Nếu đòi rằng đảo HS, TS phải được thật nhiều biển là có lợi cho Việt Nam thì chưa chắc là Trung Đế Quốc đã đòi như thế. Trên thực tế, ranh giới lưỡi bò của Trung Đế Quốc tương đương với hơn 100% hiệu lực cho các đảo HSTS, tức là Trung Đế Quốc đòi là HS, TS phải được thật nhiều biển.
Việc bác muốn các đảo HS, TS phải được thật nhiều biển có thể có nhiều lý do, nhưng chưa chắc là muốn như vậy là có lợi cho Việt Nam. Tất nhiên tôi không nói rằng ẩn nấp đằng sau quan điểm của bác là chủ trương chiếm thật nhiều Biển Đông của Trung Đế Quốc.
Liên quan tới Hoàng Sa thì Lê Minh Phiếu và tôi có viết một bài ở đây
http://www.seasfoundation.org/articles/from-members/80-t-vnh-bc-b-ti-hoang-sa
Tôi có tóm tắt một số ý ở đây
http://www.minhbien.org/?p=1350#comment-17624
Tôi nghĩ Hoàng Sa và vùng biển liên quan là một bài toán khó cho Việt Nam mà trí thức Việt Nam cần có trả lời.
Trở lại bài chủ ở đây, nội dung của nó đã một phần cho thấy sự phá sản của ngoại giao Việt Nam. Sự phá sản này cần có nhiều giải thích, nhưng một phần tôi đã trình bày qua các bài viết trước đây: Phía ngoại giao VN đã thiếu một sách lược dài hạn đúng đắn, vì đã không có tư duy Việt Nam, mà chỉ có những chiến thuật tạm bợ, vay mượn xứ người. Tôi đã cảnh báo VN bị Phi Luật Tân “đâm sau lưng” từ năm 2004. Tháng 8 năm 2009, công hàm của Phi phản đối hồ sơ VN nộp Ủy Ban Thềm Lục Địa của LHQ, là nhát dao trí mạng thứ hai mà Phi dành cho VN. Nhát dao thứ nhứt là Phi xé lẻ “đi đêm” với TQ để khai thác biển Đông (không VN) năm 2004.
Phe ngoại giao VN đã vay mượn “sáng kiến” của người khác (ở đây là của Phi), dĩ nhiên không thể sử dụng được cho tình trạng cá biệt của VN, do đó nếu không (hay chưa) đem lại thiệt hai cho VN thì cũng đã đặt VN vào một tình trạng thật bi đát!
Trong tiểu luận về “Trí thức VN” mà tôi đang viết, tôi có viết là xã hội VN có truyền thống trọng văn nho và khinh võ biền. Vì có liên quan đến tình hình hôm nay, nên trích ra một vài ý. Theo tôi, quan niệm (hay lối đối xử) cho rằng tầng lớp kẻ sĩ đứng đầu xã hội, là trung gian giữa vua với thứ dân (nhưng thật ra là cánh tay của lớp có quyền lực để… bóp cổ tầng lớp bị trị là người dân). Đây là một quan niệm (hay lối đối xử) rất bất công, vì sự đóng góp của “kẻ sĩ” cho đất nước không thể sánh với phe “võ biền” (cũng không thể sánh với đóng góp của tầng lớp nông dân, thậm chí cũng không bằng sự đóng góp của phụ nữ). Đọc lại lịch sử, phần đóng góp của phe võ biền với các công trạng giữ nước và mở nước đã chiếm hầu hết các chương sách. Trong khi đó sự đóng góp của tầng lớp “kẻ sĩ”, tức hôm nay gọi là lớp trí thức, thì có thể nói là không có gì so với chiều dài 4.000 năm (ngoại lệ lẻ tẻ vài án văn chương). Dĩ nhiên, làm sao có được các tác phẩm tư tưởng lớn khi kẻ sĩ chỉ “nhai lại” tư tưởng của người khác (Tàu) đã làm ra từ ngàn năm trước? Phe văn nho VN chỉ giỏi cái mẹo vặt, tài vặt… như việc đi ba bước đã phun ra được một bài thơ, ra (hay đáp) một câu đối bí hiểm… chỉ giỏi làm hài lòng chủ (nhà vua), nhưng ích lợi gì cho đất nước và người dân ở các thứ này? Rốt cục lịch sử kẻ sĩ VN là lịch sử của sự đạo văn, nhai lại tư tưởng của người xưa. Lâu ngày não trạng vặt cũng như thói “nhai lại” đã bắt rễ trong tầng lớp trí thức VN. Phe ngoại giao (và giáo dục) ở hiện nay là điển hình hậu duệ của tầng lớp trí thức theo lối này.
