Trương Thái Du – Đọc “Bức tường Berlin” của Huy Đức
04/09/2009 | 10:04 sáng | 43 Comments
Category: Chính trị - Xã hội, Thế giới
Thẻ: Hai mươi năm Bức tường Berlin sụp đổ > Huy Đức
Bàng bạc trong bài viết “Bức tường Berlin” là nỗi niềm độc lập tự do. Nó không khác mấy nội hàm ở khẩu hiệu “Không có gì quí hơn độc lập tự do” của Hồ Chí Minh. Song, nếu Hồ Chí Minh đào sâu nỗi niềm độc lập – tự do trong Tuyên ngôn Độc lập của mình thì rất tiếc, nhà báo Huy Đức lại sử dụng “độc lập, tự do” như một cái cớ khập khiễng để nhẩy múa trên những sử liệu một chiều.
Lịch sử nào? Lịch sử của “Bức tường Berlin” mà Huy Đức trưng ra là thứ lịch sử theo nhãn quan phương Tây. Để hiểu “nhãn quan phương Tây” khách quan thế nào, chúng ta đã có 80 năm nô lệ được khoác vào mỹ từ “khai hóa”. Hoặc gần đây hơn, vào ngày 25.1.2006, Nghị viện châu Âu đã thông qua Nghị quyết 1481 kết án mấy chục năm chủ nghĩa cộng sản kinh viện và giáo điều, toàn trị. Khoan hãy nói đến nội dung Nghị quyết 1481, về mặt hình thức, phương Tây chưa có thứ gì tương tự cho hàng ngàn năm Trung cổ man rợ dưới ách nhà thờ La Mã, cả trăm năm diệt chủng ở châu Mỹ, châu Phi và một phần châu Á. Chỉ điều đó thôi, đã thấy “nhãn quan phương Tây” chưa chắc không mang tính thù hằn và phục vụ mục đích chính trị trước mắt.
Có một câu nói cũng của Tagore, ít lòe loẹt hơn slogan tôi thấy trong blog Osin[1], đại ý là phải dung nạp được những giá trị vĩ đại của nền văn minh phương Tây, mới có thể đứng vững trước sự đê hèn cùng cực luôn mặc định trong nó. Dân tộc Việt Nam là dân tộc đầu tiên của nhân loại đã đoạt được giải “Nobel vệ quốc” vào năm 1972, nhưng phương Tây lại đặt tên phần thưởng cao quí ấy một cách hài hước là “Hòa bình”, nên người đại diện của họ là Lê Đức Thọ đã phải ngẩng cao đầu bên những hố bom còn nóng hổi để từ chối. Đây là cạm bẫy của ngôn ngữ, sự lệch pha giữa hai nền văn minh hay là thủ đoạn chính trị? Thật khó lý giải.
Vì khoác lên “bức tường ô nhục” nỗi niềm tự do và độc lập dưới nhãn quan của kẻ chiến thắng cuối cùng, tác giả Huy Đức đã vô tình bỏ sót một lý do sụp đổ lớn lao của nó là ý chí thống nhất của người Đức, dân tộc Đức. Khát khao tự do? Đúng nhưng chưa đủ. Người Đức còn có khát khao thống nhất. Khi một nền văn hóa này muốn thôn tính nền văn hóa kia người ta gọi là xâm lăng, song, khi hai nửa của một nền văn hóa bị ngoại bang chia rẽ muốn tái hợp thì phải gọi nó bằng một từ kép đầy nước mắt và quá đỗi gần gũi với người Việt Nam, đó là thống nhất. Nỗi niềm thống nhất vẫn luôn là vấn đề thời sự của truyền thông toàn cầu dưới tên Hàn Quốc – Triều Tiên. Nó bị bỏ sót trong trường hợp nhà báo kỳ cựu Huy Đức là một ngạc nhiên lớn của tác giả bài này.
Thống nhất là đoàn kết, là tập hợp sức mạnh nội tại, là mục đích tối thượng của đa nguyên tư tưởng. Khi một tư tưởng “lạ” và đầy phiến diện được quần chúng tung hô, tôi thấy đáng lo ngại hơn là vui mừng. Bản thân “xét lại” luôn có hai mặt trái phải điều hòa, chỉ sử dụng mặt trái của “xét lại” (ở đây là quan điểm một phía về bức tường Berlin), e rằng tác giả bài báo “Bức tường Berlin” thích đánh đổ hơn là xây dựng, thích a dua nhai lại với thiện chí (nhưng áp đặt, cực đoan) của Tây phương[2] hơn là cân nhắc, suy xét và áp dụng chúng đúng nơi, đúng chỗ.
Cái nồng nhiệt thiếu lý tính với những giá trị bề nổi của phương Tây trong bài “Bức tường Berlin” của Huy Đức, thật ra không mới. Xưa kia, Việt Phương đã từng cay đắng chỉ ra sự ngây thơ chết người của tư duy xã hội bắc Việt một thời: “Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ / Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ”.
Hình ảnh những bó hoa tươi trong các “nghĩa trang dân lập” mà Huy Đức sử dụng rất xúc động, nhưng quả tình nó không thể phản ánh đầy đủ sự phức tạp của Thế chiến thứ Hai, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc hình thành Bức tường Berlin. Quân Đồng minh với vai trò cốt cán của Mỹ đã tính toán “xương máu” rất kỹ trước khi quyết định “nhường bước” cho Hồng quân thọc sâu vào hang ổ cuối cùng của chủ nghĩa phát xít. Tư duy “con buôn” trên sinh mệnh những người cùng chiến hào nhưng khác ý thức hệ chưa được xem xét cẩn trọng. Có những viên gạch trong Bức tường Berlin hằn sâu dấu ấn nghi kỵ, thiếu tin tưởng với một đối tác “láu cá” giảm thiểu “dây máu” nhưng tích cực “chia phần”.
Không có gì ấu trĩ hơn khi đơn giản hóa, lành mạnh hóa và có phần thánh hóa con người chính trị của văn minh Tây phương. “Bức tường Berlin” của Huy Đức đã tuột sâu vào vũng lầy nhị nguyên tốt – xấu phân minh tách bạch, thiếu biện chứng và hời hợt. Là một người đọc lý tính, tôi mong chờ ở Huy Đức những bài báo sâu sắc, hơn là chuỗi cảm nghĩ nông cạn của một du khách cưỡi ngựa xem hoa trong viện bảo tàng. “Bức tường Berlin” và những nhược điểm của nó rất dễ trở thành “ổ gà” cho những cái đầu nóng hổi cảm tính và dễ bị thiên kiến lôi kéo.
Cuối cùng, tôi thấy mình hoàn toàn đồng cảm với câu kết của Huy Đức: “Một cuộc chiến không còn được coi là “giải phóng” nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do”. Tuy nhiên độc lập tự do, hay nói rộng hơn nữa là dân chủ và nhân quyền, suy cho cùng, luôn là một hành trình gian khó và dài lâu. Nó luôn bắt đầu bằng văn hóa và kết thúc trên mặt trận văn hóa, chứ không thể lập tức nảy mầm sau khi khói súng vừa tan (hãy xem trường hợp Iraq chẳng hạn). Và hơn hết, nó là một quá trình tự thân đắt giá, những yếu tố và bài học ngoại lai nếu có, chỉ nên coi là tham khảo có giới hạn và chọn lọc. Thật nguy hiểm khi xem đấy là hình mẫu để học đòi, rồi cố sức “trèo tường” và “đập tường”. Bức tường Berlin xây bằng gạch đá và dây thép gai đã biến mất chỉ sau một đêm, nhưng những gì ngăn cách và hủy hoại mối quan hệ giữa người và người cùng một chủng tộc, mười lăm năm sau vẫn chưa dễ vượt qua. Washington Post gọi đấy là “the wall in the mind”, bức tường trong não bộ[3].
Ảo tín vào những điều không tưởng của một người lính xuất thân từ nông dân luôn dễ hiểu hơn ảo tín của một nhà báo chính trị xã hội già dặn nơi phồn hoa. Tôi rất hy vọng sẽ được trao đổi thêm với tác giả Huy Đức dưới hình thức blog, để nhận ra những thiên kiến đáng trách và sự hãn hữu của đầu óc mình.
Sài Gòn 2
31.8.2009
© 2009 Trương Thái Du
© 2009 talawas blog
[1] Slogan trên blog Osin: Cái cây tìm sự cô đơn ở trên cao / Ngọn cỏ tìm sự đông đảo ở dưới đất. (Tagore)
[2] Ý của nhân vật Ka, trong tiểu thuyết Tuyết của nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk, Nobel 2006.
[3] http://www.washingtonpost.com/ac2/wp-dyn/A18734-2004Apr16?language=printer
Bình luận
43 Comments (bài “Trương Thái Du – Đọc “Bức tường Berlin” của Huy Đức”)
« Trang trước 1 2 3 Trang sau »
NMS: “Rõ ràng từ qúa trình khao khát “tự do” của những ngày xây dựng bức tường và “khao khát” thống nhất cho đến khi bức tường đó sụp đổ đều là sự thực trong tâm lý của đa số người dân Đức.”
Tôi và nhiều người khác đã trả lời luận điệu này từ lâu, ông NMS giả bộ quên (?), nay xin nhắc lại (và sẽ không ngần ngại nhắc lại nữa, nếu NMS tiếp tục… “quên”!):
1. Nếu sự sụp đổ của bức tường Berlin là do ý chí thống nhất của dân tộc Đức, thì hàng chục chế độ CS Đông Âu cùng sụp đổ theo lúc đó là vì muốn thống nhất với ai?
2. Liên Xô sụp theo và tách ra nhiều nước là do muốn thống nhất với ai? Belarus, Ukraine, Lithuania… muốn thống nhất tại sao lại tách rời?
3. Dân Tây đức cũng là Đức, sao không liều mạng leo tường như dân Đông Đức?
4. Các ông NMS, TTD có thấy tận mắt những hình ảnh dân Đông Đức tràn qua tường để qua bên Tây không? Có thấy là không người Tây Đức nào tràn qua tường để qua Đông cái “đêm hôm đó” không? Có thấy hàng trăm ngàn người Đông Đức leo lên xe lửa đi qua Tây những ngày trước đó sau khi Gorbachev cho phép không? Tại sao không có hàng trăm nagàn người Tây Đức đi ngược lại, nếu muốn thống nhất?
Ông Phạm Quang Tuấn ơi, khỏi phải wiki… dài dòng thế, việc đưa 1000 năm chế độ thần quyền của ông Trương Thái Du là ông ấy nói căn cứ vào ngày 25.1.2006, Nghị viện châu Âu đã thông qua Nghị quyết 1481 kết án mấy chục năm chủ nghĩa cộng sản kinh viện và giáo điều, toàn trị [Xin lưu ý đến những từ “kinh viện”, “giáo điều”, “toàn trị”, bởi trong phương pháp so sánh, người ta được phép so sánh đồng đại hay lịch đại miễn sao vấn đề được soi chiếu một cách khách quan. Đó không phải là kiểu suy diễn “mày cũng xấu như tao” vì chỉ những kẻ có tật mới giật mình khi mình bị đem ra so sánh]. Cũng xin lưu ý cho cái mốc Nghị quyết 2006 (khi châu Âu đã đang trong quá trình thống nhất, và chủ nghĩa cộng sản ở châu Âu đã trở nên vang bóng một thời). Còn với tôi, nếu châu Âu có thể ra nghị quyết kết án chủ nghĩa cộng sản thì tại sao lại không thể ra nghị quyết kết án chủ nghĩa thực dân (từ chủ nghĩa thực dân đến chủ nghĩa cộng sản). Nhưng kết án sao được khi hầu hết những “anh lớn” trong Liên minh Châu Âu đều là đại diện cho chủ nghĩa thực dân đi xâm chiếm, vơ vét tài nguyên thuộc địa. Chẳng lẽ đau khổ của những người bị ách cộng sản kém hơn đau khổ của những người bị ách thực dân?
Nói đến Hiệp ước 1939 mà Stalin ký với Đức, dẫn tới Đức tấn công và chiếm đóng một phần lãnh thổ Ba Lan, thì cũng nên nói đến Thỏa thuận Munich tháng Chín 1938 của Anh và Pháp đã cho phép Đức chiếm vùng Sudetenland của Tiệp Khắc. Lúc đó Anh và Pháp đều đang giữ tư cách là chủ thuộc địa và thù địch với Liên Xô.
Từ khi chế độ cộng sản được thiết lập ở Đông Đức năm 1949 và bức tường Berlin được lập nên cho đến 40 năm sau (năm 1989) mới sụp đổ. Rõ ràng từ qúa trình khao khát “tự do” của những ngày xây dựng bức tường và “khao khát” thống nhất cho đến khi bức tường đó sụp đổ đều là sự thực trong tâm lý của đa số người dân Đức. Ai cho rằng khao khát tự do lớn hơn khao khát thống nhất và ngược lại đều có cơ sở thực tiễn lịch sử, nhưng đó không phải là điều tôi muốn nhắc đến trong bài của ông Huy Đức. Điều tôi muốn nhắc đến trong bài của ông Huy Đức, tôi xin không cần phải nói lại với ông PQT nữa vì nó đã quá thừa (qua mấy ý kiến trước) rồi.
Ông NMS:
Tôi không chụp mũ ai cả. Khi tôi nói NMS và TTD đánh lảng vì đem những sự kiện (như chế độ thần quyền 1000 năm trước hay chế độ thuộc địa 100 năm trước của Âu châu) không dính dáng gì đến ý nghĩa của sự sụp đổ của bức tường Berlin và các chế độ Đông Âu mà Huy Đức nói tới, tức là ý nguyện tìm dự do của dân Đông Âu, tôi đã căn cứ vào những gì các ông viết ngay trong tiêu đề này, do đó không thể gọi là chụp mũ.
Kiểu đánh lảng này thuộc loại “tu quoque fallacy” (http://en.wikipedia.org/wiki/Tu_quoque), tạm dịch là ngụy luận “mày cũng xấu như tao”: ráng tìm những cái xấu trong quá khứ của đối thủ để biện luận cho cái xấu của mình. Phe CS hay dùng nó nhiều đến nỗi thời chiến tranh lạnh có những chuyện đùa như sau. Một người Mỹ hỏi một nguời Nga: Ở nước anh không có tự do gì hết, phải không? Suy nghĩ một lát, người Nga trả lời: Hồi đó bên Mỹ các anh hay “lynch” người da đen, phải không? (http://en.wikipedia.org/wiki/And_you_are_lynching_Negroes).
@ Nguyễn Ngọc Hoà
Mục đích của Đức là thôn tính toàn bộ châu Âu. Ba lan đã và nhiều nước nhỏ khác như Rumania, Hungary, Tiệp khắc…đã không tự bảo vệ được phải nhờ đến các nước lớn. