Vương Văn Quang – Láy [với chả] liếc
24/09/2009 | 7:17 chiều | 30 Comments
Category: Ngôn ngữ - Dịch thuật
Thẻ: Từ láy > Vé bướm
Theo cuốn Từ điển từ láy tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (Nxb Giáo dục, 1995) thì “láy là một phương thức tạo từ đặc sắc của tiếng Việt. Đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình vị cơ sở theo những qui tắc nhất định”.
Cuốn từ điển cũng qui định khá cụ thể:
“Từ láy bậc một, hay từ láy đôi, kiểu như: đẹp – đẹp đẽ; xinh – xinh xắn
Từ láy bậc hai, hay từ láy kép, kiểu như: sạch – sạch sành sanh; nhí nhảnh – nhí nha nhí nhảnh”.
Tuy nhiên, kiểu “từ láy bậc một” ít thấy xuất hiện trong cuốn từ điển này, và nếu xuất hiện thì sự giải thích, theo tôi là không thoả đáng, nếu không muốn nói là ngớ ngẩn. Ví dụ từ gầy guộc, được giải thích là: “rất gầy, đến mức chỉ còn da bọc xương”, sau đó dẫn một câu văn của một nhà văn (nào đó) để minh hoạ [nhưng chẳng minh họa được điều gì].
Theo tôi, nếu mô tả cái sự “rất gầy, đến mức chỉ còn da bọc xương” người Việt sẽ không dùng từ gầy guộc, mà họ sẽ có rất nhiều lựa chọn, như: gầy đét, gầy quắt queo, gầy tong teo…, thậm chí không cần dùng tới chữ gầy mà vẫn mô tả rất mạnh mẽ sự gầy: đét mo cau, quắt xà lai, bộ xương di động v.v.
Từ gầy guộc, có lẽ, người ta thường dùng trong văn cảnh nghiêm trang, u buồn; và, nó chỉ diễn tả sự gầy thuần túy chứ không diễn tả “gầy đến da bọc xương”.
Các tác giả cuốn từ điển còn cho cả những danh từ như: Ba ba, Thuồng luồng, Đu đủ, Bìm bịp, Đa đa…, là từ láy. Điều này thật không thể chấp nhận.
Theo tôi, từ láy là từ mà khi ta cắt phần láy thì chúng vẫn nguyên nghĩa. Ví dụ: Đẹp – đẹp đẽ; ở đây đẽ là phần láy, nếu bỏ đi thì nghĩa vẫn còn nguyên. Các danh từ vừa liệt kê bên trên không như thế, bởi nó không có phần láy, và không thể cắt bỏ.
Cuốn từ điển này cũng bỏ qua một (loạt) hiện tượng láy từ, mà theo tôi, là rất quan trọng, rất thông tục, thông dụng trong đời thường. Kiểu láy có dạng đưa âm có vần “iếc” (hoặc một hay hai vần khác. Bài viết này không tiện thống kê) vào cạnh từ gốc. Kiểu láy này thường dùng trong văn cảnh thông tục, suồng sã; và để diễn tả sự chê bai, coi thường cái được gọi, được diễn tả. Kiểu láy này ta gặp thường xuyên trong đời sống, ví dụ: đẹp điếc, văn viếc, bờ lốc (blog) bờ liếc…, sự chê bai, coi thường sẽ rõ hơn khi nói/viết đủ: đẹp [với chả] điếc; văn [với chả] viếc; bờ lốc [với chả] bờ liếc.
Kiểu láy này có thể không cần liệt kê và đưa vào mục từ, nhưng ở phần “Nguyên tắc và thể lệ biên soạn” hoặc “Lời nói đầu”, thiển nghĩ, các tác giả nên (bắt buộc?) nói qua.
Một kiểu láy nữa là phần láy thường được đứng trước từ chính (thường là tính từ), theo nguyên tắc vần bằng trắc. Ví dụ: nhè nhẹ, lành lạnh, đèm đẹp, khe khẽ, nong nóng, man mát…; kiểu láy này có dụng ý làm giảm nhẹ độ diễn tả của tính từ (lành lạnh = hơi lạnh; nong nóng = hơi nóng). Kiểu láy này cũng không thấy nhóm tác giả nói tới.