Trở lại bài chủ, lời phát biểu của Giáo sư Carl Thayer cần thêm sự lưu ý của mọi người, nhưng thể hiện sự phá sản của phe ngoại giao VN:
“Tôi không nghĩ là sẽ có chuẩn mực hành xử… Quan điểm của tôi là Trung Quốc ngày càng tự tin hơn và muốn ra tay trước và muốn chặn đứng mọi nỗ lực nhằm quốc tế hoá tranh chấp trên vùng biển Nam Hải. Tôi nghĩ là căng thẳng sẽ còn tiếp tục một thời gian nữa.”
Theo ông này thì không có nguyên tắc hành sử nào cho biển Đông. Điều này rõ ràng là một thất bại bi đát của phe ngoại giao (phe văn).
Do đó phe võ, tức phe quân đội, đang nhập cuộc. Sự việc Quốc hội đang bàn thảo về dự luật “dân quân tự vệ”, với sự lên tiếng trước công chúng của các đại biểu Nguyễn Đăng Trừng, Bế Xuân Trường và đặc biệt của tướng Lê Quang Bình, Chủ nhiệm UB Quốc phòng – An ninh của Quốc hội. Nhiều dấu hiệu cho thấy thẩm quyền từ phe “văn” đang chuyển cho phe “võ” (trong vấn đề HS, TS và biển Đông).
Tôi thấy có nhiều tiếng nói phê bình dự luật về “dân quân tự vệ”, nhưng thực ra việc này không hề mâu thuẫn với Hiến Pháp và luật Quốc Phòng của VN. Truyền thống VN luôn là “dân, quân quốc phòng”, dự luật này do đó cũng không mâu thuẫn với truyền thống, lịch sử.
Theo tôi, việc gì cũng cần thời gian. Nên để cho phe võ thời gian (và phương tiện) cần thiết để thể hiện tài năng. Và tôi cũng nghĩ, từ nay, phe văn ở trong nước, nên khiêm nhượng lại. Quí vị đã đưa đất nước vào bế tắc như ngày hôm nay là quá đủ.
Xin lỗi bác Huy và quý vị độc giả. Trong phần dịch đoạn trích từ bài của Tiến sĩ Stein Tonnesson, tôi đánh máy thiếu mất đọan quan trọng “Hoàng Sa đang ở dưới sự kiểm sóat hữu hiệu của chỉ một nước và chỉ có một nước khác đang tuyên bố đòi chủ quyền”. Xin được thêm vào dưới đây và thành thật cám ơn quý vị:
“Điều này cũng cho thấy ở đây là có thể bỏ qua một bên tranh chấp chủ quyền giữa các nước Phi Luật Tân, Trung Quốc và Đài Loan, và tìm một phương cách để cùng cộng tác với nhau để bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên cá, và phân định hải phận. Hoàng Sa đang ở dưới sự kiểm sóat hữu hiệu của chỉ một nước và chỉ có một nước khác đang tuyên bố đòi chủ quyền. Do đó, [đối với VN – tôi, HTS, thêm vào cho rõ nghĩa], bỏ qua một bên việc tranh chấp chủ quyền sẽ không mang đến bao nhiêu lợi ích. Điều đó chỉ có nghĩa là Việt Nam đã thừa nhận DE FACTO việc chiếm đóng [Hoàng Sa] của Trung Quốc”. (Stein Tonnesson).
