talawas blog

Chuyên mục:

Trương Thái Du – Đọc “Bức tường Berlin” của Huy Đức

04/09/2009 | 10:04 sáng | 43 Comments

Tác giả: Trương Thái Du

Category: Chính trị - Xã hội, Thế giới
Thẻ: >

Bàng bạc trong bài viết “Bức tường Berlin” là nỗi niềm độc lập tự do. Nó không khác mấy nội hàm ở khẩu hiệu “Không có gì quí hơn độc lập tự do” của Hồ Chí Minh. Song, nếu Hồ Chí Minh đào sâu nỗi niềm độc lập – tự do trong Tuyên ngôn Độc lập của mình thì rất tiếc, nhà báo Huy Đức lại sử dụng “độc lập, tự do” như một cái cớ khập khiễng để nhẩy múa trên những sử liệu một chiều.

Lịch sử nào? Lịch sử của “Bức tường Berlin” mà Huy Đức trưng ra là thứ lịch sử theo nhãn quan phương Tây. Để hiểu “nhãn quan phương Tây” khách quan thế nào, chúng ta đã có 80 năm nô lệ được khoác vào mỹ từ “khai hóa”. Hoặc gần đây hơn, vào ngày 25.1.2006, Nghị viện châu Âu đã thông qua Nghị quyết 1481 kết án mấy chục năm chủ nghĩa cộng sản kinh viện và giáo điều, toàn trị. Khoan hãy nói đến nội dung Nghị quyết 1481, về mặt hình thức, phương Tây chưa có thứ gì tương tự cho hàng ngàn năm Trung cổ man rợ dưới ách nhà thờ La Mã, cả trăm năm diệt chủng ở châu Mỹ, châu Phi và một phần châu Á. Chỉ điều đó thôi, đã thấy “nhãn quan phương Tây” chưa chắc không mang tính thù hằn và phục vụ mục đích chính trị trước mắt.

Có một câu nói cũng của Tagore, ít lòe loẹt hơn slogan tôi thấy trong blog Osin[1], đại ý là phải dung nạp được những giá trị vĩ đại của nền văn minh phương Tây, mới có thể đứng vững trước sự đê hèn cùng cực luôn mặc định trong nó. Dân tộc Việt Nam là dân tộc đầu tiên của nhân loại đã đoạt được giải “Nobel vệ quốc” vào năm 1972, nhưng phương Tây lại đặt tên phần thưởng cao quí ấy một cách hài hước là “Hòa bình”, nên người đại diện của họ là Lê Đức Thọ đã phải ngẩng cao đầu bên những hố bom còn nóng hổi để từ chối. Đây là cạm bẫy của ngôn ngữ, sự lệch pha giữa hai nền văn minh hay là thủ đoạn chính trị? Thật khó lý giải.

Vì khoác lên “bức tường ô nhục” nỗi niềm tự do và độc lập dưới nhãn quan của kẻ chiến thắng cuối cùng, tác giả Huy Đức đã vô tình bỏ sót một lý do sụp đổ lớn lao của nó là ý chí thống nhất của người Đức, dân tộc Đức. Khát khao tự do? Đúng nhưng chưa đủ. Người Đức còn có khát khao thống nhất. Khi một nền văn hóa này muốn thôn tính nền văn hóa kia người ta gọi là xâm lăng, song, khi hai nửa của một nền văn hóa bị ngoại bang chia rẽ muốn tái hợp thì phải gọi nó bằng một từ kép đầy nước mắt và quá đỗi gần gũi với người Việt Nam, đó là thống nhất. Nỗi niềm thống nhất vẫn luôn là vấn đề thời sự của truyền thông toàn cầu dưới tên Hàn Quốc – Triều Tiên. Nó bị bỏ sót trong trường hợp nhà báo kỳ cựu Huy Đức là một ngạc nhiên lớn của tác giả bài này.

Thống nhất là đoàn kết, là tập hợp sức mạnh nội tại, là mục đích tối thượng của đa nguyên tư tưởng. Khi một tư tưởng “lạ” và đầy phiến diện được quần chúng tung hô, tôi thấy đáng lo ngại hơn là vui mừng. Bản thân “xét lại” luôn có hai mặt trái phải điều hòa, chỉ sử dụng mặt trái của “xét lại” (ở đây là quan điểm một phía về bức tường Berlin), e rằng tác giả bài báo “Bức tường Berlin” thích đánh đổ hơn là xây dựng, thích a dua nhai lại với thiện chí (nhưng áp đặt, cực đoan) của Tây phương[2] hơn là cân nhắc, suy xét và áp dụng chúng đúng nơi, đúng chỗ.

Cái nồng nhiệt thiếu lý tính với những giá trị bề nổi của phương Tây trong bài “Bức tường Berlin” của Huy Đức, thật ra không mới. Xưa kia, Việt Phương đã từng cay đắng chỉ ra sự ngây thơ chết người của tư duy xã hội bắc Việt một thời: “Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ / Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ”.

Hình ảnh những bó hoa tươi trong các “nghĩa trang dân lập” mà Huy Đức sử dụng rất xúc động, nhưng quả tình nó không thể phản ánh đầy đủ sự phức tạp của Thế chiến thứ Hai, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc hình thành Bức tường Berlin. Quân Đồng minh với vai trò cốt cán của Mỹ đã tính toán “xương máu” rất kỹ trước khi quyết định “nhường bước” cho Hồng quân thọc sâu vào hang ổ cuối cùng của chủ nghĩa phát xít. Tư duy “con buôn” trên sinh mệnh những người cùng chiến hào nhưng khác ý thức hệ chưa được xem xét cẩn trọng. Có những viên gạch trong Bức tường Berlin hằn sâu dấu ấn nghi kỵ, thiếu tin tưởng với một đối tác “láu cá” giảm thiểu “dây máu” nhưng tích cực “chia phần”.