Kiểu láy mà các tác giả đưa vào nhóm “Láy bậc một” (rất ít xuất hiện trong các mục từ), theo tôi, phần láy, đôi khi, cũng có nghĩa như từ gốc. Nói đôi khi bởi vì, nhiều trường hợp phần láy hoàn toàn vô nghĩa (hoặc tôi chưa biết nghĩa?).
Phần láy có nghĩa, ví dụ: Tiền bạc, Xe cộ, Chó má, Người ngợm… Ta thấy, bạc cũng là tiền, cộ cũng là xe, má cũng là chó (nghe nói, má là con chó… ăn thịt chó; người ngợm cũng tương tự).
Phần láy vô nghĩa, ví dụ: Nước nôi, vú vê, đít đoi, tết nhất, lễ lạt, vé bướm…
Lưu ý, rất có thể phần láy này không hoàn toàn vô nghĩa như tôi tưởng, mà nó có căn nguyên, có nghĩa của riêng nó. (À, tại sao các nhà ngôn ngữ Việt Nam, Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, không/chưa chịu soạn thảo bộ Từ điển Từ nguyên nhỉ? Hiểu căn nguyên từ mình dùng cũng là một cách “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Thậm chí, là một cách giữ gìn bản sắc dân tộc nữa kìa. Không hiểu căn nguyên, rất dễ dùng từ sai). Tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.
Ở đây, tôi muốn nói rằng, biên soạn một cuốn từ điển khá dầy dặn, mà nhóm các tác giả của nó ngoài việc đưa những mục từ sai đến ngô nghê nghớ ngẩn (như dùng danh từ làm từ láy) mà còn thiếu (vô cùng) rất nhiều những mục từ rất thông dụng khác.
Trở lại với phần láy (có thể?) vô nghĩa:
Để minh họa cho ý tưởng tưởng rằng vô nghĩa nhưng thực tế lại có nghĩa, tôi xin kể hầu các vị một câu chuyện mà tôi nghe lỏm từ ông ngoại (ông đã mất, rất lâu rồi), vốn là một trưởng ga (sếp ga) từ thời thuộc Pháp:
Thời đó, trên các tuyến xe lửa Hà Nội-Hải Phòng; Hà Nội-Yên Bái; Hà Nội-Lào Cai v.v., thường có các bà, các cô buôn chuyến. Họ mua dăm ba thứ sản vật của địa phương mang về bán ở thủ đô, và ngược lại. Đây là lớp buôn bán nhỏ, ít vốn, và thường rất nghèo, buôn bán chủ yếu lấy công làm lãi (rất đúng tính chất dịch vụ, phục vụ). Để giảm thiểu chi phí, nhiều khi các bà các cô đi tầu… lậu vé. Có lần bị tay soát vé tóm được, các bà các cô van xin, thằng cha soát vé không tha, nó dọa gọi đội sếp, cập-bi-tên (captain) bắt các cô, các cô sợ cuống, nó bảo: “Đi tầu không bằng vé thì thì bằng… bướm”, thế là các cô phải… trình bướm cho nó kiểm tra, và được nó tha.
Phải chăng từ “vé bướm” xuất hiện từ lúc ấy? Và chữ “bướm” trong “vé bướm” có nghĩa như vậy?
© 2009 Vương Văn Quang
© 2009 talawas blog
“Bác Hoàng Trường Sa đừng nhầm “lái” với “láy”!” (trích lời bác Sacroyant Nguyen)
Xin cám ơn bác Sacroyant Nguyen. Tôi đồng ý với bác là “lái” khác với “láy”. Nhưng trong phản hồi của tôi trước đây, sau phần giới thiệu, bắt đầu từ dấu “:” trở xuống dưới, tôi chỉ COPY nguyên văn ý kiến của ông/bà S37 (ở Adelaide bên xứ Úc) đăng trên trang Web DCVOnline cách đây 3 hay 4 năm, không phải ý của tôi viết. Vì tôn trọng S37, tôi giữ y nguyên chữ “láy” của S37, mặc dầu tôi biết nó sai.
