Greg Torode – Hà Nội mất, Bắc Kinh được
01/11/2009 | 11:00 chiều | 34 Comments
Category: Chính trị - Xã hội, Quan hệ Việt – Trung
Thẻ: ASEAN > Biển Đông
Phan Đằng Giang dịch
Căng thẳng trên vùng biển Nam Hải gia tăng, Bắc Kinh có vẻ như đã giành thắng lợi ngoại giao khi biết chắc rằng nhóm nước ASEAN có vẻ như sẽ không bị lôi kéo vào cuộc tranh chấp về lãnh thổ trong thời gian gần.
Các nhà ngoại giao của Bắc Kinh, cả công khai lẫn trong chỗ riêng tư, đều nói rằng tranh chấp phải được giải quyết giữa Trung Quốc và từng nước riêng biệt chứ không phải với 10 nước trong hiệp hội ASEAN – một động thái mà các nhà phân tích cho rằng sẽ củng cố một cách hữu hiệu địa vị của Bắc Kinh, nhất là với tiềm lực kinh tế và quân sự đang lên của họ.
Tranh chấp trên biển Nam Hải đã không được đưa vào chương trình nghị sự tại cuộc họp cấp cao hàng năm của các nhà lãnh đạo ASEAN diễn ra ở Thái Lan vào tuần trước, mà chỉ xuất hiện trong một phiên thảo luận không chính thức, một nhà ngoại giao cho biết. “Bắc Kinh không muốn đưa vấn đề ra thảo luận và người ta đã không đưa”, một vị đại diện có tham gia cuộc họp nói. “Cứ như cuộc họp tuần trước thì không ai nghĩ rằng tất cả chúng ta đều lo lắng về khả năng xảy ra xung đột… ASEAN thường chui đầu xuống cát như thế. ASEAN bao giờ cũng làm theo ý Bắc Kinh”.
Tiến sĩ Jusuf Wanandi, một nhà nghiên cứu Indonesia, nói rằng nếu các nước ASEAN không tìm được động cơ trong việc giải quyết vấn đề đó với Trung Quốc thì họ sẽ đánh mất vai trò trong việc làm giảm thiểu căng thẳng trong tương lai.
“Tôi đã nói nhiều lần rằng nếu ASEAN không đoàn kết thì họ sẽ bị bị xử trí từng nước một một cách riêng rẽ. Nam Hải chứng tỏ rằng điều đó bắt đầu xảy ra rồi”, Wanandi, chuyên viên cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Indonesia, nói. “ASEAN đã đánh mất cơ hội… họ phải chứng tỏ tình đoàn kết hơn nữa trong khi giải quyết các vấn đề với Trung Quốc”.
Năm 2002, ASEAN và Trung Quốc đã kí tuyên bố về biển Nam Hải được dư luận rộng rãi hoan nghênh như là bước khởi đầu quan trọng trong việc làm giảm thiểu căng thăng và tạo cơ sở cho những cuộc đối thoại trong tương lai. Bên cạnh lời kêu gọi kiềm chế và bảo đảm tự do đi lại trên những tuyến hàng hải quan trọng nhất, tuyên bố còn kêu gọi tổ chức những cuộc đối thoại trong tương lai để thiết lập chuẩn mực hành xử mang tính pháp lí.
Càng ngày càng có nhiều người nghi ngờ về khả năng tổ chức những cuộc đối thoại như thế, mặc dù Trung Quốc đã gia tăng những mối liên hệ về kinh tế và chính trị với các nước ASEAN trên những mặt trận khác. Trong khi các quan chức ở Bắc Kinh tỏ ra thận trọng trước những tiếng nói ủng hộ bản tuyên bố và khẳng định rằng họ muốn đối thoại, nhưng họ cũng cho thấy rõ giới hạn của ASEAN. “Thảo luận vấn đề tranh chấp lãnh thổ nhạy cảm trong khuôn khổ hợp tác Trung Quốc và ASEAN sẽ chẳng mang lại lợi ích gì”, bà tiến sĩ Xue Hanqin, đại sứ Trung Quốc tại ASEAN, nói trước khi diễn ra những cuộc gặp mặt hồi tuần trước để giải thích vì sao tranh chấp lãnh hãi bị đưa ra khỏi chương trình nghị sự. “Hội nghị trong ASEAN là để thảo luận khuôn khổ hợp tác chứ không phải cãi nhau”, bà này nói.
Các cuộc tranh cãi về lãnh thổ chỉ bao gồm Trung Quốc và các nước ven biển chứ không phải toàn bộ ASEAN, bà nói thêm.
Các đường hàng hải quốc tế đi ngang qua quần đảo Spratly (Trường Sa). Trung Quốc và Việt Nam coi quần đảo này hoàn toàn thuộc quyền kiểm soát của mình, còn Philippines, Malaysia and Brunei tuyên bố chủ quyền trên một số hòn đảo, Đài Loan tuyên bố có chủ quyền trên vài hòn đảo nhỏ.
Trung Quốc và Việt Nam còn tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Paracels (Hoàng Sa) ở phía Bắc, hiện do Trung Quốc chiếm giữ.
Các quan chức quân sự trong khu vực cảnh báo rằng hoạt động quân sự trên biển của Trung Quốc, Việt Nam và Mĩ đang gia tăng, thể hiện ở việc Trung Quốc gia tăng tiềm lực quân sự và Việt Nam muốn duy trì căn cứ trên 20 hòn đảo nhỏ mà họ đang giữ. Hoa Kì đặc biệt quan tâm theo dõi căn cứ tàu ngầm của Trung Quốc trên đảo Hải Nam.
Trong khi khẳng định chủ quyền trên phần lớn vùng biển Nam Hải, Trung Quốc cũng cảnh cáo các công ty ngoại quốc thực hiện các hợp đồng khai thác dầu với Việt Nam và Philippines. Trong khi đó, Washington đã công khai phản đối những lời đe doạ chống lại các công ty của mình trong cái mà họ gọi là những việc làm hợp pháp.
Các nhà nghiên cứu chiến lược, chuyên gia quân sự và blogger Trung Quốc nhấn mạnh vai trò quan trọng của các mỏ dầu và tiềm năng quân sự trên vùng biển này, nói lên những lo lắng trước sự hiện diện của Việt Nam.
Tiến sĩ Ian Storey, chuyên viên tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore, nói rằng rõ ràng là Trung Quốc đã tỏ ra cứng rắn hơn khi Việt Nam nắm giữ chức Chủ tịch Hiệp hội ASEAN vào năm tới.
“Trên lời nói thì ai cũng tỏ ra trung thành với bản tuyên bố, nhưng trên thực tế, tôi sợ rằng triển vọng của các cuộc thảo luận trong tương lai có thể đã chết rồi”, ông này nói như thế. Bao giờ cũng có mâu thuẫn, khi Trung Quốc nói về giải pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế, nhưng sau đó lại hành động nhằm chống lại việc quốc tế hoá hay khu vực hoá vấn đề… Hiện nay chúng ta càng thấy rõ điều này.
“Giải quyết vấn đề với từng nước một đưa [Trung Quốc] vào vị thế thuận lợi hơn nhiều… Mĩ bao giờ cũng thích [làm việc] theo cách đó – đấy là nền ngoại giao siêu cường căn bản của họ và chúng ta thấy Trung Quốc cũng đang làm như thế.”
Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam ở Học viện Quốc phòng Australia, nói rằng Hà Nội mất nhiều khi ASEAN không còn giữ quan điểm cứng rắn về vấn đề này nữa. “Tôi không nghĩ là sẽ có chuẩn mực hành xử… Quan điểm của tôi là Trung Quốc ngày càng tự tin hơn và muốn ra tay trước và muốn chặn đứng mọi nỗ lực nhằm quốc tế hoá tranh chấp trên vùng biển Nam Hải. Tôi nghĩ là căng thẳng sẽ còn tiếp tục một thời gian nữa.”
Tranh chấp trên biển Nam Hải là giữa Trung Quốc và Việt Nam và ở mức độ ít căng thẳng hơn là với Philippines. Phần lớn các nước ASEAN chẳng có lợi lộc gì và vì vậy mà không muốn bị lôi kéo vào. Đa số còn không muốn có tranh chấp nữa kia.
Nguồn: South China Morning 31/10/2009. Tên bài do talawas đặt lại.
Bản tiếng Việt © 2009 Phan Đằng Giang
Bản tiếng Việt © 2009 talawas blog
“Cách giải quyết có thể là Trung Quốc thừa nhận rằng phần lớn các đảo ở Biển Đông đều quá nhỏ để có thể tuyên bố chủ quyền thềm lục địa và chấp nhận khai thác 12 khu kinh tế gần bờ của mình. Đây là trách nhiệm của Trung Quốc và các nước trong khu vực thông qua biện pháp ngoại giao có thể thuyết phục Trung Quốc đi theo ý tưởng này.”(Trích ý kiến bác Dương Danh Huy)
Ý kiến này của bác Huy, theo cá nhân tôi suy nghĩ, là vô tình (hay cố ý) theo phương pháp “cực tiểu hóa thiệt hại” (“minimisation of loss”) do Công hàm ngày 14-9-1958 mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng thò bút ký vào theo chỉ thị của ông Hồ và Bộ Chính Trị Đảng Lao Động (tức ĐCSVN) gây ra. Theo tôi, lý do thầm kín ẩn nấp đằng sau ý kiến này là việc ĐCSVN đã quyết định BUÔNG Hoàng Sa (và rất có thể cả Trường Sa nếu ta phân tích kỹ động thái của ông Đào Duy Quát trong cái gọi là “lỗi lầm” của ông khi cho đăng tin quân Tàu tập trận ở Trường Sa để “bảo vệ lãnh hải phía Nam của Tổ quốc” (Tàu)) cho TQ mà chỉ mong giữ được chút biển nào hay chút đó theo châm ngôn bí mật hiện nay của ĐCSVN, tức là “bỏ đảo giữ biển”.
Ý kiến cho các đảo ở Biển Đông chỉ có được khu kinh tế 12 hải lý (mà không có thềm lục địa) mà bác Huy vẫn chủ trương từ trước đến nay hình như cũng chính là ý kiến của Tiến sĩ Stein Tonnesson, người đã viết mấy đọan sau, mà khi đọc tôi VÔ CÙNG ĐAU XÓT (xem bài : THE PARACELS: THE ‘OTHER’ SOUTH CHINA SEA DISPUTE (Stein Tonnesson))
“The most likely scenario of conflict resolution is one where Vietnam gives up its claim in return for a Chinese concession in another area, just as France considered doing in 1947.” (“Giải pháp có khả năng xãy ra nhất để giải quyết vụ tranh chấp [ở Hoàng Sa] là Việt Nam từ bỏ chủ quyền [ở Hoàng Sa] để được Trung Quốc nhượng bộ trong vùng khác, giống như Pháp đã xem xét để thực hiện vào năm 1947”. (Stein Tonnesson)
“When, at some point in the future, the countries around the South China Sea are ready to start negotiations about maritime delimitation, they must take both the Paracels, the Spratlys and other islands into consideration, and make up their mind as to how much weight they shall have relative to the mainland coasts. In that context, a range of opportunities will emerge for Vietnam to extract concessions from China in return for a Vietnamese recognition of China’s sovereignty in the Paracels.” (“Khi, vào một thời điểm nào đó trong tương lai, những quốc gia ở quanh Biển Đông sẵn sàng khởi sự thương thuyết về việc phân định hải phận, họ phải đưa cả Hoàng Sa và Trường Sa ra để cứu xét, và phải quyết định là các quần đảo này sẽ có trọng lượng bao nhiêu so sánh với vùng biển duyên hải (thuộc đất liền). Trong tình cảnh đó, sẽ có một lô cơ hội cho Việt Nam để gặt hái những nhượng bộ từ Trung Quốc đổi lại việc Việt Nam thừa nhận chủ quyền của TQ ở Hoàng Sa”) (Stein Tonnesson)
Ôi ! Những lời vàng ngọc của ngoại nhân nghe sao lạnh lùng, bình thản và vô tư quá, nhưng nó đã làm cho tim tôi muốn ngừng đập vì đau đớn !
Giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng cách giới hạn vùng biển thuộc các đảo để giới hạn vùng tranh chấp (*), như một số tác giả Quỹ Nghiên cứu Biển Đông cổ động:
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/11/091103_tonnensson_inv.shtml
Cách giải quyết có thể là Trung Quốc thừa nhận rằng phần lớn các đảo ở Biển Đông đều quá nhỏ để có thể tuyên bố chủ quyền thềm lục địa và chấp nhận khai thác 12 khu kinh tế gần bờ của mình. Đây là trách nhiệm của Trung Quốc và các nước trong khu vực thông qua biện pháp ngoại giao có thể thuyết phục Trung Quốc đi theo ý tưởng này.
(*) Mặc dù biện pháp này không giải quyết toàn thể tranh chấp, nếu thành công thì nó giới hạn tranh chấp rất nhiều.
Bác Khiêm,
Tất nhiên nếu TACLQT đưa ra ý kiến tư vấn rằng nước nào làm chủ đảo HS, TS nào thì chỉ được (thí dụ) 12 hay 24 hay 36 và 48 hải lý EEZ, thì ý kiến đó riêng nó sẽ không phá được cái lưỡi bò, nhưng ý kiến đó sẽ tương đối công bằng và sẽ có ích trong ngoại giao và tuyên truyền chống tham vọng của Trung Đế Quốc.
Tất nhiên cần phải kéo các cường quốc vào việc chống tham vọng của Trung Đế Quốc, nhưng nếu VN, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia cùng nhau kéo thì sẽ hiệu nghiệm hơn là chỉ có Việt Nam kéo, và nhất là sẽ hiệu nghiệm hơn là Việt Nam kéo với chiêu bài không có gì hơn “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” hay “cái lưỡi bò liếm ngang là của Việt Nam”.
Việc đoàn kết các nước ĐNA không phải chỉ để các nước này chống tham vọng của Trung Đế Quốc một cách trực tiếp, mà còn để các nước này chống một cách gián tiếp bằng cách cùng nhau tranh thủ các cường quốc.
-> Trương Nhân Tuấn
Cảm ơn ông đã tán thưởng cái nhận xét về trường hợp Tây Tạng.
Khiêm cũng nghĩ khó mà hy vọng ở ĐCSVN có thể đưa ra hoặc thực hiện được một giải pháp gì hay lúc này khi mà nó vẫn tiếp tục gây đổ vỡ trong sự đoàn kết dân tộc trước nguy cơ Trung Quốc qua lối hành xử thiếu tự tin, thiển cận và bạo lực với chính người Việt.
Đặt vấn đề này trong tương quan với xã hội dân sự và vận động dân chủ hóa nói chung, Khiêm nghĩ rằng tuy giải pháp “kiến nghị” thất bại, và có thể sẽ luôn thất bại, nhưng nó vẫn có tác dụng: gây dư luận. Nếu ĐCSVN vẫn tiếp tục làm ngơ hoặc bóp nghẹt các kiến nghị, dư luận sẽ càng phẫn nộ. “Kiến nghị” về mặt hình thức có thể gởi cho ĐCSVN và cơ cấu quyền lực của nó, nhưng về nội dung có thể nhắm tới công luận. Vấn đề là đưa ra đúng lúc và có được một thông điệp thuyết phục. Khiêm cho rằng trong vận động dân chủ, phương pháp “kiến nghị” có tác dụng chiến thuật.
Còn làm sao để “chiếu tướng” thì thực tình Khiêm chưa thấy vận động dân chủ hóa có khả năng đó. Làm sao để tương nhượng và phối hợp linh hoạt các hoạt động một cách thông minh nhất giữa các nhóm khác nhau trong khả năng giới hạn về thế và lực cho các mục tiêu chiến lược vẫn là một vấn nạn lớn cho vận động dân chủ hóa. Khiêm thực tình chưa thấy một khả năng nào cả dù vẫn có một chút hy vọng. Ô, đã ra khỏi vấn đề đang bàn rồi.
Hy vọng sẽ được đọc bài mới của ông về vấn đề biển Đông.
-> Dương Danh Huy
Cảm ơn ông đã gởi đường link để tìm hiểu về khía cạnh quốc tế hóa vấn đề thông qua Liên hợp quốc của nhóm nghiên cứu biển Đông. Khiêm cho rằng đề nghị này có thể phù hợp với những lựa chọn của chính phủ Việt Nam, nhưng kết quả sẽ rất giới hạn vì Tòa án Công lý sẽ không mở được nếu Trung Quốc làm ngơ. Kết quả cao nhất có thể đạt được có thể chỉ là một sự cố vấn mà thôi. Tuy nhiên, trong vị trí của một người theo dõi thời sự, Khiêm cho rằng nó có thể thích hợp để tạo dư luận. Câu hỏi được đặt ra là còn bước kế tiếp nào nữa không.
Khiêm vẫn cho rằng nếu không lôi kéo được các cường quốc khu vực nhúng tay vào giải quyết tranh chấp thì vẫn khó lòng kìm chế Trung [Đế] Quốc. Làm sao để thực hiện được điều này tùy thuộc vào khả năng tái nhận thức địa chính trị của Việt Nam và khả năng ngoại giao khéo léo và bền bỉ.
Trở lại với hai điểm cần thiết để quốc tế hóa vấn đề ông đưa ra:
1. Vượt qua nỗi sợ Trung Quốc: Mong ông vui lòng phân tích sâu hơn chi tiết này.
2. Phải có lập trường chính sách nào đó về HSTSBĐ: Phải chăng nhà nước Việt Nam hoàn toàn không có hoặc chưa có một cái gì có thể gọi là một lập trường chính sách cho một vấn đề an ninh quốc gia hệ trọng như vậy?
Tôi cũng quên một chi tiết: “Có ba nước trong khối ASEAN là Việt Nam, Mã Lai và Phi Luật Tân có tranh chấp với Trung Quốc về chủ quyền các đảo Trường Sa…”, thực ra là 4 nước. Tôi quên nước Brunei.
Cũng xin gởi kèm theo đây link này, bài viết của tôi ngày 9-9-2004, về liên minh Trung Quốc – Phi hợp tác thăm dò thềm lục địa Trường Sa: http://vn.myblog.yahoo.com/truongnhantuan/index?&page=15
Tôi thấy góp ý của bác Khiêm:
“Thử lấy trường hợp Tây Tạng, một miền đất dường như vô vọng khi bị Trung Quốc xâm chiếm. Nhưng người Tây Tạng hiểu được phương Tây và Ấn Độ cần một lý cớ để gây khó dễ và kiềm chế Trung Quốc, nhất là về mặt đạo đức vốn dễ được sự ủng hộ của dư luận. Người Tây Tạng, thông qua các hoạt động ngoại giao khôn khéo và miệt mài – nhất là của vị lãnh tụ tinh thần Đạt Lai Lạt Ma, đã thành công cả trong có được hậu thuẫn của phương Tây lẫn sự ủng hộ của dư luận thế giới. Một Tây Tạng tự trị không còn, nhưng vẫn còn đó một hy vọng để gây dựng lại cơ đồ. Thành công về quốc tế hóa vấn đề từ một tình thế gần như vô vọng khiến chúng ta phải suy nghĩ.”
rất đáng để đảng CSVN lưu ý, nhất là bộ phận phụ trách ngoại giao.
Nhưng tôi không có hy vọng gì. Bằng chứng những ngày qua, nhiều tiếng nói của nhiều nhà khoa học uy tín trong nước đã bị… bịt miệng. Những đề nghị xem ra hữu lý, có lợi cho VN, nhà nước đều không muốn nghe.
Đặc biệt, những đề nghị khác, nếu có động đến Trung Quốc, dù rất ít, cũng bị cấm đoán, tác giả thậm chí bị bắt. Trường hợp nhà báo Đoan Trang và một số bloggers khác, khi viết các bài có “đụng chạm” đến TQ, đều bị công an hỏi thăm sức khỏe, là những thí dụ. Tôi cũng không thể không nhắc tới quí ông : Nguyễn Xuân Nghĩa bị xử 6 năm tù và 4 năm quản chế; Phạm Văn Trội và Nguyễn Văn Túc mỗi người 4 năm tù giam và 4 năm quản chế; Nguyễn Văn Tính và Nguyễn Mạnh Sơn 3 năm và 6 tháng tù và 3 năm quản chế; Trần Đức Thạch, Vũ Hùng và Ngô Quỳnh 3 năm tù và 3 năm quản chế; Nguyễn Kim Nhàn 2 năm tù và 2 năm quản chế. Những người này bị bắt và kết án tù nặng nề vì họ đã treo những biểu ngữ và rải một số ít truyền đơn lên án Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam và kêu gọi chống tham nhũng. Ngoài ra cũng không thể nhắc các vụ Tam Tòa và Bát Nhã.
Như thế nhà nước VN đã chọn phương pháp đàn áp tàn nhẫn đối với những người yêu nước, chọn phương pháp hung bạo, dùng công an đội lốt côn đồ để giải quyết những mâu thuẫn của xã hội. Việc này sẽ có tác dụng cô lập Việt Nam với thế giới văn minh.
Hậu quả, dĩ nhiên VN sẽ càng dễ bị Trung Quốc chèn ép.
Nếu so sánh VN với Tây Tạng, không cần VN phải có những người lãnh đạo có đầu óc sáng suốt, mà chỉ cần những người lãnh đạo biết “nghe lời phải”. Nhưng thực tế đã trả lời, đảng CSVN không muốn “nghe” ai hết. Lối đấu tranh “kiến nghị” đã thất bại.
Về góp ý của bác Dương Danh Huy, cám ơn bác đã có nhã ý sửa lại một số chi tiết về thời gian (2004 thay vì 2005). Về các chi tiết khác xin hẹn với bác trong bài viết sắp tới “Tư duy biển lớn”, trong bài này có ghi chú rõ. (Bài này viết từ khá lâu, nhưng vẫn chưa xong, vì một số vấn đề cá nhân). Mong bác cùng các bạn sẽ đóng góp ý kiến.
Bác Khiêm,
Đúng là trong một thời gian dài Việt Nam đã thiếu sáng tạo, thiếu tích cực trong tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông, và đã không đặt đủ ưu tiên vào HSTSBĐ.
Cũng đúng là quốc tế hoá tranh chấp là điều cần thiết trong tranh chấp HSTSBĐ.
Nhưng để quốc tế hoá tranh chấp thì phải cần ít nhất là 2 điều:
1) Vượt qua nỗi sợ đối với TQ.
2) Phải có lập trường, chính sách nào đó về HSTSBĐ. Trong một thời gian giài, phần lớn là phía Việt Nam chỉ nói “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”. Tuy điều đó đúng, nếu chỉ nói vậy thì khả năng quốc tế hoá sẽ không cao lắm. Ngoài ra, trong phía Việt Nam còn tồn tại tham vọng lưỡi bò liếm ngang tới sát Philippines, Malaysia – khả năng quốc tế hoá với tham vọng đó thì còn thấp hơn.
Đây là một bài viết của một số tác giả Quỹ Nghiên cứu Biển Đông về một số khía cạnh của việc quốc tế hoá tranh chấp:
http://www.seasfoundation.org/articles/from-members/49-tranh-chp-bin-ong-va-vai-tro-ca-lien-hip-quc
trong đó các tác giả đề nghị việc xin ý kiến tư vấn của Toà án Công lý Quốc tế xác định bao nhiêu Biển Đông thuộc về Hoàng Sa, Trường Sa. Ý kiến đó sẽ là tiếng nói mạnh mẽ trong việc quốc tế hoá việc cắt lưỡi bò Trung Đế Quốc.
Nhân bài viết của Greg Torode về thắng lợi của TQ và thất bại của VN cùng ASEAN trước quyết định của ASEAN không thảo luận chính thức vấn đề Biển Đông tại Đại hội ASEAN năm nay, kính mời quý vị đọc bài sau đây của tác giả Vi Anh :
Hợp Thức Hóa Hiện Trạng (Vi Anh)
->Dương Danh Huy,
Thưa ông, ông có thể hiểu biển Đông của Việt Nam trong ý kiến ngắn của Khiêm là phần biển Đông Việt Nam có chủ quyền xứng đáng với những yếu tố địa lý và sự hiện diện lịch sử. Còn về các lưỡi bò thè xuống hoặc lè ra, Khiêm nghĩ mình không đủ thẩm quyền để nói về nó lúc này. Đó là một vấn đề kỹ thuật phức tạp đòi hỏi kiến thức liên ngành và dành cho các chuyên viên về các lĩnh vực liên quan.
Nhưng trong vị trí của một người theo dõi thời sự, Khiêm nghĩ để bảo vệ quyền lợi của mình, Việt Nam đã có cơ may để bảo vệ những cái chưa mất, hoặc chuẩn bị cho vị thế để đối phó lâu dài với Trung Quốc nhằm có cơ hội thâu hồi lại những cái đã mất và đang mất.
Quốc tế hóa vấn đề là một trong những phương cách Việt Nam hoàn toàn có thể làm. Thắng lợi ngoại gia mới đây của Trung Quốc cho thấy họ thực sự coi đó là trở ngại và chuẩn bị lâu dài để phá vỡ cái thế đó.
Bất kỳ một cường quốc đang lên nào cũng bị các cường quốc khác trong hiện tại tìm cách kiềm chế nhằm bảo vệ quyền lợi có được theo hiện trạng. Họ cũng có thể hợp tác với nhau, hoặc vừa kiềm chế vừa hợp tác tùy theo lĩnh vực. Phương Tây, Đông Á và Nam Á đă và đang có nhu cầu kiềm chế Trung Quốc, tuy họ vẫn hợp tác trong nhiều lĩnh vực.
Trước cái thế đang lên và sự phát huy xung lực của Trung Quốc hiện thời – điều mà giới quan sát quốc tế đã dự đoán khi nước Trung Hoa cộng sản tỉnh giấc – khó mà có một cơ may nào cho Việt Nam để đối đầu với Trung Quốc. Nhưng nếu Việt Nam biết chuẩn bị tốt, Việt Nam đã vẫn có thể quốc tế hóa vấn đề một cách khôn khéo để kiềm chế tham vọng của Trung Quốc thông qua vị thế và tính toán chính trị của các cường quốc phương Tây, Đông Á, Nam Á và sự ủng hộ dư luận khu vực và thế giới.
Thử lấy trường hợp Tây Tạng, một miền đất dường như vô vọng khi bị Trung Quốc xâm chiếm. Nhưng người Tây Tạng hiểu được phương Tây và Ấn Độ cần một lý cớ để gây khó dễ và kiềm chế Trung Quốc, nhất là về mặt đạo đức vốn dễ được sự ủng hộ của dư luận. Người Tây Tạng, thông qua các hoạt động ngoại giao khôn khéo và miệt mài – nhất là của vị lành tụ tinh thần Đạt Lai Lạt Ma, đã thành công cả trong có đưọc hậu thuẫn của phương Tây lẫn sự ủng hộ của dư luận thế giới. Một Tây Tạng tự trị không còn, nhưng vẫn còn đó một hy vọng để gây dựng lại cơ đồ. Thành công về quốc tế hóa vấn đề từ một tình thế gần như vô vọng khiến chúng ta phải suy nghĩ.
Trước khi đủ móng vuốt tranh chấp trên vũ đài thế giới, Trung Quốc trong hai thập niên qua đã và đang trình ra một khuôn mặt mềm trước thế giới, trong khi vẫn ăn hiếp Việt Nam đủ mọi cách. Họ làm được việc đó vì Việt Nam im hơi lặng tiếng chịu trận với hy vọng có thể làm một đồng minh chính trị với Trung Quốc. Không muốn quốc tế hóa vấn đề thì làm sao Asean có thể bị đánh động và các cường quốc khác có cớ để can dự vô, ít ra là nhúng tay vô để dàn xếp, và để gây dư luận về vị thế hai mặt của Trung Quốc.
Tuy nhiên còn nước thì còn tát. Để coi động thái tiếp theo của Việt Nam sẽ là gì. Cái bi đát của Việt Nam hiện giờ là dường như chúng ta chỉ còn đường bờ biển.
Bác Khiêm,
Càng lúc càng rõ là ASEAN coi tranh chấp biển Đông là chuyện riêng của Việt Nam, và Việt Nam chỉ có thể tự trách mình vì đã bỏ lỡ thập niên 90 để phát triển quan hệ sâu đậm hơn với phương Tây vì… ngại và sợ dù được mời chào.
…
Tương lai biển Đông của Việt Nam sẽ không sáng sủa. Thực tế đã cho thấy điều đó.
Nếu cho rằng Biển Đông là của Việt Nam, hay cho rằng có một cái lưỡi bò liếm ngang thuộc Việt Nam thì làm sao mà tương lai đó sáng sủa được?
Nếu Trung Đế Quốc đòi cái lưỡi bò liếm dọc và Việt Nam đòi cái lưỡi bò liếm ngang thì làm sao mà ASEAN có thể ủng hộ Việt Nam được? Giả sử có quan hệ tốt với phương Tây thì phương Tây cũng không ủng hộ cái lưỡi bò liếm ngang đó.
Bác Trương Nhân Tuấn
Từ những năm trước (2005) Phi đã đơn phương ký kết với Trung Quốc nhằm thăm dò chung vùng biển chung quanh các đảo thuộc Trường Sa, trong đó khoảng ¾ diện tích chồng lấn với vùng biển của VN (theo tuyên bố 1989 về các lô dầu khí (blocs hydrocarbures)). VN có ra tuyên bố phản đối, nhưng sang năm 2006 thì VN lại vận động để được ký kết hợp đồng tay ba, với TQ và Phi, nhằm thăm dò thềm lục địa vùng biển nói trên.
Thật ra Phi đào ngũ và phá vỡ lập trường chung của ASEAN, ký hợp đồng thăm dò địa chấn với TQ vào năm 2004 chứ không phải 2005.
Còn VN-TQ-Phi ký hợp đồng tay ba vào năm 2005 chứ không phải 2006.
Bác có thể xem thêm ở đây:
http://www.minhbien.org/?p=246
Trang web trên có bản đồ vùng khảo sát chung, và có cả hai hợp đồng 2004, 2005.
Dĩ nhiên kết quả của TQ và Phi thăm dò năm ngoái thì không chia sẻ cho VN.
Bác có chứng cớ là TQ & Phi không chia sẻ kết quả thăm dò năm ngoái với VN?
Nhân tiện:
Trong comment này
http://www.talawas.org/?p=12525&cpage=1#comment-7451
bác nói
Triều Tiên có chung biên giới với Nga và Trung Quốc và cách Nhật Bản biển Đông (gọi theo Trung Quốc hay Biển Nhật Bản theo lối gọi của Nhật).
Nếu bác nói TQ gọi Sea of Japan là “biển Đông”, thì có thể là bác lầm. Theo tôi hiểu, TQ, ít nhất là TQ ngày nay, không gọi Sea of Japan là “biển Đông”.
Ngoài ra, dường như chỉ có Nam Hàn, Bắc Triều Tiên, cổ động gọi Sea of Japan bằng East Sea, East Korea Sea, v.v…
Yếu tố làm phân hóa ASEAN về vấn đề biển Đông là Phi Luật Tân (và dĩ nhiên sự tệ hại của bộ Ngoại Giao VN).
Có ba nước trong khối ASEAN là Việt Nam, Mã Lai và Phi Luật Tân có tranh chấp với Trung Quốc về chủ quyền các đảo Trường Sa và hải phận Biển Đông (riêng VN thì có tranh chấp với TQ quần đảo Hoàng Sa và chủ quyền vùng biển chung quanh). Từ những năm trước (2005) Phi đã đơn phương ký kết với Trung Quốc nhằm thăm dò chung vùng biển chung quanh các đảo thuộc Trường Sa, trong đó khoảng ¾ diện tích chồng lấn với vùng biển của VN (theo tuyên bố 1989 về các lô dầu khí (blocs hydrocarbures)). VN có ra tuyên bố phản đối, nhưng sang năm 2006 thì VN lại vận động để được ký kết hợp đồng tay ba, với TQ và Phi, nhằm thăm dò thềm lục địa vùng biển nói trên. Dĩ nhiên kết quả của TQ và Phi thăm dò năm ngoái thì không chia sẻ cho VN. Cho dầu trong hợp đồng có ghi rõ việc thăm dò không ảnh hưởng đến chủ quyền các đảo và vùng biển (và thềm lục địa) nhưng việc ký kết với TQ cùng thăm dò với TQ và một hình thức công nhận sự hiện diện chính đáng của nước này tại vùng biển Trường Sa (mà điều này thật không nên). Thái độ của Phi trong việc này rõ ràng là thất sách. Dư luận ở Phi cho vụ này là « bán nước ». Đây cũng một hành động đâm sau lưng VN (vì xé lẻ với TQ). Tuy vậy, thái độ « ăn theo » của VN năm 2006 cũng hạ sách, đúng ra hành động vớt vát, vì không còn cách nào khác.
Tháng 8 vừa qua, Phi lại ra công hàm phản đối hai hồ sơ thềm lục địa mở rộng của VN và VN nộp chung với Mã Lai lên Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa thuộc Liên Hiệp Quốc, nội dung cho rằng vùng thềm lục địa mở rộng (của VN và Mã Lai) có chồng lấn với Phi (mà thực tế việc này khó chứng minh). Mâu thuẩn giữa Phi với VN và Mã Lai do đó rất sâu sắc. Vì thế nghị trình của phiên họp ASEAN vừa qua không thể đưa vào vấn đề Biển Đông (tranh chấp với TQ), như vào những năm 1995, vì tranh chấp nội bộ Phi với VN và Mã Lai vẫn chưa giải quyết.
Tình hình hiện nay rất bất lợi cho VN. VN hiện chung lưng với Mã Lai để chống với Trung Quốc (và có thể chống cả với Phi). Cán cân nghiêng về đâu thì quá rõ.
GƯƠNG MẪU TẠI LIÊN HIỆP QUỐC
Trong Hội đồng “BẢO AN” Liên hiệp quốc,
Trung Quốc là
Thành viên chính thức
Còn Việt Nam nhà ta,
Là hội viên không chính thức,…
Đáng lẽ phải làm gương,
Cho tất cả nước khác,…
Cớ sao Trung Quốc
Lấn chiếm biển, đất,…
Của Việt Nam chứ!
Còn chính quyền Việt Nam,
Cứ im re chấp nhận,…
Kẻ hèn này thiển nghĩ rằng:
Phải chăng,
Tổ chức Liên hiệp quốc,
Chỉ là bù nhìn,
Làm trò cười
Cho mọi người?!
Càng lúc càng rõ là ASEAN coi tranh chấp biển Đông là chuyện riêng của Việt Nam, và Việt Nam chỉ có thể tự trách mình vì đã bỏ lỡ thập niên 90 để phát triển quan hệ sâu đậm hơn với phương Tây vì… ngại và sợ dù được mời chào.
Để cho Việt Nam và Trung Quốc giải quyết riêng với nhau Mỹ cũng chẳng thiệt hại gì. Trung Quốc vẫn bị vây kín trong vòng đai Đại Hàn – Nhật Bản- Đài Loan – Phi – Úc – Indonesia – Singapore – Mã Lai và Ấn Độ. Mỹ sẽ chỉ phản ứng khi thương thuyền hoặc chiến hạm Mỹ bị làm phiền trên biển Đông. Có lẽ Mỹ cho rằng khi để cho Trung Quốc biến biển Đông thành ao nhà của mình, thì nó sẽ là một vùng đệm để giải tỏa những xung động cương cường của một đại cường đang lên.
Còn thế hệ conquistadors gốc Hán khi bị chặn hết đường ra biển lớn sẽ trở nên rất hung hăng trong cái vụng biển mà nó được tự do. Việt Nam sẽ đối phó ra làm sao? Tương lai biển Đông của Việt Nam sẽ không sáng sủa. Thực tế đã cho thấy điều đó.