Không có gì ấu trĩ hơn khi đơn giản hóa, lành mạnh hóa và có phần thánh hóa con người chính trị của văn minh Tây phương. “Bức tường Berlin” của Huy Đức đã tuột sâu vào vũng lầy nhị nguyên tốt – xấu phân minh tách bạch, thiếu biện chứng và hời hợt. Là một người đọc lý tính, tôi mong chờ ở Huy Đức những bài báo sâu sắc, hơn là chuỗi cảm nghĩ nông cạn của một du khách cưỡi ngựa xem hoa trong viện bảo tàng. “Bức tường Berlin” và những nhược điểm của nó rất dễ trở thành “ổ gà” cho những cái đầu nóng hổi cảm tính và dễ bị thiên kiến lôi kéo.

Cuối cùng, tôi thấy mình hoàn toàn đồng cảm với câu kết của Huy Đức: “Một cuộc chiến không còn được coi là “giải phóng” nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do”. Tuy nhiên độc lập tự do, hay nói rộng hơn nữa là dân chủ và nhân quyền, suy cho cùng, luôn là một hành trình gian khó và dài lâu. Nó luôn bắt đầu bằng văn hóa và kết thúc trên mặt trận văn hóa, chứ không thể lập tức nảy mầm sau khi khói súng vừa tan (hãy xem trường hợp Iraq chẳng hạn). Và hơn hết, nó là một quá trình tự thân đắt giá, những yếu tố và bài học ngoại lai nếu có, chỉ nên coi là tham khảo có giới hạn và chọn lọc. Thật nguy hiểm khi xem đấy là hình mẫu để học đòi, rồi cố sức “trèo tường” và “đập tường”. Bức tường Berlin xây bằng gạch đá và dây thép gai đã biến mất chỉ sau một đêm, nhưng những gì ngăn cách và hủy hoại mối quan hệ giữa người và người cùng một chủng tộc, mười lăm năm sau vẫn chưa dễ vượt qua. Washington Post gọi đấy là “the wall in the mind”, bức tường trong não bộ[3].

Ảo tín vào những điều không tưởng của một người lính xuất thân từ nông dân luôn dễ hiểu hơn ảo tín của một nhà báo chính trị xã hội già dặn nơi phồn hoa. Tôi rất hy vọng sẽ được trao đổi thêm với tác giả Huy Đức dưới hình thức blog, để nhận ra những thiên kiến đáng trách và sự hãn hữu của đầu óc mình.

Sài Gòn 2

31.8.2009

© 2009 Trương Thái Du

© 2009 talawas blog


[1] Slogan trên blog Osin: Cái cây tìm sự cô đơn ở trên cao / Ngọn cỏ tìm sự đông đảo ở dưới đất. (Tagore)

[2] Ý của nhân vật Ka, trong tiểu thuyết Tuyết của nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk, Nobel 2006.

[3] http://www.washingtonpost.com/ac2/wp-dyn/A18734-2004Apr16?language=printer

Bình luận

43 Comments (bài “Trương Thái Du – Đọc “Bức tường Berlin” của Huy Đức”)

  1. Phú Thư viết:

    Thưa ông Tôn Văn,

    Ông thiệt quá là rộng lượng, đến giờ mà cũng còn nhắc đến “chúng” nữa. Tôi thưa với ông rồi là tôi hay có tật bắt chước, ông đã không thích từ “chúng” thì tôi đã bỏ nó đi rồi mà?

    Tôi không có vấn đề gì với khái niệm “Thống nhất đất nước và toàn vẹn lãnh thổ là yêu cầu tối thượng của một quốc gia” mà ông nêu ra. Tôi cũng đã đồng ý với ông lúc đó, nhưng không có nghĩa rằng tôi phải đồng tình với ông lúc này rằng “thống nhất” = “trọn vẹn lãnh thổ”, vì rằng “trọn vẹn lãnh thổ” chỉ là một trong các “điều kiện cần” để có được “thống nhất” mà thôi. Cho nên, chỉ dùng sự kiện “trọn vẹn lãnh thổ” để kết luận sự kiện 1975 là “thống nhất” là sai (theo toán học). Tôi cũng đã không đồng tình như ông đã nói: “Nước Việt Nam sau nỗ lực của toàn dân đã đạt tới thống nhất…”, và đã cho nó mang tính áp đặt sáo rỗng, vì nó giống câu nào mà tôi đã học được dưới mái trường XHCN. Như tôi cũng đã thưa với ông Trương Thái Du, muốn xét rằng sự kiện VN 1975 có phải là sự kiện thống nhất hay không thì phải xem xét kỹ đến những diễn tiến trước đó. Cũng xin thưa với ông, sự kiện chấm dứt chiến tranh VN 1975 không phải là nỗ lực của toàn dân VN, và theo tôi thì cho đến giờ phút này toàn dân VN vẫn còn đi tìm hai chữ “thống nhất” trọn vẹn cho quốc gia mình, và điều kiện tối thượng là chính quyền đương thời phải có thiện ý làm chuyện đó. Còn nói về CS, CNCS nói chung và CSVN nói riêng chưa từng được ai ca ngợi là tốt ngoài những người lãnh đạo CS đang cưỡi cổ người dân, và họ đã bắt đầu xấu xa từ khi mới hình thành thì làm gì có chuyện thái hóa sau đó. Tôi nghĩ mình không cần phải tranh luận về khía cạnh này.

    Đáng lẽ ông cũng nên hiểu nhiều và cảm thông với tôi. Tôi đã cố gắng cho ông thấy rằng NS Lam Phương không thể đại diện cho toàn dân, bằng chứng là đã có mảnh máy bay như ông kể, và NS Lưu Hữu Phước cũng không thể xúi giục được toàn dân, bằng chứng là một phần của toàn dân bị… quét xuống nghĩa địa, quét vào nhà tù, quét ra biên giới… Một khi phe chiến thắng vẫn còn ghiền mùi thuốc súng chiến tranh, vẫn làm cho nó “sống mãi”, thì hai chữ thống nhất còn chưa thức hiện được huống chi là việc bảo vệ lãnh thổ. Nay ông nói: “việc mất mát lãnh thổ và nguy cơ mất chủ quyền đất nước đã và đang diễn ra mà những người trong nước đang phải đấu tranh rất gian khó nhưng thông minh với nhiều loại kẻ thù”. Chúng ta (cho bắt chước một lần thôi nhé) sao không tự hỏi: Những người đang tranh đấu tại sao chỉ là những người trong nước? Nhiều loại kẻ thù đó là những loại nào và ra sao? Kẻ thù nào là của ai?