@”quân hại nhân dân”
“Câu nói láy này trước trẻ con ở VN đứa nào cũng biết”
Cứ cái cung cách kết luận quá sớm và như đóng đinh vào cột thế này thì sẽ gặp ngay ông PQT bây giờ và rồi lằng nhằng, dằng dai khốn khổ cho coi.
Bác Bacle có vẻ hiểu nhầm rồi, tôi nói rằng tiếng Việt là loại ngôn ngữ phức tạp nhất thế giới, chứ không phải hay nhất thế giới. Bây giờ thì tôi xin phép nguỵ biện một chút chơi nghe:
1)- Từ lúc ông Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, rồi vua Hùng dựng nước Lạc Việt, cho đến nay thấm thoát đã bốn ngàn năm văn hiến (?), tiếng Việt chúng ta nói không bao giờ thay đổi, trải qua hàng ngàn năm chống ngoại xâm, nguy cơ bị Bắc thuộc đồng hoá mấy chục lần, nhưng vẫn không mất tiếng nói. Nên nhớ tiếng Việt gốc gác chúng ta phát âm khác người Hoa rất nhiều;
2)- Tiếng Việt, cách phát âm luôn luôn giữ nguồn gốc, chỉ có chữ nghĩa thì phải vay mượn từ phương Bắc (chữ Hán), sau này tìm cách thay đổi chút ít thành chữ Nôm. Đến thời chúa Nguyễn nhờ ông giám mục Bá Đa Lộc đem chữ La Tinh vào thay thế chữ Hán, biến thành chữ Quốc Ngữ (lấy 24 chữ cái Alpabets ghép lại thành đơn âm, đặc biệt có dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, vv…). Người Tây Phương mỗi lần nghe chúng ta nói chuyện cứ tưởng chúng ta ca hát vì 5 dấu đó (ví dụ từ một chữ MA, thêm 5 dấu phát âm khác nhau thành: MA, MÁ, MÀ, MẠ, MẢ và MÃ, sáu nghĩa khác nhau), có đúng là phức tạp không?
3)- Nếu không có chữ Quốc Ngữ (alphabets) phổ biến rộng rãi trong tất cả tầng lớp dân chúng, thì ngày nay con em chúng ta ngồi trươc máy tính, chắc chắn sẽ gặp khó khăn rất nhiều. Sự học con em nhờ vậy mà dễ dàng nhanh chóng, tiếp thu khoa học từ Tây Phương dễ dàng hơn, học tiếng Anh tiếng Pháp dễ hơn. Hình như những người gốc Bắc di cư, sinh trong Nam, viết chính tả ít sai văn phạm hơn vì lẽ cách phát âm hỏi ngã rõ ràng.
4)- Bây giờ thì nói đến chuyện phức tạp. Thử hỏi có nước nào trên thế giới, danh tự xưng hô trong quan hệ họ hàng lại lắm thứ lớp lang ngõ ngách, dây nhợ chằng chịt, gọi nôm nà là “con dì, con già” như ở VN không? Mỗi lần tôi về chơi VN cái khổ cực nhất là theo bà cụ thân sinh đi chào hỏi họ hàng xa gần, từ danh xưng “cậu, mợ, ba má, cha, mẹ, bác, chú, cô, dì, thím, già, ông trẻ, bà trẻ, ông nội, ông ngoại …cho đến dượng, vv…đôi khi tôi không hiểu tại sao phải gọi một cậu trẻ tuổi 15 bằng chú, mà mình thì đã gần lục tuần. Mà hình như chỉ có mấy bà cụ hom hem lại nhớ vanh vách mối dây liên hệ chằng chịt rễ má. Chưa nói là có vài ông nào đó trong gia phả cắc cớ cưới vợ hai, vợ ba, tạo thêm vài chi khác, thì cung cách xưng hô lại càng bí hiểm hơn nữa. Chưa nói đến chuyện kỵ tên huý, phải dùng tên đệm khác khai sinh, rắc rối điên cái đầu. Danh từ xưng hô lại thay đổi theo vùng, theo phong tục tập quán, có nơi gọi các cô là O, nẫu, mạ, có phải là phức tạp không?