Bác Dương Danh Huy,
1. Bác Huy viết (nguyên văn) “Giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng cách giới hạn vùng biển thuộc các đảo để giới hạn vùng tranh chấp (*), như một số tác giả Quỹ Nghiên cứu Biển Đông cổ động: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/11/091103_tonnensson_inv.shtml
…” trước khi ghi phần trích mà bác bảo là ý kiến của Tiến sĩ Stein Tonnesson (nhưng không phải là của bác). Nhưng ai theo dõi thường xuyên trên blog talawas cũng rõ bác Huy là người công khai và mạnh mẽ nhất trong nhóm Nghiên cứu Biển Đông đã có CỔ ĐỘNG điều mà bác đã trích.
Xin lỗi bác Huy, tôi thành thật không nghĩ là tôi đã “thiếu khách quan” hay “chụp mũ” bác khi cho phần trích dẫn này là ý kiến của bác Huy như bác nói trong mục 3.
5. Bác Huy viết: “Tóm lại, quan điểm của tôi là (1) không bỏ chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa và (2) chủ trương giới hạn vùng biển thuộc Hoàng Sa, Trường Sa để giới hạn vùng tranh chấp. Logic rõ ràng là (2) không có nghĩa bỏ chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Đừng lầm lẫn hay cố ý chụp mũ rằng là (2) có nghĩa bỏ chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, hay có ĐCSVN ẩn nấp đằng sau.”
Bác Huy nói là “không bỏ chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa” nhưng lại chủ trương ĐẶT HOÀNG SA QUA MỘT BÊN (coi như không có HS, TS ở Biển Đông) mà chỉ chia vùng biển quanh Hoàng Sa theo đường trung tuyến, TRONG KHI TQ ĐANG XÂM LĂNG VÀ CHIẾM ĐÓNG hoàn toàn Hoàng Sa và ĐCSVN tuyệt nhiên không lên tiếng phản đối bằng CÔNG HÀM chính thức (chỉ đánh giặc mồm qua loa qua cửa miệng lãi nhãi của ông phát ngôn Lê Dũng) thì thử hỏi không từ bỏ chủ quyền ở chỗ nào? Nếu quả thực ĐCSVN không từ bỏ chủ quyền ở HS (và có thể cả TS) thì tôi dám nói ĐCSVN không bao giờ thiếu ngôn từ trong việc phản đối TQ. (Tuyên truyền là nghề của “chàng” nhưng sao “chàng” lại im thin thít thế này? Chả bù với những công hàm phản đối đế quốc Mỹ của “chàng” trước 1975, và phản đối “bành trướng Trung Quốc” của “chàng” thời ông Lê Duẩn).
Ngay cả Tiến sĩ Stein Tonnesson, khi bàn về việc BỎ QUA MỘT BÊN HOÀNG SA, cũng đã viết như sau (xem bài đã trích của Stein Tonnesson):
“This makes it possible also here to shelve the sovereignty dispute between the
Philippines, China and Taiwan, and find a way to cooperate in protecting the environment, managing fish stocks, and delimitating maritime zones. The Paracels are under the effective control of only one state and is claimed only by one other state. Not much will therefore be gained from shelving the sovereignty dispute. This would just mean a de facto recognition by Vietnam of the Chinese occupation. ”
(Tạm dịch :
“Điều này cũng cho thấy ở đây là có thể bỏ qua một bên tranh chấp chủ quyền giữa các nước Phi Luật Tân, Trung Quốc và Đài Loan, và tìm một phương cách để cùng cộng tác với nhau để bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên cá, và phân định hải phận. Do đó, [đối với VN – tôi, HTS, thêm vào cho rõ nghĩa], bỏ qua một bên việc tranh chấp chủ quyền sẽ không mang đến bao nhiêu lợi ích. Điều đó chỉ có nghĩa là Việt Nam đã thừa nhận DE FACTO việc chiếm đóng [Hoàng Sa] của Trung Quốc”. (Stein Tonnesson).
Chẳng lẽ nào một người trí thức có kiến văn thâm hậu như bác Huy lại nhìn nhận điều này khác chăng?
Bác Trương Nhân Tuấn
Tôi thấy là một số các học giả nước ngoài có nghiên cứu về biển Đông (mà các học giả VN thường trích dẫn các ý kiến), phần lớn đã từng là “cố vấn” cho các nước Phi và Mã Lai. Dĩ nhiên, khi phía VN sử dụng lại kế hoạch của các học giả này, trước khi VN có lợi thì các nước kia đã có lợi trước !
Trước đây thì bác thấy là Mark Valencia là người Philippines cho nên ông ấy có quan điểm có lợi cho Phi.
Lý luận từ một mệnh đề như
một số các học giả nước ngoài có nghiên cứu về biển Đông (mà các học giả VN thường trích dẫn các ý kiến), phần lớn đã từng là « cố vấn » cho các nước Phi và Mã Lai
mà đi tới kết luận “dĩ nhiên” thì tôi e rằng không hơn lần bác thấy Mark Valencia là người Philippines cho nên ông ấy có quan điểm có lợi cho Phi.
Dù sao đi nữa, tôi tin rằng một là thoả thuận đa phương giữa các nước trong tranh chấp, hai là ý kiến tư vấn của TACLQT, về mỗi đảo Hoàng Sa, Trường Sa được một vùng đặc quyền kinh tế rộng bao nhiêu, sẽ công bằng hơn yêu sách đơn phương của bất cứ nước nào.
Ngoài ra, có khi có thực tế là chưa chắc là đòi nhiều biển, thềm lục địa cho Hoàng Sa, Trường Sa là có lợi cho Việt Nam. Tôi không loại trừ khả năng là trên thực tế đòi nhiều biển, thềm lục địa cho Hoàng Sa, Trường Sa là có lợi cho Trung Quốc, có hại cho Việt Nam.
Câu dẫn của bác Hoàng Trường Sa dưới đây mà bác gọi là “Đề nghị” của TS Stein Tonnesson:
“The most likely scenario of conflict resolution is one where Vietnam gives up its claim in return for a Chinese concession in another area, just as France considered doing in 1947.”
“Kịch bản” Việt Nam nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa để đổi lại nước này nhìn nhận chủ quyền của VN tại Trường Sa thực ra không phải là một giả định mà là một điều có thật, ít ra trên bàn ngoại giao giữa VN và TQ.
Năm 1976 nhà cầm quyền VN đã đề nghị trao đổi nhìn nhận chủ quyền hai quần đảo với TQ nhưng đã không được chấp thuận. Nhiều học giả trên thế giới, trong đó có TS Stein Tonnesson, đã ghi nhận dữ kiện này.
Một thí dụ: bài viết của Frédéric Lasserre, « Un conflit oublié : les rochers de mer de Chine méridionale », Revue de Géographie de Lyon (Lyon), 1998, n°73, 8 p dẫn lại như sau :
« Après avoir proposé à la Chine, mais en vain, d’échanger la reconnaissance de la
souveraineté chinoise sur les Paracels contre celle de la souveraineté vietnamienne sur les
Spratleys en 1976, Hanoi s’est à son tour replié sur une argumentation historique pour légitimer sa revendication sur les deux archipels de mer de Chine méridionale. »
Tạm dịch : Năm 1976, nhà cầm quyền Hà Nội đã đề nghị trao đổi nhìn nhận chủ quyền Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc với chủ quyền Trường Sa thuộc về Việt Nam nhưng không được chấp nhận. Vì thế Hà Nội dựa vào các bằng chứng lịch sử để chính thống hóa đòi hỏi chủ quyền (của VN) ở hai quần đảo này.
Tôi thấy là một số các học giả nước ngoài có nghiên cứu về biển Đông (mà các học giả VN thường trích dẫn các ý kiến), phần lớn đã từng là « cố vấn » cho các nước Phi và Mã Lai. Dĩ nhiên, khi phía VN sử dụng lại kế hoạch của các học giả này, trước khi VN có lợi thì các nước kia đã có lợi trước ! Trong khi trường hợp của VN là một trường hợp cá biệt, không thể áp dụng y chang « cẩm nang » của các học giả kia đã vẽ ra, mà phải có một chính sách riêng của mình. Việt Nam có tranh chấp chủ quyền tại HS và TS, trong khi các nước kia chỉ tranh chấp tại TS. Các « học giả » VN, sử dụng nguyên con kế hoạch của người khác, cố gắng tra gắn Hoàng Sa vào khuôn khổ Trường Sa, chắc chắn là sẽ bị thất bại.
Bác Hoàng Trường Sa
1. Khi bác viết
(Trích ý kiến bác Dương Danh Huy)
Thì thật ra lời bác trích là ý kiến của Stein Tonnesson chứ không phải của tôi.
2. Thật ra tôi không đồng ý với một số ý kiến của Stein Tonnesson, đặc biệt là ý kiến của Stein Tonnesson về Hoàng Sa, nhưng tôi thấy ý kiến của ông ấy về giới hạn vùng biển thuộc Hoàng Sa, Trường Sa là ý kiến đúng đắn và được nhiều học giả chia sẻ.
3. Theo tôi, lý do thầm kín ẩn nấp đằng sau ý kiến này là việc ĐCSVN đã quyết định BUÔNG Hoàng Sa (và rất có thể cả Trường Sa nếu ta phân tích kỹ động thái của ông Đào Duy Quát trong cái gọi là “lỗi lầm” của ông khi cho đăng tin quân Tàu tập trận ở Trường Sa để “bảo vệ lãnh hải phía Nam của Tổ quốc” (Tàu)) cho TQ mà chỉ mong giữ được chút biển nào hay chút đó theo châm ngôn bí mật hiện nay của ĐCSVN, tức là “bỏ đảo giữ biển”.
Theo tôi, ý kiến trên của bác Hoàng Trường Sa ít nhất là thiếu khách quan và có thể là chụp mũ (khi cộng với đoạn “Ý kiến này của bác Huy”). Có những chuyên gia trên thế giới có quan điểm giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng cách giới hạn vùng biển thuộc Hoàng Sa, Trường Sa. Chẳng lẽ ẩn nấp đằng sau ý kiến của họ là việc ĐCSVN đã quyết định buông Hoàng Sa, Trường Sa?
4. Tôi chia sẻ nỗi đau của bác Hoàng Trường Sa khi bác nói “VÔ CÙNG ĐAU XÓT” trước thực trạng Hoàng Sa của Việt Nam nằm dưới gót dày đinh của quân xâm lược Trung Đế Quốc, nhưng tôi không đồng ý với bác Hoàng Trường Sa khi bác đau xót xong rồi đòi là Hoàng Sa phải có thật nhiều biển như Trung Đế Quốc đòi để nước này đòi lấn sát vào bờ biển miền Trung.
5. Tóm lại, quan điểm của tôi là (1) không bỏ chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa và (2) chủ trương giới hạn vùng biển thuộc Hoàng Sa, Trường Sa để giới hạn vùng tranh chấp. Logic rõ ràng là (2) không có nghĩa bỏ chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Đừng lầm lẫn hay cố ý chụp mũ rằng là (2) có nghĩa bỏ chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, hay có ĐCSVN ẩn nấp đằng sau.