    Sỡ dĩ tôi có lập luận của tôi, vì tôi mơ ước rằng biết đâu chừng chính quyền trong nước thấy được nhu cầu thống nhất đất nước là chưa đạt và tất yếu, tự động chấm dứt những tự mãn vô bổ và trở nên đồng thuận với lòng dân để cùng hướng tới mục đích tốt đẹp chung cho toàn dân tộc. Mơ ước thì vậy thôi, nhưng thực tế thì đã có lắm kẻ bể nồi người sứt trán, mâu thuẩn giữa dân và chính quyền chưa từng nguôi ngoai và ngày càng đáng sợ, và chính quyền đầy vũ lực đã từ sai tới sai mà chưa từng sửa sai. Tôi nghĩ rồi người ta cũng phải nghĩ tới tương lai, vì ân oán càng chất chồng thì luật pháp công minh nào có thể xét xử cho thấu, còn để giải quyết bằng tư thù thì không ai hiểu rõ hậu quả bằng những người CS. Mâu thuẫn nào rồi cũng sẽ được giải quyết, và hy vọng đó là sự “kết thúc trên mặt trận văn hóa – TTD”.

  2. Tôn Văn viết:

    2009-09-12/04:23 – 07:31
    Thưa ông Phú Thư,
    Lần này tôi viết hồi đáp khá muộn sau khi đọc ông không phải vì cần nhiều công gọt dũa tư duy mà là cần nghĩ xem có nhất thiết viết tiếp hay không. Mặc dù nhà văn Phạm Thị Hoài có mở ra khả năng „còn một lời nói cuối/(thêm)“, nhưng tôi vẫn đắn đo vì nhớ lời dân gian nhắc nhủ khi muốn „nói đi nói lại…“. Cuối cùng tôi quyết định trao đổi thêm vì có những điểm chưa thoải mái về nội dung; nhưng trước hết tôi cũng bàn qua về điều mà chắc chắn ông cho là rất lý thú: 2 chữ „chúng tôi“. Tôi hy vọng quý bạn đọc lượng thứ cho một lần về bệnh „lắm điều nhiều lời” này.
    Có 2 “tiền án” trong talawas cũ: Trong một cuộc tranh luận, một tác giả đã khoái chí tuyên bố: Lần trước tôi đưa ra một khái niệm rồi bỏ lửng, cốt để cho ông ấy suy diễn; Nay quả nhiên như thế… Tôi cảm ơn ông Phú Thư đã chân tình bày tỏ dụng ý ông dùng chữ „chúng tôi“. Nhưng 2 chữ này cũng có một tiền án khác: Một nhà phê bình rất hay dùng chữ “chúng tôi”; một bạn đã nhắc nhở ông rằng chẳng nhẽ ông có thể nói “Vợ của chúng tôi” à?… Tôi đã không quên những điều này; nhưng tại sao tôi dùng chữ „chúng tôi“ trong ý kiến của riêng tôi? Tôi viết: „Trong ý kiến trao đổi muộn sau đây“ nghĩa là đây là 1 trong 2 ý kiến của tôi trên talaws blog; cũng nghĩa là tôi không và chẳng bao giờ thuộc phái cánh nào. Nhưng khi muốn nói một điều gì có vẻ „đanh thép“ mà không hẳn riêng của mình, tôi cho rằng dùng “chúng tôi” có ý nhún và khiêm hơn. Tiếc rằng ông đã không „thông cảm“ được và cho rằng (lại xin cảm ơn sự chân tình của ông) do tôi “phân “chúng tôi” trong ý kiến trước“ nên ông „cũng chia “chúng tôi” cho … xôm tụ thôi mà.“ Cái nguồn cơn của sự „xôm tụ“ này cũng được ông chân tình thổ lộ: Câu khẳng định của ông không phải là mới mẻ vì hình như tôi đã được dạy học thuộc từ lâu lắm rồi, và vì tôi biết không phải là lời của chính ông, nên tôi đâm ra ngờ ngợ, cũng như ngờ ngợ mấy chữ viết hoa của ông rồi đâm ra … xúc động lung tung…
    Nghĩa là (chữ) “chúng tôi” bị đánh oan vì cái người dùng chữ „chúng tôi“ đã định đem cái điều „không phải là lời“ của mình để „khẳng định“ với những người „ đã được dạy học thuộc từ lâu lắm rồi “. Nhưng tôi tin điều khẳng định của tôi khác điều ông hiểu.
    Tôi nêu khái niệm: “Thống nhất đất nước và toàn vẹn lãnh thổ là yêu cầu tối thượng của một quốc gia“ là thấy cần thiết khi đọc định nghĩa của tác giả Trương Thái Du mà ông cũng đồng ý và trích dẫn: “thống nhất” (là đoàn kết, là tập hợp sức mạnh nội tại, là mục đích tối thượng của đa nguyên tư tưởng – TTD). Thưa ông, “thống nhất” tôi nêu lên và hiểu rằng đó là nghĩa chữ “Vereinigung” (bring together). Cho nên sau khi thống nhất đất nước, người Đức nói: Jetzt gehört zusammen, was zusammengehört – Nay đã trở về với nhau những gì vốn thuộc về nhau; Nghĩa là đất nước, nghĩa là lãnh thổ – trước hết. Với cách hiểu ấy, ta hoàn toàn có lý khi nói rằng nước Việt Nam đã thống nhất từ năm 1975. Ý nghĩa “thống nhất” của ông Trương Thái Du, và ông đồng ý, là thuộc về tư tưởng chỉ có thể ứng với “einig” (be agreed, in agreement). Việc hiểu nội hàm khái niệm này quan trọng lắm. Trong khi tôi nêu lại lời bài hát của Lam Phương và máy bay “biệt kích” Sài Gòn với ý trân trọng ước nguyện thống nhất đất nước của những con người cùng dòng máu Việt thì hình như ông đã hiểu khác – vẫn nhị nguyên… Tôi vẫn biết khi nói về những chuyện của thời gian cũ, thế hệ trẻ thường chế nhạo một cách thương hại: anh/chú/cậu cứ dùng mãi cái đồng hồ đã chết từ thời ấy…
    Ông Phú Thư, tôi hy vọng ông chia xẻ những suy nghĩ của tôi. Tôi muốn “bàn (một cách ngắn gọn) về khái niệm „thống nhất“” là muốn để có nhiều thời gian theo dõi và suy nghĩ “việc mất mát lãnh thổ và nguy cơ mất chủ quyền đất nước đã và đang diễn ra“ mà những người trong nước đang phải đấu tranh rất gian khó nhưng thông minh với nhiều loại kẻ thù. Cuộc đấu tranh cho tự do ngôn luận, vãn hồi đạo đức, thượng tôn hiến pháp của những luật sư, nhà báo trẻ nam và nữ … chính là cuộc đấu tranh giải toàn trị mà chúng ta (tức là tôi) không còn cơ hội (hay dũng khí?) tham gia nhiều hơn. Chúng ta (xin lỗi, tức là tôi) chỉ biết hoan hô những lời lẽ đanh thép, những đối đáp khôn ngoan, những lý luận sắc sảo của họ nhưng không hề chia sẻ những trấn áp tù đày đối với họ mà đôi lúc còn cố hô hoán: Ớ, Ớ! Cũng sợ chết, sợ bị bắt đấy kìa! (?!) Chắc khi có thời gian tôi phải nghĩ thêm chút ít về liêm sỉ của mình…
    Tôi hy vọng Ban Biên tập cho phép tôi được góp thêm ý kiến cuối cùng trên, trong đề tài này.
    Trân trọng.