5)- Tiếng Việt hoà với chữ Hán, muợn thêm văn hóa Trung Quốc, dùng điển tích Trung Hoa rất nhiều vì chịu ảnh hưởng Bắc thuộc cả ngàn năm, chỉ có người đi học lên đến cấp đại học mới hiểu, người bình dân không đi học làm sao hiểu thấu, rồi sau mấy trăm năm Pháp thuộc, pha trộn văn hóa phương Tây, sau này tiếp xúc văn hóa Mỹ, đẻ ra nhiều tiếng lóng, cộng thêm trò chơi “nói lái” chắc chắn dân hải ngoại như tôi chạy theo không kịp.
Tôi xa nhà hơn bốn mươi năm, trọ trẹ được vài ba chữ đem ra khoe chơi, chứ thực ra để tìm lại nguồn cội, chắc phải đăng ký học lại Bình Dân Học Vụ rồi.
Chào thân ái,
Tôi đồng ý với bác Trương Thái Du, bốn từ đó không phải là từ láy mà là do hòa trộn giữa các ngôn ngữ miền.
@ Bác Hòa Nguyễn
Về từ “miết” thì tôi vẫn nghe người dân trong Nam nói thường xuyên. Tôi cho “miết” vào loại trạng từ dùng để bổ nghĩa cho động từ đứng trước nó khi muốn diễn tả một hoạt động có tính kéo dài liên tục. Còn 2 từ gần nghĩa với “miết” là “diết” và “hoài”. Thật khólượng định được sự khác biệt về mức độ biểu cảm trong các câu mà một bà mẹ có thể dùng để than vãn với ai đó về đứa con trai ham chơi như dưới đây:
– Nó cứ đi chơi miết!
– Nó cứ đi chơi diết!
– Nó cứ đi chơi hoài!
@ Bác Lê Quốc Trinh : thì ra có hiện tượng “mọc đuôi tôm” ở lũ gà thật, giờ tôi mới tìm hiểu ra.
Bác Hoàng Trường Sa đừng nhầm “lái” với “láy”!
Sau đây là ý kiến của một độc giả trên DCVonline vài năm trước đây, tôi xin copy lại để quý vị thưởng thức :
S-37
Adelaide, Ozland
Quân Đội Nhân Dân = Quân Dận Nhân Đôi
Quân Dận Nhân Đôi = Quân Dận Nhân Hai
Quân Dận Nhân Hai = Quân Hại Nhân Dân
Câu nói láy này trước trẻ con ở VN đứa nào cũng biết
tôi có lần nghe một kiểu nói lái rất ngộ:
ngẩn ngơ -> ngở ngân -> ngân ngở -> ngơ ngẩn -> ngẩn ngơ.
hỏa tinh -> hỉnh toa -> hoa tỉnh -> hinh tỏa -> hỏa tinh.
nhân đọc về nói láy và nói lái, xin chia sẻ lại với mọi người đọc cho vui.
Ông Lê Quốc Trinh viết: ” … Riêng tôi thì nhận thấy tiếng Việt là một loại ngôn ngữ phức tạp nhất trên thế giới loài nguời này …”
Làm tôi nhớ lại có một lần trong giờ ăn trưa trong hãng tôi, thiên hạ thảo luận ồn ào về ngôn ngữ, tay nào cũng cho rằng tiếng của nước họ là hay nhất, đẹp nhất thế giới, v.v… Nhưng bỗng chốc tất cả đều im lặng, khi ông già janitor nguời da đỏ đang quét dọn phòng ăn chợt lại hỏi: “Vậy chắc quý vị biết hết tất cả các ngôn ngữ trên thế giới hay sao mà có thể xác quyết là ngôn ngữ của quý vị hay nhất thế giới?”
Chẳng nhớ có phải ông già là dân bộ tộc Navajo hay không nữa?
@Sacroyant Nguyen,
Hoàn toàn đồng ý với bác, câu “Vắng chủ nhà gà vọc niêu cơm” đúng chính xác hơn, nhưng tôi lại thấy “gà mọc đuôi tôm” nó quậy phá còn hơn nhiều, nhìn cái đuôi con tôm búng thì biết tiếng nói dân gian tượng hình không kém.
Theo tôi nghĩ có vẻ thì dân miền Nam thích nói lái nhiều hơn, dân miền Bắc thì thanh tao văn hóa nhưng không kém phần trào phúng và cay độc. Mỗi lần về chơi VN, chúng bạn rủ đi nhậu phải ráng nghe mấy mẩu chuyện trào phúng rồi nặn óc mà giải mã mấy cụm từ “nói lái”, mới hiểu văn chương dân gian VN ta không bao giờ mai một.
Trạng Quỳnh ta ngày xưa cũng thích chơi trò “nói lái” với chúa Trịnh thì phải. Rất nhiều câu đối trong dân gian pha trộn với “nói lái” không dễ gì đối lại.
Nói nhỏ với bác Lê Quốc Trinh,
Hồi tôi con nhỏ ở quê nhà, một lần nhắc đến thành ngữ ‘Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm’ thì được bà nội tôi chỉnh nói như vậy là không đúng. Bà nội tôi bảo chỉ có gà đang ra ràng mới mọc đuôi tôm và vả lại gà đang kì mọc đuôi tôm thì có chủ nhà hay không có mặt chủ nhà đuôi tôm của chúng vẫn mọc. Câu thành ngữ này có ý ám chỉ hiện tượng người cấp dưới thường hay làm việc xằng bậy, tự tung tự tác khi người cấp trên đi vắng. Bà nội tôi bảo câu thành ngữ đúng phải là ‘Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm’ Niêu tôm (cái niêu = cái nồi đất nhỏ) ở quê tôi thường được cất trên chạn bếp và hễ khi nào nhà vắng chủ là đám gà nuôi thả trong vườn lân la vào bếp bay lên chạn mà ‘vọc’. Đó là kinh nghiệm của tôi về thành ngữ ‘Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm’. Tôi nhớ mãi lời giải thích của nội tôi, nay bắt gặp nó được bác dùng lại trong bài viết của bác, tôi viết ít hàng nói nhỏ để bác tham khảo. Nếu bác thấy đúng xin bác nói to lên cho nhiều người cùng rõ.
Tôi cũng là người mê mệt với tiếng mẹ đẻ của mình. Cám ơn bài viết của bác.
Phụng Nghi
Ông Sacroyant Nguyễn Viết:
“ở trung du Bắc Bộ có nhiều vùng quê nơi mà các ông bà già cả vẫn nói “cộ trâu” thay cho “xe trâu”.
Điều thú vị là tôi từng nghe trong Nam ở vài vùng quê cũng nói “cộ trâu”, và như vậy “cộ” một từ ngữ rất xưa vẫn được bảo tồn rất lâu và rất xa nguồn. Trong Nam cũng còn giữ vài từ cổ mà ngoài Bắc có lẽ không còn dùng nữa. Tôi chỉ nhớ trường hợp như “miết”. Rất gần đây tôi nghe một người miền Nam (Lái Thiêu) nói: “ăn miết, làm miết”. Ngoài Bắc, trong văn viết thấy từ ghép “mải miết”, và trong văn nói dường như chỉ dùng “mải”, như “mải ăn, mải làm”, với ngữ pháp khác trong Nam.
Từ ghép “ngẩn ngơ” ngoài Bắc có khi chỉ dùng tiếng đầu là “ngẩn” (như ngẩn mặt, ngẩn người), và trong Nam thấy nói tiếng sau là “ngơ” (ngơ mặt). Vậy có thể “ngẩn” và “ngơ” đều có nghĩa riêng (gần gũi). Giống trường hợp của “rực rỡ”, không thể là từ láy, vì mỗi từ đều có nghĩa riêng, như nói “sáng rực”, và nói “rạng rỡ, rỡ mặt rỡ mày”.
Tôi thắc mắc về từ “ngùi” trong “ngậm ngùi”, “bùi ngùi”, và nghĩ chắc “ngùi” phải có nghĩa riêng, nhưng là nghĩa gì (rơm rớm hay nghẹn ngào ?). Hay “ngợi” nghĩa là gì, vì không thấy từ này đứng một mình mà nằm trong từ ghép, như: ca ngợi, ngợi khen.
