Vương Văn Quang – Láy [với chả] liếc
24/09/2009 | 7:17 chiều | 30 Comments
Category: Ngôn ngữ - Dịch thuật
Thẻ: Từ láy > Vé bướm
Theo cuốn Từ điển từ láy tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (Nxb Giáo dục, 1995) thì “láy là một phương thức tạo từ đặc sắc của tiếng Việt. Đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình vị cơ sở theo những qui tắc nhất định”.
Cuốn từ điển cũng qui định khá cụ thể:
“Từ láy bậc một, hay từ láy đôi, kiểu như: đẹp – đẹp đẽ; xinh – xinh xắn
Từ láy bậc hai, hay từ láy kép, kiểu như: sạch – sạch sành sanh; nhí nhảnh – nhí nha nhí nhảnh”.
Tuy nhiên, kiểu “từ láy bậc một” ít thấy xuất hiện trong cuốn từ điển này, và nếu xuất hiện thì sự giải thích, theo tôi là không thoả đáng, nếu không muốn nói là ngớ ngẩn. Ví dụ từ gầy guộc, được giải thích là: “rất gầy, đến mức chỉ còn da bọc xương”, sau đó dẫn một câu văn của một nhà văn (nào đó) để minh hoạ [nhưng chẳng minh họa được điều gì].
Theo tôi, nếu mô tả cái sự “rất gầy, đến mức chỉ còn da bọc xương” người Việt sẽ không dùng từ gầy guộc, mà họ sẽ có rất nhiều lựa chọn, như: gầy đét, gầy quắt queo, gầy tong teo…, thậm chí không cần dùng tới chữ gầy mà vẫn mô tả rất mạnh mẽ sự gầy: đét mo cau, quắt xà lai, bộ xương di động v.v.
Từ gầy guộc, có lẽ, người ta thường dùng trong văn cảnh nghiêm trang, u buồn; và, nó chỉ diễn tả sự gầy thuần túy chứ không diễn tả “gầy đến da bọc xương”.
Các tác giả cuốn từ điển còn cho cả những danh từ như: Ba ba, Thuồng luồng, Đu đủ, Bìm bịp, Đa đa…, là từ láy. Điều này thật không thể chấp nhận.
Theo tôi, từ láy là từ mà khi ta cắt phần láy thì chúng vẫn nguyên nghĩa. Ví dụ: Đẹp – đẹp đẽ; ở đây đẽ là phần láy, nếu bỏ đi thì nghĩa vẫn còn nguyên. Các danh từ vừa liệt kê bên trên không như thế, bởi nó không có phần láy, và không thể cắt bỏ.
Cuốn từ điển này cũng bỏ qua một (loạt) hiện tượng láy từ, mà theo tôi, là rất quan trọng, rất thông tục, thông dụng trong đời thường. Kiểu láy có dạng đưa âm có vần “iếc” (hoặc một hay hai vần khác. Bài viết này không tiện thống kê) vào cạnh từ gốc. Kiểu láy này thường dùng trong văn cảnh thông tục, suồng sã; và để diễn tả sự chê bai, coi thường cái được gọi, được diễn tả. Kiểu láy này ta gặp thường xuyên trong đời sống, ví dụ: đẹp điếc, văn viếc, bờ lốc (blog) bờ liếc…, sự chê bai, coi thường sẽ rõ hơn khi nói/viết đủ: đẹp [với chả] điếc; văn [với chả] viếc; bờ lốc [với chả] bờ liếc.
Kiểu láy này có thể không cần liệt kê và đưa vào mục từ, nhưng ở phần “Nguyên tắc và thể lệ biên soạn” hoặc “Lời nói đầu”, thiển nghĩ, các tác giả nên (bắt buộc?) nói qua.
Một kiểu láy nữa là phần láy thường được đứng trước từ chính (thường là tính từ), theo nguyên tắc vần bằng trắc. Ví dụ: nhè nhẹ, lành lạnh, đèm đẹp, khe khẽ, nong nóng, man mát…; kiểu láy này có dụng ý làm giảm nhẹ độ diễn tả của tính từ (lành lạnh = hơi lạnh; nong nóng = hơi nóng). Kiểu láy này cũng không thấy nhóm tác giả nói tới.
Kiểu láy mà các tác giả đưa vào nhóm “Láy bậc một” (rất ít xuất hiện trong các mục từ), theo tôi, phần láy, đôi khi, cũng có nghĩa như từ gốc. Nói đôi khi bởi vì, nhiều trường hợp phần láy hoàn toàn vô nghĩa (hoặc tôi chưa biết nghĩa?).
Phần láy có nghĩa, ví dụ: Tiền bạc, Xe cộ, Chó má, Người ngợm… Ta thấy, bạc cũng là tiền, cộ cũng là xe, má cũng là chó (nghe nói, má là con chó… ăn thịt chó; người ngợm cũng tương tự).
Phần láy vô nghĩa, ví dụ: Nước nôi, vú vê, đít đoi, tết nhất, lễ lạt, vé bướm…
Lưu ý, rất có thể phần láy này không hoàn toàn vô nghĩa như tôi tưởng, mà nó có căn nguyên, có nghĩa của riêng nó. (À, tại sao các nhà ngôn ngữ Việt Nam, Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, không/chưa chịu soạn thảo bộ Từ điển Từ nguyên nhỉ? Hiểu căn nguyên từ mình dùng cũng là một cách “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Thậm chí, là một cách giữ gìn bản sắc dân tộc nữa kìa. Không hiểu căn nguyên, rất dễ dùng từ sai). Tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.
Ở đây, tôi muốn nói rằng, biên soạn một cuốn từ điển khá dầy dặn, mà nhóm các tác giả của nó ngoài việc đưa những mục từ sai đến ngô nghê nghớ ngẩn (như dùng danh từ làm từ láy) mà còn thiếu (vô cùng) rất nhiều những mục từ rất thông dụng khác.
Trở lại với phần láy (có thể?) vô nghĩa:
Để minh họa cho ý tưởng tưởng rằng vô nghĩa nhưng thực tế lại có nghĩa, tôi xin kể hầu các vị một câu chuyện mà tôi nghe lỏm từ ông ngoại (ông đã mất, rất lâu rồi), vốn là một trưởng ga (sếp ga) từ thời thuộc Pháp:
Thời đó, trên các tuyến xe lửa Hà Nội-Hải Phòng; Hà Nội-Yên Bái; Hà Nội-Lào Cai v.v., thường có các bà, các cô buôn chuyến. Họ mua dăm ba thứ sản vật của địa phương mang về bán ở thủ đô, và ngược lại. Đây là lớp buôn bán nhỏ, ít vốn, và thường rất nghèo, buôn bán chủ yếu lấy công làm lãi (rất đúng tính chất dịch vụ, phục vụ). Để giảm thiểu chi phí, nhiều khi các bà các cô đi tầu… lậu vé. Có lần bị tay soát vé tóm được, các bà các cô van xin, thằng cha soát vé không tha, nó dọa gọi đội sếp, cập-bi-tên (captain) bắt các cô, các cô sợ cuống, nó bảo: “Đi tầu không bằng vé thì thì bằng… bướm”, thế là các cô phải… trình bướm cho nó kiểm tra, và được nó tha.
Phải chăng từ “vé bướm” xuất hiện từ lúc ấy? Và chữ “bướm” trong “vé bướm” có nghĩa như vậy?
© 2009 Vương Văn Quang
© 2009 talawas blog
Đây là cuộc nói chuyện giữa những người “không đồng ngôn ngữ” , mà lỗi là ở cuốn Từ điển gì đó.
Trích:
——————
ông Vương Văn Quang: Những từ: “Xe cộ”, “Chó má”, “Người ngợm” đều có trong các mục từ của cuốn Từ điển từ láy tiếng Việt.
—————————————————————
Ôg Sacroyant Nguyen: Tôi vẫn bảo lưu ý kiến ban đầu, rằng những từ trên đều là từ ghép đẳng lập.
Ý kiến của tôi dựa trên 2 luận điểm dưới đây :
1. Các từ “Xe cộ”, “Chó má”, “Người ngợm” phù
hợp với khái niệm về từ ghép trong tiếng Việt.
———–
Nếu cho “xe cộ” là từ láy, thì tác giả từ điển này sử dụng “từ láy” cho nghĩa của “từ ghép” . Trong Nam trước kia gọi là từ đệm, thí dụ trong “đẹp đẽ”, “dẽ” là tiếng đệm, không có nghĩa, dùng chỉ cho êm tai. Trái lại, “rực rỡ” là từ ghép (hay kép), vì mỗi từ đều có nghĩa. Vài người góp ý đã nghĩ “từ láy” là cách “nói láy”.
Vậy từ điển sai căn bản ở chính định nghĩa về “từ láy”. Tai hại đến thế sao ?
Ghi thêm : Tôi nghĩ có thể “ngợm” trong “người ngợm” (hay nghịch ngợm) cũng có nghĩa gì đó (gần với nộm, nỡm ?). Nhưng còn cần đào sâu hơn về từ nguyên.
Nói láy là gì vậy?
