trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
61 - 80 / 3021 bài
61 - 80 / 3021 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z


2.10.2008
Một độc giả

Trong ý kiến ngày 1.10.2008, ông Dương Phẩm có đề cập đến chuyện bà Nguyễn Thị Bình trả lời ký giả Michel Tauriac năm 1973:

"Thưa bà, xin trả lời tôi thẳng thắn, bà có phải cộng sản hay không?"

"Không, thưa ông, tôi không phải cộng sản."

và ông Dương Phẩm cho rằng bà Bình "chỉ là đảng viên cộng sản 'ở thì tương lai’ mà thôi".

Theo một bài báo trên VietNamNet, bà Nguyễn Thị Bình (tên thật là Nguyễn Châu Sa, cháu ngoại của cụ Phan Chu Trinh) đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1948. Năm 1998, bà được giấy chứng nhận 50 năm tuổi Đảng.

Và đây là lời bà Bình thuật lại câu hỏi đáp về đảng tịch của bà:

"Bà nhớ lại. Làm công việc ngoại giao căng thẳng, phải kín võ lắm. Sơ hở là chết. Có lần một nhà báo phương Tây hỏi: 'Bà có ở Đảng Cộng sản?’. Mình trả lời: 'Tôi thuộc Đảng yêu nước!’. Thế mà nó chịu đấy. Phương châm của mình là họ có quyền hỏi, mình có quyền trả lời. Nhưng trả lời thế nào để họ 'tâm phục, khẩu phục’, hiểu rõ hơn cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc mình. Đó mới là điều quan trọng!'"

Như vậy bà Bình đã dối trá khi trả lời phóng viên Michel Tauriac vì vào năm 1973 thì bà là đảng viên cộng sản đã được 25 năm.

Trong gần 4 năm sống trong xã hội cộng sản sau 30.4.1975, tôi nhận thấy những người cộng sản không xem chuyện dối trá là điều xấu, miễn là xong chuyện của họ. Ở Đại học Sư phạm Huế nói riêng và đại học Huế nói chung, rất nhiều giáo sư, sinh viên đã lộ bộ mặt cộng sản, mà trước đó họ đều chối, sau ngày 20.3.1975.
 


1.10.2008
Diêu Vy

Việc mang hộ chiếu Việt Nam ra nước ngoài mà bị soi mói là chuyện có thật. Rất nhiều người cũng đau khổ và cảm thấy mặc cảm như vậy. Trong thời gian gần đây, đánh động nhất là tấm hộ chiếu gắn liền với “xuất khẩu lao động”, “lấy chồng Đài Loan”, “làm dâu Hàn Quốc”... mà hậu quả thật bi đát. Một số cán bộ cầm tấm hộ chiếu đi công tác nước ngoài lại bị phanh phui về buôn lậu, hoặc “cầm nhầm” trong siêu thị, đến nỗi bị can thiệp trả về nước.
Không chỉ tấm hộ chiếu, hãy hỏi các sinh viên du học tại Hoa Kỳ, họ đều cảm thấy buồn khi cái bằng cấp của mình cũng bị "soi mói". Chính Bộ Giáo dục và cơ quan an ninh Việt Nam cũng phải lên tiếng là có quá nhiều bằng giả. WES là nơi thẩm định bằng cấp của sinh viên quốc tế. Việc thẩm định của WES đối với sinh viên Việt Nam có khi kéo dài hết tháng này sang tháng khác để xem xét sự thật của tấm bằng...

Chính vì thế, việc Đức Tổng Giám mục Hà Nội bức xúc mà nói ra những lời ấy quả thật là chính đáng lắm.
 


1.10.2008
Dương Phẩm

Nhân ông Trương Công Khanh phủ nhận mình không phải cộng sản, tôi bỗng nhớ lại hai lời phát biểu của hai nhân vật rất "nặng ký" sau đây:

1. Fidel Castro tuyên bố với một nhà báo Mỹ năm 1959: "Tôi đã nói một cách rõ ràng và khẳng
định là tôi không phải cộng sản."

2. Năm 1973 ký giả Michel Tauriac phỏng vấn bà Nguyễn Thị Bình:

"Thưa bà, xin trả lời tôi thẳng thắn, bà có phải cộng sản hay không?"

"Không, thưa ông, tôi không phải cộng sản."

Khi tuyên bố như trên, cả hai người chỉ là đảng viên cộng sản "ở thì tương lai" mà thôi, thế thì làm
sao dám nhận mình là cộng sản được?

Trước 1975, những cán bộ nằm vùng nếu bị bắt thì không bao giờ nhận mình là VC cả. Trong giới ký giả có Vũ Hạnh, Nguyễn Ngọc Lương, Huỳnh Bá Thành v.v..., trong giới sinh viên có Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy, Lê Hiếu Đằng, Võ Như Lanh v.v..., hay học sinh như Lê Văn Nuôi chẳng hạn.

Vì thế, việc ai đó chối hay tự nhận cộng sản chẳng làm tăng giá trị thuyết phục cho bằng lý luận và nhất là hành động của người đó.
 