Từ nguyên học (etymology) sử dụng trong từ điển tiếng Anh đi xa đến mức nhiều khi khó tưởng tượng họ truy đuợc nguồn gốc xa xưa của rất nhiều từ ngữ, còn ở VN dường như không được để ý. Như thế sao gọi là yêu tiếng Việt.
@ Lê Quốc Trinh :
Theo chỗ tôi biết, câu “vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm” đúng ra là “vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm”, do dân gian nói sai mãi thành quen.
Vọc : xục xạo vào (một cái gì đó), bới tung (một cái gì đó) ra.
Niêu : cái nồi nhỏ
Câu “vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm” nghĩa đen là chủ nhà đi vắng, con gà mới có cơ hội mò vào xục xạo niêu tôm kiếm ăn. Nghĩa bóng : người chủ sự không có mặt, thuộc cấp nhân cơ hội làm loạn.
Chứ nói “gà mọc đuôi tôm” thì tôi không hình dung được là thế nào!
Về chuyện nói lái, tôi thấy có một điểm hay là khi buộc phải sử dụng các từ tục tĩu, người ta có thể dùng cách nói lái để giảm bớt sự khiếm nhã. Cụ Lãng Nhân từng viết một bài tựa là “Lại hối” rất thú vị về chủ đề này, trong đó phân chia 2 kiểu nói lái ở miền Bắc và miền Nam.
Ngoài ra, tôi để ý rằng trong một cụm từ có nhiều hơn 2 âm tiết, sẽ xảy ra 2 trường hợp :
1. Nếu tổng số âm tiết khác 4, người ta thường chỉ thực hiện nói lái ở âm tiết đầu và âm tiết cuối, các âm tiết giữa giữ nguyên. Chẳng hạn : “Hoàng Hạc lâu” –> “lầu hạc hoang”, chữ “hạc” không thay đổi.
2. Nếu tổng số âm tiết bằng 4, người ta thường giữ nguyên âm tiết thứ nhất và thứ 3, lái 2 âm tiết thứ 2 và thứ 4. Ví dụ : “lên rừng xuống bể” –> “lên bề xuống rửng”, hai từ “lên” và “xuống” không đổi, chỉ lái 2 từ “rừng bể”. Tuy vậy, vẫn có thể lái theo trường hợp 1, nghĩa là nói thành “bê rừng xuống lển”.
3. Với các câu dài, người ta có thể tách ra từng cụm nhỏ để lái và ghép lại. Ví dụ trong truyện trạng Quỳnh có câu : “Sừ tiên ban/ sứ tiên cung/, sứ tiên bô/ tiền nang/ sảo thối”. Các dấu “/” là tôi thêm vào để phân tách các cụm từ được nói lái.
Khi tôi post comment trước để nêu ý kiến với ông Vương Văn Quang rằng các từ “Tiền bạc”, “Xe cộ”, “Chó má”, “Người ngợm” không phải là các từ láy, thì comment của ông Trương Thái Du vẫn chưa được duyệt. Không ngờ sau đó lại thấy cả hai có chung nhận xét.
NÓI LÁI TRONG NGÔN NGỮ BÌNH DÂN
Thân chào các bác,
Riêng tôi thì nhận thấy tiếng Việt là một loại ngôn ngữ phức tạp nhất trên thế giới loài nguời này. Bỏ đi tất cả những danh tự xưng hô “con dì con già” quá ư phức tạp trong quan hệ xã hội, bỏ qua những cụm từ Hán Việt làm cho người bình dân khó tiếp cận, thì tiếng Việt quả là rất gợi hình, gợi cảm ví dụ: “đèo heo hút gió”, hay “vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”. Vì dựa trên cấu trúc đơn âm mà tiếng Việt trong dân gian dễ bị biến đổi theo hình thức “nói lái” tức là phát âm ngược chữ làm cho người ngoài khó lòng mà hiểu, nhưng lại chứa đựng ý nghĩa rất ư thâm sâu, hiểu ra rồi là bật cười sảng khoái, ví dụ:
– Ai cũng muốn đứng lên “tranh đấu”, nhưng chỉ sợ “trâu đánh”, tuy nhiên một khi bị “trâu đánh”, “tránh đâu” cũng không khỏi, thì bó buộc phải “đấu tranh” mà thôi.
– Đi vô chợ trời nghe họ rêu rao: Đổi mới “tủ lạnh” đi bà con ! (nói lái là đổi mới “lãnh tụ”)
– “Chú phỉnh” tôi rồi “chính phủ” ơi !
– Con đường “Bác đi” là con đường “bi đát”
– Đem hình Bác đi “lộng kiếng” nhe bà con ! (lộng kiếng nói lái là “liệng cống”)
– Còn nhiều mẩu chuyện nói lái rất thâm thuý, dựa trên tiếng Hán Việt mà diễn dịch ra, ví dụ câu chuyện “Quy Mã” thàngh “qua Mỹ”, hay “Mã Quy” biến thành “Mỹ qua”.
– Hoặc nói lái từ tiếng Pháp: “très chaud” thành “trop cher”
Mỗi lần về chơi quê hương là có dịp nghe những câu “ca dao, tục ngữ, nói lái” tràn lan trên bàn nhậu. Bởi vậy tôi không lạ gì khi nghe ông Lâm Hoàng Mạnh diễn dịch bốn câu đồng dao về sự kiện vua Hùng. Nói lái đúng là một nghệ thuật dân gian, chỉ xuất hiện ở Việt Nam và phát triển rộng rãi sau này (từ năm 1975).
Tôi yêu tiếng nước tôi là vậy.
Lê Quốc Trinh
Chào ông Vương Văn Quang,
Tôi hiểu vấn đề ông muốn diễn đạt. Tuy nhiên xin có ý kiến về đoạn dưới đây:
Vương Văn Quang viết:
————————————————
Phần láy có nghĩa, ví dụ: Tiền bạc, Xe cộ, Chó má, Người ngợm… Ta thấy, bạc cũng là tiền, cộ cũng là xe, má cũng là chó (nghe nói, má là con chó… ăn thịt chó; người ngợm cũng tương tự).
————————————————
Theo tôi, các từ “Tiền bạc”, “Xe cộ”, “Chó má”, “Người ngợm” không phải từ láy mà là những từ ghép đẳng lập.
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Việt đã lần về được nghĩa gốc của rất nhiều từ có vẻ vô nghĩa trong các từ ghép trên. Chẳng hạn “cộ” cũng có nghĩa là “xe”, ở trung du Bắc Bộ có nhiều vùng quê nơi mà các ông bà già cả vẫn nói “cộ trâu” thay cho “xe trâu”.
Một số trường hợp tương tự: “bếp núc”, “tre pheo”, “sầu muộn”, “áo xống”…
Riêng từ “vé bướm” cả trong Nam lẫn ngoài Bắc tôi đều chưa thấy ai dùng. Nhưng “vé” và “bướm” đều là các danh từ chỉ một loại giấy tờ đặc dụng. Vé là tờ giấy đơn có chức năng xác nhận quyền tham dự các dịch vụ thu phí. Tờ bướm (tờ rơi), là một tờ giấy đơn dùng để giới thiệu sản phẩm hoặc tuyên truyền về một sự kiện nào đó. Có lẽ vì loại giấy này thường được rải khắp nơi cho bay loạn xạ trong không gian trông như những đàn bướm nên gọi là tờ bướm chăng? Sau này người ta in luôn quảng cáo lên vé bán cho công chúng, phải chăng vì vậy mà gọi luôn thành “vé bướm”?
Bốn từ kép này: Tiền bạc, Xe cộ, Chó má, Người ngợm… , không từ nào có thể gọi là từ láy cả. Nó là trùng ngữ, sinh ra do sự hòa trộn các ngôn ngữ vào nhau theo dòng lịch sử VN. Nhóm từ này chủ yếu gồm các ngôn ngữ: Việt – Thái – Mường – Hán – Quảng – Hẹ – Triều Châu .v.v…