Đây là lần đầu tiên tôi nghe đến hai chữ “nói láy” trong kho tàng văn hóa tiếng Việt. Tôi chỉ biết đến “nói lái” và tôi đã trưng bày vài ví dụ.
Còn “nói láy” như ông VV Quang bào chữa, có thể theo ông là một cách hiểu, vì trong tiếng Việt có hàng trăm chữ ghép đôi như thế, ví dụ: đỏ lòm, trắng xoá, đen ngòm, thơm ngát, hôi rình,… Hình như ghép thêm để tăng phần tượng hình và gợi cảm chăng? Phức tạp thật nhỉ!
Vương Văn Quang nói:
—————————————————————
Những từ: “Xe cộ”, “Chó má”, “Người ngợm” đều có trong các mục từ của cuốn Từ điển từ láy tiếng Việt.
—————————————————————
Tôi vẫn bảo lưu ý kiến ban đầu, rằng những từ trên đều là từ ghép đẳng lập.
Ý kiến của tôi dựa trên 2 luận điểm dưới đây :
1. Các từ “Xe cộ”, “Chó má”, “Người ngợm” phù hợp với khái niệm về từ ghép trong tiếng Việt.
Trong tiếng Việt, từ ghép được định nghĩa là những từ được tạo bởi hai âm tiết/từ tố trở lên, trong đó mỗi âm tiết/từ tố đều có nghĩa cụ thể.
Chúng ta đã cùng thừa nhận rằng mỗi thành phần trong các từ các từ “Xe cộ”, “Chó má”, “Người ngợm” đều là từ có nghĩa. Vậy thì khi ghép lại với nhau, đối chiếu khái niệm trên, cái được tạo ra hẳn phải là từ ghép.
2. Các từ “Xe cộ”, “Chó má”, “Người ngợm” không phù hợp với khái niệm về từ láy trong tiếng Việt.
Theo Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ vựng học tiếng việt” xuất bản năm 1996, “từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa.”
Phương thức láy được mô tả cụ thể là tiếng thứ hai lặp lại tiếng thứ nhất theo quan hệ âm thanh hoàn toàn hoặc bộ phận mà thanh điệu của chúng có âm vực giống nhau (tức là chỉ thuộc nhóm cao hoặc nhóm thấp).
Xét thấy các từ “Xe cộ”, “Chó má” đều không có sự lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết của một hình vị nào.
Riêng từ “người ngợm”, tôi cho là hiện tượng ngẫu nhiên mang dạng thức láy. Tương tự như một trường hợp dễ gây nhầm lẫn giữa từ ghép và từ láy là các từ ghép mà một trong các thành phần thuộc loại từ gốc Hán, ví dụ : chùa chiền, mộng mị, đáo để…
Ngoài ra, còn một điểm quan trọng khác : từ láy luôn có tính gợi tả âm thanh hoặc hình ảnh. Đặc điểm này không thấy có trong các từ “Xe cộ”, “Chó má”, “Người ngợm”.
Những từ: “Xe cộ”, “Chó má”, “Người ngợm” đều có trong các mục từ của cuốn Từ điển từ láy tiếng Việt.
Hà Hà Hà !
Quý vị độc giả càng tham gia bình luận câu thành ngữ tiếng Việt “Vắng chủ nhà, gà mọc đuôi tôm”, càng náo nhiệt càng nhiều chi tiết, chứng tỏ tiếng Việt mến yêu của tui có sức thu hút và …phức tạp khủng khiếp (tui hết dám nói nhất thế giới).
Một cái phức tạp vô cùng hệ trọng nữa là tiếng Việt khi viết lên giấy phải đánh dấu chính xác rõ ràng đó nghe. Không đánh dấu ý nghĩa chạy tùm lum, gây ra bất hoà đó quý vị à!
Tui có một ông bạn vừa bị người yêu lý tưởng cho ăn bạt tai vì ông viết E-Mail không bỏ dấu: “Em la mot nguoi phu nu dam dang nhat trong doi anh”. Nội hai chữ “dam dang” mang hai ý nghĩa đối nghịch nhau rồi:
– hoặc “đảm đang” tức là quán xuyến, khéo tay, chăm sóc gia đình;
– hoặc “dâm đãng”… ôi thui! Tui hổng dám bàn thêm, sợ tới phiên mình bị ăn cái tát nổ đom đóm nữa.
Rồi chuyện đọc diễn văn không bỏ dấu của ông cán bộ Nhà nước ta từ “dao Thien Chua”, dao Cao Dai, ông đọc thành “dao Thiến Chúa và dao Cạo Dài”. Rồi ngư dân VN di tản qua Mỹ điền đơn hiển nhiên trở thành “danh ca” ráo trọi, thay vì “đánh cá”.
Sao! Tiếng Việt có phức tạp thật không hở quý vị?
Chào thân ái,
Ông Khonglaai viết:
“câu “Chủ vắng nhà, Gà mọc đuôi Tôm” vừa phù hợp với hiện tượng quan sát lặp đi lặp lại tự nhiên vừa phù hợp với môi trường văn hóa mà nó được sản sinh ra”.
Tôi xin xét câu “Chủ vắng nhà, Gà mọc đuôi Tôm” trong ý tưởng “phù hợp với môi trường văn hóa mà nó được sản sinh ra”.
Trước hết, “chủ” là một từ Hán Việt, ta mượn của Trung Hoa. “Nhà” rất gần vối âm “gia” của Hán Việt (khi phát ân “gi” và “nh” đầu lưỡi đụng vòm trên của miệng), nên “nhà” có thể do đọc trại của âm Hán Việt “gia”. “Gà” và kê” cũng tương tự vậy, khi nhận xét phụ âm “g” và “k” đêu là âm họng (khi phát âm không dùng tới lưỡi). Do dó, thành ngữ “Chủ vắng nhà, Gà mọc đuôi Tôm” chỉ có thể thành hình khi tiếng Việt đã bị Hán hoá, và vay mượn nhiều từ Hán. Nên tôi đoán câu này có sớm nhất phải từ đời Trần. Nếu là vậy, có chứng minh được “Dịch nòng nọc” vẫn còn ảnh hưởng trong dân gian VN tới lúc đó không? Tôi chấp nhận ý tưởng “Dịch nòng nọc” đó có thể sống rất lâu, như cho tới ngày nay, nhưng điều này cần được làm sáng tỏ để thuyết phục hơn.
Chủ vắng nhà, gà mọc đuôi tôm.
Lâu nay, một trong công việc của tôi là tìm trong kho tàng dân gian Việt Nam những câu chữ lạ lùng nhưng lại dễ dàng giải thích bằng Dịch Nòng Nọc. Một trong những câu đặc sắc nhất có thể nói là câu “Chủ vắng nhà, gà mọc đuôi tôm”. Có 7 chữ thôi nhưng toát lên tinh thần Dịch Nòng Nọc rất rõ nét.
Cũng xin nói là từ trước đến nay tôi chỉ nghe và nói ra mỗi câu này, còn câu “vọc niêu tôm” quả thật đây là lần đầu tôi nghe và cũng lần đầu thấy có người quả quyết đấy là câu đúng.
Theo tôi câu “Chủ vắng nhà, gà mọc đuôi tôm” là câu đúng đắn và có thể đó là dạng nguyên thủy nhất (chưa biến hóa) từ khi được sáng tạo ra.
Những câu tục ngữ, thành ngữ, châm ngôn-những câu mà ai ai cũng dễ dàng thấy là nó đúng, hợp lý và có thể dùng cho những sự kiện khác vào những dịp khác. Giả như, có ai đó phát minh ra câu nào đó sai hoặc không hẳn là sai nhưng chỉ đúng ở những hoàn cảnh riêng rẽ và phạm vi rất hẹp thì trí tuệ dân gian thường sẽ tự nhiên loại bỏ (có thể là dần dần vì đôi khi đúng ở giai đoạn lịch sử này nhưng không đúng giai đoạn lịch sử kia) câu đó ra khỏi kho tàng ngôn ngữ cũa mình.
Vì thế, điều kiện tiên quyết để sáng tạo ra các câu đó là chúng được sáng tạo ra từ một hiện tượng xảy ra lặp đi lặp lại một cách tự nhiên.
Và hiển nhiên, bất cứ một hiện tượng văn học nào cũng đều được chi phối bởi môi trường văn hóa lúc nó phát sinh hay triết lý nhân sinh quan, vũ trụ quan lúc bấy giờ.
Chúng ta hãy so sánh:
A. Một hiện tượng xảy ra lặp đi lặp lại một cách tự nhiên.
Câu “Chủ vắng nhà, gà mọc đuôi tôm” rõ ràng là một hiện tượng lặp đi lặp lại tự nhiên không cần ai gò bó và cố tình nặn nó ra. Theo như các bài viết trên là có hiện tượng gà mọc cái lông giống đuôi tôm và lúc đó nó hay phá phách. Còn “Chủ vắng nhà, gà vọc niêu tôm” có được là hiện tượng thường xuyên xảy ra hay không thì chắc ai cũng biết. Loài gà nói chung không ăn tôm, vậy nếu nói là gà vọc nồi niêu hay vọc thùng gạo thì còn có thể chấp nhận đó là hiện tượng xảy ra thường xuyên. Không có lý gì mà người sáng tạo ra câu nói này đầu tiên lại tự dưng đưa ra câu được chiêm nghiệm rất ít như câu “…vọc niêu tôm”. Mà nếu có lỡ trong giai đoạn nào đó nó xuất hiện rồi thì trí tuệ dân gian cũng sàng lọc loại bỏ ngay.
B. Được chi phối bởi môi trường văn hóa lúc nó phát sinh hay triết lý nhân sinh quan, vũ trụ quan lúc bấy giờ.
Ở trường hợp “vọc niêu tôm” thì con tôm là con bị động-nó là đối tượng của một tác động và nó hoàn toàn giống như con cá, con cua, con vịt…nào đó nằm trong cái niêu. Có Tôm hay Cá hay Cua trong niêu (thậm chí không có gì-ví dụ vọc nồi niêu) thì các con đó nó không giúp ích gì hay làm tương phản thêm cho tính cách con vật-chủ thể là Gà. Ta xét xem trường hợp “mọc đuôi tôm”.
Ở đây rõ ràng là có ba nhân vật-động (có thể đóng vai chủ thể) là Chủ, Gà và Tôm. Tôm tuy là vị ngữ nhưng câu “mọc đuôi tôm” hay “thò đuôi sói” cho thấy nó là tính cách thật của một chủ thể khác, ở trường hợp này là Gà.
Để hiểu căn nguyên hình thành câu này, chúng ta thử lật lại vấn đề bằng các câu hỏi:
Tại sao là “chủ”, ví dụ: Người vắng nhà, Gà mọc đuôi Tôm?
Tại sao lại là “Gà”, sao không là Chủ vắng nhà, Chó gì gì đó?
Tại sao lại đúng là “Tôm”, nếu cho lông đó hoa hoa đẹp thì có phải là nó chỉ giống mỗi đuôi Tôm đâu, tại sao người ta không dùng những con vật khác có đuôi đẹp mà cùng loại với Gà như trĩ, phượng, hạc, công, tước…mà phải dùng con vật dưới nước khác hoàn toàn như vậy, ví dụ như: Chủ vắng nhà, Gà mọc đuôi Trĩ.
Qua các câu hỏi này, chúng ta có thể thấy là trong câu này bắt buộc phải có các động vật là: Chủ, Gà và Tôm.
Ta xét ý tứ của câu:
Ý tứ trần trụi nhất, dễ thấy nhất là khi người chủ vắng nhà thì có những người không phải là chủ (có thể là vợ, con hoặc khách) làm những việc không hay, không đúng theo mô phạm đạo đức của người chủ, không theo nội quy thường tình khi ông chủ ở nhà.
Tuy nhiên, theo tôi ý tứ căn nguyên nhất vẫn là khi chủ vắng nhà thì có những người thường nhật chỉ là nhân vật thứ yếu tự dưng nghiễm nhiên trở thành chủ và được quyền tự tung tự tác như ông chủ thật sự.
Từ ý tứ căn nguyên này, ta thấy một cấu trúc logic cần thiết là: phải có từ Chủ-để chỉ nhân vật số 1 quyền uy nhất trong nhà.
Ta cần có một chủ thể nữa chỉ nhân vật vốn dĩ là thứ hai-ở đây là Gà (vì sao nó vốn dĩ thứ hai xin cắt nghĩa dưới).
Ta cần có một cụm từ nữa để làm toát lên tính “chủ” của nhân vật thứ hai này khi ông chủ vắng nhà. Ở đây là “mọc đuôi Tôm”. Cần nhấn mạnh là cụm từ phải làm toát lên tính “chủ” của Gà-nhân vật thứ hai để đối lại với Chủ thật sự chứ không đơn giản là cụm từ chỉ hiện tượng “khi gà mọc lông hoa hoa nhỏ thì nó hay phá phách”. Bởi vì nếu chỉ cần làm toát lên hiện tượng thì thứ nhất, người ta có thể dùng con khác để chỉ ví dụ mọc đuôi trĩ; thứ hai, nó không nhấn mạnh được tính đối chọi của Chủ thật sự của vế trước và Chủ-Gà vế sau.
Trong “Kinh Dịch-sản phẩm sáng tạo của nền văn hiến Âu Lạc”[1], chúng tôi tìm ra đồ hình Hậu Thiên Văn Lang và cũng chứng minh được định đề quan trọng của Dịch Nòng Nọc là “Nước là chủ tế của hai nghi Đất Nước”.
Rồng, Tôm, Cá[2] – biểu tượng cho nước – Khảm thời Hậu Thiên và nằm đúng phương vị số 1 của Hà Đồ. Còn Gà luôn luôn tượng trưng cho mẹ – quái Khôn thời Hậu Thiên nằm đúng phương vị số 2 của Hà Đồ.
Như vậy, khi sáng tạo ra câu tục ngữ này, dân gian ta lúc bấy giờ nằm trong môi trường văn hóa của Dịch Nòng Nọc, khi mà ai ai cũng đều biết Gà vốn dĩ là nhân vật số Hai, còn Tôm là nhân vật chủ tế của thời Hậu Thiên (có thể dùng Rồng-nhưng vì Rồng không có thật nên người dân dùng từ dân dã hơn cũng thuộc Nước là Tôm).
Qua lăng kính Dịch Nòng Nọc, ta thấy câu trên được giải thích rõ ràng và đặc biệt giải thích luôn vai trò của Tôm. Tôm không thể đứng bị động và không đóng vai trò bổ nghĩa nào cho tính cách của Gà. Nó phải nằm trong cụm từ làm toát lên tính cách Chủ của Gà (sau khi Chủ (thật) vắng nhà) như câu “mọc đuôi Tôm” (giống như câu hay gặp là “thò đuôi Sói hay Cáo”). Và hiển nhiên, giải thích luôn lý do vì sao người ta không lấy Trĩ, Phượng, Hạc để chỉ cái lông gà đặc biệt đó mà lại dùng đuôi một con vật dưới nước như Tôm.
Như vậy, câu “Chủ vắng nhà, Gà mọc đuôi Tôm” vừa phù hợp với hiện tượng quan sát lặp đi lặp lại tự nhiên vừa phù hợp với môi trường văn hóa mà nó được sản sinh ra.
Ngoài ra vì triết lý Dịch Nòng Nọc đã trở nên phổ dụng vào đời sống nhân dân trong một thời gian dài nên những tục ngữ, thành ngữ được sáng tạo ra từ lúc đó vẫn còn in sâu vào tiềm thức dân gian. Và vì thế, dân Việt ta vẫn dùng chúng mặc dù không hiểu rõ căn nguyên tại sao lại như thế.
[1]. Kinh Dịch-sản phẩm sáng tạo của nền văn hiến Âu Lạc. Trần Quang Bình. Vietsciences.org
[2]. Thần Bếp, ông Táo qua lăng kính Kinh Dịch Nòng Nọc. Trần Quang Bình. Vietsciences.org
Trần Quang Bình.
tuvilyso@mail.ru
Thưa anh Lê Quốc Trinh,
Tôi cảm thấy câu thành ngữ dân gian anh nêu ra có thể đưa đến nhiều suy diễn thú vị. Thực sự thì tôi thấy dân gian nói „gà mọc đuôi tôm“ nhiều hơn; còn „vọc niêu tôm“ thì tôi được nghe một ông đồ giải thích để phê phán sự nói sai của dân gian. Giải thích của ông đồ có chặt chẽ hơn nhưng có phải nó „khô cứng“ quá chăng mà không thành „chuẩn hóa“? Hay còn một lý do nào khác. Một câu khác cũng nói về gà là „dúm đuôi tép“. Ấy là khi gà con đã mọc đủ lông vừa phủ hết thân; lông thân gà dài tới phần đuôi và lông đuôi mọc dài và tòe ra như đuôi con tép hay tôm (tên gọi tép và tôm không thống nhất ở một số nơi) trông thật đẹp và đáng yêu. Từ đây gà con đã có thể coi là chắc sống; nó cứ thế ăn và lớn. Vấn đề tôi suy nghĩ là tại sao người ta lấy „đuôi tôm“ làm chuẩn để đánh giá các con khác như gà? Phải chăng nó chứng tỏ người Việt là dân sông nước nên lấy các sản vật của sông nước làm chuẩn?
Ngoài ra tôi nghĩ ngôn ngữ thể hiện tư duy nhưng là tư duy cụ thể của người (hay một nhóm người) dùng. Lấy thí dụ một câu thường nghe là „thực sự cầu thị“. Khi tôi đọc cuốn „bàn về cách học tập của chúng ta“ của Mao Trạch Đông (cuốn sách nhỏ, đọc đã lâu), ông này giải thích: „thực“ là thực tế, thực tiễn, „sự“ là sự vật, sự việc, „cầu“ là mối quan hệ, „thị“ là nhìn nhận, là sự nghiên cứu; „thực sự cầu thị“ là sự nghiên cứu của chúng ta về mối quan hệ của các sự thực khách quan. Câu này trong tiếng Việt có nghĩa là: Thật lòng (thực sự) muốn (cầu) biết (thị) – Hoàn toàn theo ngữ pháp xuôi của tiếng Việt. Có phải ta đã mượn chữ để tải ý của ta không? Cho nên cũng một câu mà các nhóm người khác nhau dùng với mục đích, ý nghĩa khác nhau. Nhưng tôi nghĩ là người đọc thì mình chỉ dám nghĩ thế thôi; còn lý giải thì chắc phải nhờ các nhà chuyên môn hay các nhà văn.
Cám ơn bà dì của ông Sac.
Sự nghi ngờ “tính lương thiện” xảy ra bởi những biểu hiện không rõ ràng, lấp lửng và có vẻ như bí mật… phải không ông?
GÀ MỌC ĐUÔI TÔM !
Dzui hỉ ! Hổng ngờ một câu thành ngữ “dân gian” lại được nhiều người đặc biệt chú ý. Rốt cuộc rồi cũng phải tìm gặp mấy bà cụ để vấn kế. Thử tưởng tượng cảnh tượng mấy chú gà con đang lớn xục xạo vào bếp khi chủ nhà đi vắng, cả đám quậy đít “đuôi tôm” làm vài bãi trên sàn đá hoa thì chắc rằng câu thành ngữ của tui có giá trị ngay.
Tui cám ơn các bác đã tìm hiểu tiếng Việt tận nguồn cơn cho tui học thêm vài điều mới mẻ về tiếng mẹ đẻ.
Tiếng Việt phức tạp thật: “Thứ nhất Bắc Kỳ thứ nhì Việt Nam” câu này mới học xong. Còn một câu nữa “Nhân chi sơ tính bần tiện” câu này của dân VK hải ngoại đó nhe.
Chào thân ái,
Đọc các PHẢN HỒI đề tài “nói láy” thấy có nhiều thú vị; nếu là Lốdịch hay gì đó thì lại nhanh chóng chuyển thành VU HỒI hay “vu hồi kỳ trận”. Vậy xin phép được góp vui đôi ý.
Tác giả Vương Văn Quang bàn về “nói láy” là môn đứng đầu trong các cách “nói bóng nói gió”, “nói xa nói gần”, “nói mỉa nói móc”, … rất thông dụng. Tuy nhiên, như để “phản hồi”, dân gian thường nhắc: Lời nói không mất tiền mua, … / … (Nhà Phật gọi là “uyển ngữ” cũng là một tội thuộc “khẩu nghiệp) có lẽ cũng nên lưu ý khi dùng từ.
Viết đúng chính tả rất quan trọng. Đọc những chữ dùng không đúng rất khó chịu: riết (mãi) / diết, dành (dụm) / giành (dựt/giật), etc.
Nếu khen hay chê (không hẳn là khoe) “nhất thế giới” thì cũng không nhất thiết phải lấy “làm lòng”. Khi khen một thiếu nữ: “Em đẹp nhất trần đời” thì chắc người này không hỏi lại: Anh đã coi/xem/dòm/biết hết chưa mà nói như thế? Cho nên có câu mỉa: Nhất thế giới, nhì Đông dương…
Một số kiểu có lẽ không phải “nói láy” mà là chơi chữ: Cô Tám –> Tam cố / Cô Tám –> Cam tố… Người Đức có câu chơi chữ, xin phiên âm: Xích ít-xít-tờ phô-ên! ☺
@ Cafedenda!
Đầu tiên tôi vào chủ đề này góp ý với tác giả – Vũ Văn Quang – về một số từ mà ông ấy gọi là từ láy nhưng tôi lại cho là từ ghép đẳng lập. Song, ông Quang chưa phản hồi, vậy thì nhân gặp ông Lê Quốc Trinh, chúng tôi chuyển sang nhàn đàm về nghệ thuật nói lái, thiết nghĩ cũng không hại gì lắm, phải không ông?
Bác Cafedenda lại viết :
——————————————————————
Ấy thế mà ông Sac còn như vẻ ngẩn ngơ nhưng lại cạnh khóe thế này:
– @ Bác Lê Quốc Trinh : thì ra có hiện tượng “mọc đuôi tôm” ở lũ gà thật, giờ tôi mới tìm hiểu ra.
——————————————————————
Không rõ bác có ý định gì nhưng tôi hơi nghi ngờ tính lương thiện của bác trong đoạn này.
Vì tin rằng nói “gà mọc đuôi tôm” là sai nên tôi chưa từng băn khoăn về khả năng có thực của hiện tượng đó. Hôm qua đến thăm một bà dì, tôi đem chuyện hỏi lại thì được bà cho biết : Những con gà mới lớn thường mọc những cái lông đuôi nhỏ, trông giống đuôi tôm, trong thời gian này chúng rất hay nghịch ngợm, phá phách lung tung.
Về chữ “diết”, tôi nghe thế nào thì ghi ra như vậy. Khi lắng nghe người ta phát âm tiếng này mà không có phụ âm “r” rung lên cho nên tôi cứ nghĩ là chữ “diết”. Cảm ơn ông đã chỉ giáo.
@ Sacroyant Nguyen:
Theo tôi thì : Nó cứ đi chơi riết! Chứ không phải là “nó cứ đi chơi diết”.
Nếu “diết” mà đúng, thì đúng như ông Sac nói: cái sai mà nói riết, nói hoài thì sẽ quen và thậm chí nghĩ, và cho là nó đúng!
@Lê Quốc Trinh và Sacroyant Nguyen:
Bài của ông VVQ đề cập đến chuyện “láy với chả liếc”, hai ông cứ xuýt xoa nhau “lái” từ gà qua tôm.
Ấy thế mà ông Sac còn như vẻ ngẩn ngơ nhưng lại cạnh khóe thế này:
– @ Bác Lê Quốc Trinh : thì ra có hiện tượng “mọc đuôi tôm” ở lũ gà thật, giờ tôi mới tìm hiểu ra.
Vậy thì hiện tượng này gọi là gì? Chắc là “bán” tôm mua gà?
@ Hoàng Trường Sa :
Thế thì tôi xin lỗi bác vì cứ tưởng câu cuối cùng ấy là của bác. Bác Phùng Tường Vân cũng không còn phải phàn nàn chi nữa nhé!
Khiêm viết :
———————————————–
tôi có lần nghe một kiểu nói lái rất ngộ:
ngẩn ngơ -> ngở ngân -> ngân ngở -> ngơ ngẩn -> ngẩn ngơ.
…
———————————————–
Từ “Ngở ngân” sang “ngân ngở” thì không phải là nói lái rồi bác ơi!
Dưới đây là vài cách nói lái mà tôi biết. Lấy ví dụ 2 âm tiết “cô Tám”, chúng ta có thể nói lái như sau :
1. Cô Tám –> Tam cố : đảo vị trí âm tiết nhưng giữ nguyên vị trí dấu thanh.
2. Cô Tám –> Cam tố : giữ nguyên vị trí dấu thanh và phụ âm, hoán đổi nguyên âm.
3. Cô Tám –> Tô cám : hoán vị các phụ âm, giữ nguyên phần nguyên âm và dấu thanh.
4. Cô Tám –> Cám tô : hoán vị phần nguyên âm bao gồm cả dấu thanh, giữ nguyên vị trí các phụ âm.
5. Cô Tám –> Cố Tam : chỉ hoán vị dấu thanh
Như vậy bác Khiêm có thể thấy là không khó để trở lại với nguyên bản sau khi lái đi lái lại vòng vèo một hồi 😀
Bác Trinh ui,
Cho dù hay nhất, hay phức tạp nhất thế giới thì câu hỏi của ông già da đỏ vẫn còn nguyên giá trị “Vậy chắc quý vị biết hết tất cả các ngôn ngữ trên thế giới hay sao mà có thể xác quyết …..”.
Gợi ý bác một vài keywords để bác google nghe:
1. “… cho đến nay thấm thoát đã bốn ngàn năm văn hiến (?) tiếng Việt chúng ta nói không bao giờ thay đổi …”:
– L’origine des tons en vietnamien của André Haudricourt
2. ” … Đến thời chúa Nguyễn nhờ ông giám mục Bá Đa Lộc đem chữ La Tinh vào thay thế chữ Hán …”
– Năm 1651, Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum của Alexander de Rhodes được in ra.
– Năm 1767 (hơn 100 năm sau), Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) tới Việt Nam.
3. ” … thêm 5 dấu phát âm khác nhau thành: MA, MÁ, MÀ, MẠ, MẢ và MÃ, sáu nghĩa khác nhau), có đúng là phức tạp không?”
– Tonal languages (tiếng Việt có 6 tones, nhưng nhiều ngôn ngữ khác có còn nhiều tones hơn nữa (tùy theo cách đếm))
4. Sự phức tạp của ngôn ngữ
Xin xem vài thí dụ như:
– Navajo language (và code talker)
– Ojibwe Language
– Pirahã language (xem: http://www.newyorker.com/reporting/2007/04/16/070416fa_fact_colapinto )
5. Nói lái, láy, trại, v.v…
Nhiều ngôn ngữ cũng có, xin xem spoonerism, reduplication, malapropism, ideophone, v.v…