1.10.2008
Lý Suy Gẫm

Chân tâm và ngụy tín

Khi Việt Nam chuyển sang “Đổi mới” thì chính sách cũng “đổi giọng”, kêu gọi nối lại khúc ruột ngàn dặm, trở về tiêu tiền, đóng góp tài vật, trí lực xây dựng quê hương. Nhưng chính sách xem chừng không hiệu quả lắm, nhất là “thu hút chất xám”. Hình như cái bộ phận chi đó có cái tên dài thoòng không nhớ nổi (Ủy ban phụ trách người Việt sống ở nước ngoài) đã không nhận diện được sự khiếm khuyết của chính sách thì phải. Hay biết sai mà không biết sửa.

Chính quyền Việt Nam cần phải nhận thức: Việt kiều có nhiều thành phần và đòi hỏi khác nhau để hợp tác. Việt kiều tiền (tỉ) xin miễn có ý kiến ở đây. Việt kiều trí (thức) mới là gai góc.

- Nhóm thứ nhứt chấp nhận chế độ và muốn hợp tác, nhưng không được trọng dụng và trọng vọng. Đòi hỏi của nhóm này vắn tắt là chính quyền cần thay đổi thái độ.

- Nhóm thứ hai được mời mọc, được trọng dụng, trọng vọng nhưng không chấp nhận chế độ. Cái điều kiện của nhóm này hơi khó nuốt: thay đổi chế độ.

Xin trân trọng cảm kích những chuyên gia, trí thức Việt kiều âm thầm ăn thịt heo mỡ mà đóng góp trí tuệ và ngã mũ cảm phục những nhà dân chủ từ chối xuất ngoại để được ăn thịt heo không chỉ, mà ở lại đòi hỏi những gì mà họ mong muốn và những người khác mong ước. Không cần bàn họ làm gì, được gì. Điều cần suy gẫm là cái chân tâm hay ngụy tín của những tinh hoa trí thức khi họ trương lên lòng yêu thương quê hương dân tộc.
 


30.9.2008
Cổ Luỹ

Đây thôn Vĩ Dạ, ngôi thứ vi diệu

Tôi thích thú đọc loạt bài "Đọc một bài thơ như thế nào", chuyên mục ngôi thứ trong thơ, của Nguyễn Đức Tùng. Việc vận dụng tốt ngôi thứ sẽ mở ra chiều kích cho một tác phẩm, nâng tầm giá trị của tác phẩm. Cao hơn, đưa một phần sáng tạo của tác phẩm cho độc giả.

Bài này gợi cho tôi nhớ tới một bài thơ nổi tiếng của Hàn Mặc Tử, một bài thơ mà một đời tôi chưa hiểu hết, bài “Đây thôn Vĩ Dạ”.

Sao anh không về chơi thôn Vĩ

Ai trách Hàn đây? Có thể là một người em (em yêu, em gái, cháu gái…). Nhưng tôi nghĩ không hẳn là người em. Người em ở đây chỉ là cái cớ, không có em nào thì Hàn cũng tự trách mình rồi. Vì vậy người đọc có thể nghĩ, đó là người em hay là chính mình vậy. Ta tuy hai mà một.

Câu tiếp theo,

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên,
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Câu thứ ba này tác giả bắt đầu dắt chúng ta vào ngôi khu vườn thiên nhiên Huế, cũng bắt đầu dắt ta vào cái xưng hô vi diệu.

Vườn ai trong câu thơ là vườn của ai? Có thể là vườn nhà em, có thể là vườn nhà anh, có thể khu vườn mà hai ta có cùng kỉ niệm, hoặc là một khu vườn nào đó ở thôn Vĩ, cũng có thể vườn của tưởng tượng mà thôi. Chưa kể vườn ở đây có nghĩa là tâm hồn em đây, như trong câu “Chiều đã đi vào vườn mắt em” (Trịnh Công Sơn).

Đọc các câu tiếp theo, không thể nói rằng người em đang nói chuyện với Hàn hay Hàn tự nói:

Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.

Thuyền ai, ở đây có thể không là chủ thể của vườn ai trên kia nữa, đã được nâng cấp, đã là người thân, và có thể thân thiết hơn… bởi trăng đã muốn đi cùng thuyền trên bến “sông trăng”. Người đọc lại đi vào một thế giới mới của Hàn. Giờ đây không còn tôi và em mà hoà nhập vào sông và trăng. Kì thực đọc đoạn thơ này, tôi không biết ai là trăng, ai là sông, hay trăng là trăng, sông là sông; hoặc ngược lại. Ngôi thứ ở đây đã biến đổi kì ảo giữa ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai và hai nhân vật sông trăng ở ngôi thứ ba.

Mơ khách đường xa khách đường xa,
Áo em trắng quá nhìn không ra,

Em là em, hay em là trăng, hay bóng dáng của kiều nữ trên sông Hương. Hay chỉ là tưởng tượng của Hàn, bởi tưởng tượng nên Hàn cố lộ cho ta thấy bằng câu, trắng quá nhìn không ra. Dĩ nhiên bằng cách nào đi nữa, ta cũng thấy cái tuyệt vọng của nhà thơ.

Tuy nhiên hai câu cuối không quá tuyệt vọng như ta tưởng:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà.

Nhờ chữ “ai”, sự trách móc (nếu có) cũng nhẹ đi. Bởi tôi có trách em không đậm đà chăng nữa, thì tôi hãy nhìn lại mình, biết đâu tình tôi có đậm đà bằng tình em không. Ai biết tình ai. Ngôi thứ mông lung và diệu vợi. Đó là ngôn ngữ của thơ, là linh diệu của trời đất, của sương khói sông Hương.