  3. Phú Thư viết:

    Thưa ông Tôn Văn,

    Cám ơn ông đã rộng lượng và tận tình, nhưng mà ông đã bắt bí câu hỏi tu từ của tôi trong ý kiến trước kia đấy nhé. Mục đích tôi đưa ra dữ kiện đó cũng là góp phần tranh luận về đề tài bức tường mà thôi. Tôi lại không nghĩ vì thế mà buồn khổ, hoặc vì buồn khổ mà không nên tỏ bày như thế, có lẽ vì tôi đã tìm đến talawas từ một mảnh đất khác hay là từ một thế hệ khác (như ông nghĩ)? Mà xin hỏi thiệt ông, khách quan đi nhé, tôi hoàn toàn không Quốc Cộng đây nè, nhìn nhận của tôi như thế có hơi bị …đúng không? Tuy nhiên, đồng ý với ông, tôi cũng mong muốn trao đổi bằng những phản biện có thể, biết đâu chừng sẽ mở hướng khách quan nào đó cho ai. Và cũng thành thật xin lỗi ông, là tôi hay có tật bắt chước, thấy ông phân “chúng tôi” trong ý kiến trước thì tôi cũng chia “chúng tôi” cho … xôm tụ thôi mà. Tôi không có ý không tôn trọng ông, lại càng không có ý làm khó ông đâu.

    Câu khẳng định của ông không phải là mới mẻ vì hình như tôi đã được dạy học thuộc từ lâu lắm rồi, và vì tôi biết không phải là lời của chính ông, nên tôi đâm ra ngờ ngợ, cũng như ngờ ngợ mấy chữ viết hoa của ông rồi đâm ra … xúc động lung tung, mong ông thông cảm. Hai chữ “nhất thống” của ông, theo quan điểm của tôi, thì nên áp dụng vào sự kiện 1975 cho khỏi mắc công bị biến dạng sau đó, và toàn dân VN trong và ngoài nước cho đến nay vẫn luôn mong muốn có được cuộc thống nhất thật sự. Người đã mơ giấc mơ của Lam Phương, kẻ còn hát bài hát của Lưu Hữu Phước, các bác mơ về Thăng Long để trăng thanh bình tỏa sáng, các anh ca tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù … sự thật nó thế, muốn xóa bỏ thì phải làm sao, đâu phải chỉ có cố gắng nội tâm của từng cá nhân là đủ? Rồi một ngày nào đó, người ta nhắc đến chuyện Quốc Cộng cũng như chuyện Trịnh Nguyễn, thì may ra họ có thể bình thản về sự kiện nhất thống 1975, vui mừng với sự kiện thống nhất 2XXX, liệt sĩ hai phía được ghi công, thương binh ba miền được nhớ đến, và các trang sử giáo khoa không còn là “tà” hay “chánh” nữa …

    Trở lại với hiện tại, khi có người đang vừa rung đùi vừa đọc talawas, lại có kẻ vừa đọc talawas vừa phải nhìn láo liên, tôi lại bắt chước nói thế này: “Thống nhất là mục đích tối thượng cho một quốc gia”. Phe có trách nhiệm cho sự kiện VN 1975 hay chính quyền VN sau 1975 cho đến nay vẫn chưa làm tròn trọng trách này, mặc dù họ chỉ cần có chút thiện ý mà không cần phải “ả là tự sát” thì có thể làm được chuyện đó (chưa dám nói đến mấy chữ TÂM & TRÍ). Toàn dân thì hình như cũng đã nổ lực, và tôi thì cũng vừa kêu gọi gởi thư kiến nghị lên chính quyền rồi đấy nhé.

    “Hoa thu không nắng cũng phai màu
    Trên mặt người kia in nét đau”
    (Xuân Diệu)

  4. Phú Thư viết:

    Thưa Trương tiên sinh,

    Được nhiều người ghét, có lắm người chửi, nhưng ít người lại có vẻ thấu hiểu, thì ông phải vui mới là đúng chứ. Tôi nghĩ những bài viết của ông thì nghiêm túc, có giá trị và cần thiết. Chỉ sợ rằng ai đó quá hiểu nên đem trau chuốt lại rồi kèm thêm huân chương lao động cho tác giả, như trường hợp ông giáo sư tiến sĩ Trần Chung Ngọc kia, thì lúc đó không biết ông nên cười hay mếu.

    Không dám dùng trải nghiệm của mình đâu, tôi chỉ xin ráng vắn tắt với chút tư duy hữu hạn của mình mà thôi. Tôi nghĩ từ những thứ văn minh trong xã hội ngày nay cho đến các món “tự do”, “dân chủ” mà người dân thời đại cần có, cũng là… bắt chước từ phương Tây cả, vậy thì cũng cần phải tin vào cái gọi là “giá trị phương Tây” chứ. Hơn nữa, ông Huy Đức mượn chuyện Tây để nói về những thứ mà mình muốn có được như Tây, mượn thôi mà, dễ dãi chút cũng đâu có sao? Nhưng mà bạn đọc phải nghe lời răn của ông Trương này, đừng nên bất mãn rồi cố sức trèo đập linh tinh, vì tự thân thì sẽ đắt giá đó nhá.

    Niềm tin vào sự kiện “giải phóng” đất nước 1975 vì mục đích hòa bình và thống nhất của dân tộc cũng là chủ ý của ông cho mô hình “mặt trận văn hóa hậu tàn khói súng” kéo theo mà thôi, và lần này thì ông quả là dễ dãi thiệt. Tuy nhiên, người ta đâu có dễ dãi đồng tin như mình, vì sự kiện hai miền Bắc Nam trước 75 còn biết bao điều cần minh bạch và hóa giải, và biết đợi cho đến bao giờ mới tan hết khói súng khi phe thắng trận chưa từng có thiện ý làm chuyện đó. Như ông đã định nghĩa trong bài chủ thì Việt Nam nào đã được “thống nhất” sau khi được “giải phóng” những 34 năm? Niềm tin của ông cũng như lời khẳng định của ông Tôn Văn vậy đó, nó chỉ mang tính áp đặt sáo rỗng thôi thì những lý luận theo sau sao lại có thể thuyết phục được?

    Vậy thì nên nhất trí như thế này nhá. Chúng ta sẽ cùng nhau ký tên yêu cầu ĐCSVN hãy xúc tiến thống nhất đất nước, xóa tan khói súng chiến tranh, thiết lập mặt trận văn hóa cho dân chủ và nhân quyền. Zdụ này chắc phải nhờ đến ông Phạm Toàn quá.

  5. Tôn Văn viết:

    2009-09-10/21:11-22:44
    Thưa ông Phú Thứ, trước hết xin trân trọng cám ơn sự quan tâm của ông tới ý kiến ngắn của tôi. Theo tinh thần ở đó: „việc đối thoại để nhìn rõ vấn đề là cấp thiết“, xin được trao đổi cùng ông một số điểm với hy vọng có được những sự cảm thông nhiều hơn.
    Trước hết, về phương pháp luận, tôi thường cố gắng tìm hiểu ý người viết muốn nói lên điều gì. Muốn thế phải đọc được càng nhiều càng tốt ý kiến của họ. (Tất nhiên là trong phạm vi có thể và cũng không cần toàn bộ.) Trong chủ đề này, tôi đã đọc được của ông 2 ý kiến và cố gắng hiểu ông để không làm ông thất vọng thêm trong phản hồi của mình.
    Thứ hai, trong vấn đề trao đổi học thuật để nâng cao tri thức bản thân, điều quan trọng là hết sức tránh để cho tình cảm (Emotion) và định kiến chi phối; nó ngăn cản ta nhìn nhận khách quan bắng „trí tuệ sáng tỏ“. Tôi nghĩ ông dễ dàng đồng ý với những điều trên.
    Từ cơ sở này, tôi cho rằng việc ông phân tuyến „chúng tôi“ (5 lần trong 1ý kiến) và „các ông“ (2 lần) đã làm khó cho tôi; theo đó tôi phải đọc lại (như kiểm duyệt của mọi thời toàn trị) hết cả 38 ý kiến (tới thời điểm này) để xếp cái nào vào cái nào. Thưa ông, tôi thấy buồn khổ (không dám thêm „đến rớt nước mắt“ vì thấy dùng từ gợi cảm là không cần thiết) vì đã sống ở cái phần khá tự do của thế giới, đã tìm đến talawas, … mà vẫn còn nguyên câu hỏi trong ý kiến trước của ông: „Bức tường ranh giới Quốc Cộng bên ngoài còn chưa xóa được thì sao có thể nói đến bức tường lòng?“.
    Bây giờ xin có ít cố gắng cụ thể. Ông hỏi: „cái lý gì để khẳng định rằng sự “thống nhất” (1975) của Việt Nam là “nỗ lực của toàn dân”?. Tôi xin trình bày rằng: Tôi xuất phát từ nguyên lý chung: „Thống nhất đất nước và toàn vẹn lãnh thổ là yêu cầu tối thượng của một quốc gia“. Còn nếu ông muốn hỏi cụ thể sự kiện vào năm 1975 thì xin thổ lộ cùng ông rằng nhận thức này đến với tôi rất tình cờ và lãng mạn khi nghe bài „Chuyến đò vĩ tuyến“ trong chương trình Thuý Nga Paris by Night (sáng tác Lam Phương, trình bày Quang Bình, Thanh Lan): Rồi mai đây quân ta về Thăng Long; Trăng thanh bình (tỏa sáng) quê hương… Thuở nhỏ, tôi đã theo người lớn đi xem triểm lãm những mảnh xác chiếc máy bay C47 chở những người biệt động Sài Gòn bị bắn rơi trên miền Bắc…
    Kính thưa ông Phú Thứ, xin hãy đau cùng tôi khi nghĩ lại những trang này và tự mình hãy làm cho bức tường ngăn cách sớm bị xóa bỏ. Nếu không cảm thấy dư, xin được ghi thêm điều ai cũng biết: Chỉ có TÂM trong, mới mong TRÍ sáng!
    [PS: CHÍNH và TÀ tôi xét trong phạm trù „việt gian“ (lịch sử, khá dài và lý thú); không nên quá xúc động khi nghĩ đến ông Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Nguyễn Minh Triết mà talawas vừa nhắc đến!]

  6. Trương Thái Du viết:

    Thưa ông Phú Thư,

    Tôi nhẹ cả người khi đọc comment của ông. Tôi viết bài này khá đứt đoạn vì ngại ngần, giữa thời điểm nhạy cảm với những người đọc cảm tính. Tôi cũng thấy talawas duyệt đăng trong sức ép vô hình của tự do ngôn luận mà tất cả chúng ta hướng tới. Cũng như Huy Đức, chuyện nước Đức với tôi cũng chỉ là nói mượn mà thôi. Tôi ngạc nhiên với niềm tin khá dễ dãi với các giá trị phương Tây của tác giả Huy Đức. Do đó trong bài này tôi đã dẫn câu thơ của Việt Phương.

    Tôi cũng suy nghĩ khá nhiều về nội hàm thống nhất. Tôi tự hỏi tại sao ý tưởng cho rằng Bắc Việt xâm lăng Nam Việt chỉ tồn tại ở một thiểu số rất nhỏ. Với sự trải nghiệm giới hạn của mình, tôi tin hòa bình và thống nhất là ý chí chủ đạo của dân tộc Việt Nam trong các diễn biến “giải phóng” 1975. Đây chính là điểm mấu chốt nói lên sự khác nhau trong việc nhìn nhận vấn đề giữa tôi và Huy Đức.

    Tôi không đổ hết trách nhiệm “độc lập – tự do” cho sự nghiệp “giải phóng” mà nêu rõ đó phải là nghĩa vụ “sau giải phóng” của mỗi người, nó chính là một phần nội hàm “văn hóa” mà tôi đề cặp đến.

    Tôi theo dõi tất cả comment của mọi người trên talawas, blog Nguyễn Quang Lập, Huy Đức và Trương Duy Nhất. Chất lượng bạn đọc ở đâu thấp nhất thì ở đó người ta chửi tôi nhiều nhất, thậm chí họ chẳng hiểu tôi và Huy Đức thực sự nói về điều gì. Thật đáng buồn!

  7. Phú Thư viết:

    Thưa ông Tôn Văn,

    Chúng tôi đã hiểu rằng cả hai ông Huy Đức và Trương Thái Du đều mượn chuyện bên Đức để bày tỏ quan điểm của mình về tình trạng hiện tại ở Việt Nam, và quả thật rằng chúng tôi không dám nghi ngờ về kiến thức lịch sử của hai ông này. Nếu cứ mãi bàn xa hơn về tình hình đất nước của người của người ta thì e rằng đã đi xa ngoài đề tài của các ông ấy rồi, cho nên chúng tôi không dám trao đổi thêm về nước Đức. Chúng tôi chỉ muốn nhờ ông giải thích cho rằng các ông đã dùng cái lý gì để khẳng định rằng sự “thống nhất” (1975) của Việt Nam là “nỗ lực của toàn dân”?

    Hy vọng rằng các ông sẽ giải thích bằng thứ trí tuệ sáng tỏ mà không đánh đồng toàn dân Việt Nam = toàn người cộng sản = toàn Đảng = toàn quốc… như là chúng tôi được biết bằng cái thứ trí tuệ rất ư là mù mờ. Xin chưa bàn đến hai chữ CHÍNH & TÀ, vì bỗng dưng tôi lại nhớ ngài chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết quá xá.

  8. classicalmood viết:

    Ông Nguyễn Mai Sơn,

    Không tranh luận một cách khoa học, không chân thành thẳng thắn góp ý vì lẽ phải thì làm sao tìm được chân lý, làm sao tìm được mẫu số chung! Mong ông hiểu rằng đang có rất nhiều người lắng nghe và sàng lọc các phản biện của tất cả mọi người: hay có, dở có, cảm tính có, chủ quan có, nhưng tựu trung là lý thú và bổ ích. Thú thật mà nói tôi không đồng ý với ông khá nhiều điểm nhưng mong mỏi ông sẽ không “trở thành độc giả âm thầm của Talawas” mà hãy hăng say tiếp tục đóng góp thêm nữa. Tôi cũng mong nhìn thấy một phản ứng từ tốn hơn của ông với những cách dùng tính từ, theo tôi, là hơi mạnh từ Phạm Quang Tuấn và một số bloggers khác.

  9. Tôn Văn viết:

    Tôn Văn
    2009-09-10/11:89

    „Thống nhất“, „độc lập“, „tự do“ là các khái niệm rất cơ bản đòi hỏi tìm hiểu sâu. Bài của tác giả Huy Đức có những suy nghĩ tâm huyết và trong sáng nhưng đã sử dụng một bối cảnh còn đòi hỏi nhiều tranh luận. Trong ý kiến trao đổi muộn sau đây, chúng tôi xin bàn (một cách ngắn gọn) về khái niệm „thống nhất“ và xem xét trường hợp cụ thể của nước Đức và Việt Nam.
    Thống nhất đất nước và toàn vẹn lãnh thổ là yêu cầu tối thượng của một quốc gia vì đó là điều kiện để cộng đồng người tồn tại và phát triển. Như vậy đánh giá một công cuộc „thống nhất“ là phải xem sau đó cộng đồng của đất nước này có phát triển được nội lực của mình để đạt tới độc lập, hạnh phúc hay không? Nó có đủ trí lực để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của mình hay không?… Theo cách nhìn nhận như vậy thì có thể nói rằng nước Đức đã thành công và Việt Nam đã thất bại trong công cuộc thống nhất. Lý do, sau khi suy nghĩ nghiêm túc, có thể thấy:
    – Nước Đức sau khi thống nhất đã có thể chế dân chủ đa nguyên là cái bảo đảm quyền tự do phát triển cho cá nhân và cộng đồng. Nó chẳng những giúp đất nước phát ttriển kinh tế mà còn có khả năng khắc phục những yếu kém tồn tại hoặc nảy sinh.
    – Nước Việt Nam sau nỗ lực của toàn dân đã đạt tới thống nhất; nhưng do trình độ văn hóa chưa chín, lại do bệnh tự kiêu, duy ý chí của những người cộng sản nên công cuộc thống nhất đã biến thành „nhất thống“: Một đảng lãnh đạo đã trở thành tham nhũng, dân mất các quyền tự do cơ bản như ngôn luận, lập hội (để phát triển tri thức và mài dũa tư tưởng). Kết quả là nhân tâm chia rẽ, nội lực hao mòn, kẻ thù hung hăng xâm lấn…
    Do việc mất mát lãnh thổ và nguy cơ mất chủ quyền đất nước đã và đang diễn ra nên, người viết cho rằng, việc đối thoại để nhìn rõ vấn đề là cấp thiết. Vấn đề „việt gian“ cũng cần nhìn nhận sâu hơn. Nếu nghĩ lại lời Cụ Hồ: „…Từ trước đến nay, mỗi khi đất nước bị xâm lăng thì lòng yêu nước lại kết thành làn sóng cuốn chìm bè lũ cướp nước và bán nước“, ta có thể thấy „việt gian“ thời nào cũng có và không thể coi nhẹ hay đánh giá thấp. CHÍNH chỉ có thể thắng TÀ khi có được ý chí mạnh mẽ và trí tuệ sáng tỏ.

  10. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Thưa ông Nguyễn Ngọc Hoà,

    Vâng, tôi xin cảm ơn ông về một số chi tiết ông đã dẫn ra cho rõ hơn và tôi cũng xin không nói thêm gì về những thắc mắc của ông. Tôi nghĩ, nếu chúng ta đọc và cố gắng hiểu người khác một chút nhỏ thôi thì việc tranh luận sẽ có ích hơn. Tôi không nghĩ rằng ai viết ra vấn đề gì cũng đảm bảo đầy đủ và bao quát hết mọi góc cạnh. Ý kiến dừng lại ở một điểm nào đó cũng chưa chắc đã là trọn vẹn, là tận cùng của chủ đề, bởi tư liệu, sử liệu, cách tiếp cận và xử lý tư liệu, phương pháp nghiên cứu và cả những cảm quan riêng mà vấn đề có thể được nhìn nhận (mở rộng) ở những góc độ khác nhau.

    Một ý kiến ngược chiều luôn là đáng quý để cho vấn đề càng sáng tỏ hơn (chứ nhiều khi ý kiến trước với ý kiến sau đã mâu thuẫn rồi). Cái ẩn ức, bức xúc không được nói khác trong thời gian dài đã có tính “lịch sử” và ám ảnh không ít người, chưa kể đến ai đó từng có những mắc mớ về ân oán. Người “con dâu” nghĩ sau này mình quyết không sống hà khắc như “mẹ chồng”, nhưng khi làm “mẹ chồng” rồi thì những hà khắc không chỉ lặp lại mà còn ở mức độ cao hơn. Talawas thu hút một số lượng không nhỏ người tham dự so với các diễn đàn khác vì bởi những cố gắng “đa nguyên” và “đa chiều” của nó.

    Bản thân tôi, khi góp ý bài của ông TTD, tôi đã phần nào nhận ra sẽ có người cố gắn tôi với ông TTD vào một “fan”, điều này đặc biệt trở nên nhạy cảm sau “vụ bauxite”. Nhẽ ra tôi không nên góp ý trong bài của ông TTD, khi một số người đã định ra một “tiêu chí” qua bài viết mang ngôn ngữ và phong cách rất Phạm Toàn. Đồng loã với “Việt gian” thì thật nguy hiểm trước một “hội đồng” mà người đã đánh và muốn đánh đang còn nhiều háo hức. Tôi cũng có nghĩ hay từ nay mình nên trở thành độc giả âm thầm của Talawas, không viết bài và không góp ý gì cả vì “vắng cô thì chợ vẫn đông” mà, đâu có ảnh hưởng gì đến “hoà bình thế giới”. Tôi cũng nhận thấy, có những người kêu gào ầm ầm về “tự do”, nhưng cái tự do tối thiểu trong tranh luận (có tính cách báo chí, đa nguyên, đa chiều) thì cũng chỉ là “chủ trương” của (riêng) BBT. Đọc ý kiến của ông Phạm Hồng Sơn http://www.talawas.org/?p=9676 có vui lên đôi chút, nhưng đọc ý kiến của P về đường dẫn bài viết của ông Trương Thái Du lại cảm thấy buồn nhiều hơn.

    Vâng, thưa ông Nguyễn Ngọc Hoà “bức tường lòng” và “bức tường não bộ” không chỉ là chuyện “xét lại” mà còn là một “công án” chưa có lời giải thoả đáng!

  11. Nguyễn Ngọc Hòa viết:

    @ P:

    Thông qua một số ngôn từ ta có thể biết ai đó tự đánh giá mình và người khác như thế nào. Ông TTD thu mình vào một góc riêng và dùng những danh từ kêu to như “tội nghiệp, hèn nhát, thiếu văn hóa, …” chỉ cho thấy ông ta tự nhìn nhận, đánh giá chính mình và thế giới chung quanh ông ta như vậy. Tôi từ chối không bắt chước ông ta. Chúc ông TTD vui vẻ với những danh hiệu dành cho bản thân và những hình nộm do ông ta vẽ ra. Tôi khoái câu này: “Trong thực tế, đánh bản thân và những người rơm dễ dàng hơn nhiều so với người thật.”

    @ Nguyễn Mai Sơn:

    Trước tiên xin cảm ơn ông Nguyễn Mai Sơn cố gắng đưa ra một số sử liệu, điều này cho thấy ông khá hơn nhiều lần so với ông TTD. Đáng tiếc, ông lại đưa một số sử liệu dài dòng, rối chuyện, không liên quan. Nhưng vấn đề còn lại là ông đưa ra những sự so sánh khập khiễng dựa trên những sử liệu này.

    1. Hiệp ước Hitler-Stalin 1939 về thực chất khác xa so với thỏa thuận Munich, 9.1938. Hiệp ước này tỏ rõ tham vọng bành trướng lãnh thổ của hai Chủ nghĩa phát xít và cộng sản bá quyền dưới thời Hitler-Stalin. Thỏa thuận Munich về mặt chính trị được đánh giá là một thất bại cho chính sách “appeachment” của Champerlain trước một Hitler cuồng nhiệt. Một Champerlain ôn hòa sau đó đã tự nguyện từ chức năm 1941 để cho một Churchill cứng cổ lên thay.

    2. Vào thời điểm 1945, Anh, Pháp là các nước đế quốc thực dân từ nhiều thế kỷ, không ai phủ nhận. Ở thời điểm đó, nước Mỹ đã từng là một thuộc địa, không phải là đế quốc thực dân như ông Nguyễn Mai Sơn nhận định. Trong thế chiến thứ nhất, năm 1917 quân Đức sử dụng tàu ngầm đánh chìm tàu dân sự của Mỹ, buộc Mỹ tham gia. Trong thế chiến thứ hai, năm 1942 quân phát-xít Nhật đánh Trân Châu Cảng, buộc Mỹ tham gia với vai trò giải phóng. Cũng xin lưu ý, lúc đó Mỹ ủng hộ phe Việt Minh chống phát-xít Nhật. Ông Nguyễn Mai Sơn phỏng đoán các nước lớn có tính toán này nọ để suy rằng các nước đó có âm mưu xâm lược, ngăn cản sự thống nhất của các nước nhỏ. Nếu đúng như vậy thì có vẻ vội vã.

    Tôi sẽ không tiếp tục bàn tiếp những điểm ông Nguyễn Mai Sơn không quan tâm tới. Và chuyển sang quan tâm tới điều mà ông cũng quan tâm:

    3. Ông Nguyễn Mai Sơn viết rằng: “nếu bài viết của Huy Đức nói lên quan điểm “xét lại” một cách “đa chiều” và không nên so sánh với khao khát của người Mỹ trong chiến tranh Việt Nam và Iraq thì sẽ thuyết phục…”

    Ông Nguyễn Mai Sơn có thể nói rõ hơn về “một quan điểm ‘xét lại’ … ‘đa chiều’”, và tại sao Huy Đức không nên so sánh? Ông Nguyễn Mai Sơn e ngại điều gì gọi là “nhạy cảm”? Phải chăng, ông e ngại một cuộc “xét lại” về “bức tường lòng”, “bức tường não bộ” hay chăng?

    Xin cám ơn.
    (Tôi mạn phép sử dụng một số ngôn từ của các quý vị khác trên talawas blog)

  12. Phạm Quang Tuấn viết:

    NMS: “Những câu hỏi trong phần 4 này tôi nghĩ ông PQT nên đặt ra cho ông Huy Đức đầu tiên…”

    Ráng đánh lảng nữa! Là một người đã có tự do chứng kiến sự sụp đổ của tường Berlin khi nó xảy ra, tôi biết là cái nhìn của Huy Đức đúng, và không cần biết là làm sao HĐ có được cái nhìn đó (tuy dễ hiểu là ông ta đã đi thăm Berlin). Nếu NMS muốn thấy thì hãy tìm trên internet, chẳng hạn ở http://www.youtube.com/watch?v=wnYXbJ_bcLc và nhiều chỗ khác).

    Về “thống nhất”, mười mấy chế độ cùng một lượt sụp đổ, chỉ có một mình nước Đức là trước đó bị chia đôi, vậy mà ông NMS vẫn tiếp tục ráng gượng ghép chuyện “khao khát thống nhất” vào biến cố đó!

  13. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Thưa ông Phạm Quang Tuấn,
    Xin ông dẫn lại chon trọn ý: “Rõ ràng từ qúa trình khao khát “tự do” của những ngày xây dựng bức tường và “khao khát” thống nhất cho đến khi bức tường đó sụp đổ đều là sự thực trong tâm lý của đa số người dân Đức. Ai cho rằng khao khát tự do lớn hơn khao khát thống nhất và ngược lại đều có cơ sở thực tiễn lịch sử, nhưng đó không phải là điều tôi muốn nhắc đến trong bài của ông Huy Đức” [nói chung hai cái “khao khát” ấy KHÔNG PHẢI QUAN TÂM CỦA TÔI].

    Xin trả lời ông (1, 2, 3, 4):

    1. Tôi xin trả lời không phải vì tôi quan tâm đến việc “tự do” hay “thống nhất” mà vì sự sụp đổ của hàng chục chế độ Cộng sản ở Đông Âu là sự sụp đổ của tư tưởng lãnh đạo đất nước chứ không phải sự sụp đổ đất nước [với ý nghĩa lãnh thổ]. Hiện nay nhiều nước Châu Âu vẫn còn Đảng Cộng sản sinh hoạt. Ý chí thống nhất của dân tộc Đức được đánh dấu bằng việc bức tường Berlin sụp đổ là sự thống nhất của hai quốc gia Đông Đức và Tây Đức [với ý nghĩa sáp nhập lãnh thổ]. Sự hà khắc trong chính sách của Đông Đức đã đánh mất quyền và lợi ích của họ khi nước Đức thống nhất.

    2. Liên bang Xô Viết gồm nhiều nước như Belarus, Ukraine, Lithuania… sáp nhập vào trong quá khứ, nay họ tách ra theo nguyện vọng và quyền tự quyết của nhân dân đất nước họ, nên không cần phải đặt vấn đề thống nhất với ai, vì họ đã là một nước độc lập.

    3. Dân Tây Đức không liều mạng leo tường như dân Đông Đức do sự lãnh đạo của người cộng sản ở Đông Đức mắc những sai lầm mà trong bài ông Huy Đức đã phần nào chỉ ra.

    4. Ông PQT hỏi: “Các ông NMS, TTD có thấy tận mắt những hình ảnh dân Đông Đức tràn qua tường để qua bên Tây không? Có thấy là không người Tây Đức nào tràn qua tường để qua Đông cái “đêm hôm đó” không? Có thấy hàng trăm ngàn người Đông Đức leo lên xe lửa đi qua Tây những ngày trước đó sau khi Gorbachev cho phép không? Tại sao không có hàng trăm ngàn người Tây Đức đi ngược lại, nếu muốn thống nhất?”.

    >> Những câu hỏi trong phần 4 này tôi nghĩ ông PQT nên đặt ra cho ông Huy Đức đầu tiên vì khi ông viết “Bức tường Berlin” không biết ông có thấy tận mắt những chuyện như vậy không?, sau đó là với tất cả những người đã góp ý kiến trong bài này, còn với tôi: kính nhi viễn chi!

    Tôi xin chấm dứt ý kiến (trong bài này) với ông PQT ở đây, vì tôi nhận thấy ông PQT đọc không kỹ người khác, trích câu, trích ý không đầy đủ, đem ý trước bỏ vào ý sau rồi quy chụp cho người khác (việc làm đó chẳng khác nào dựng ra hình nộm và đánh vào nó).

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>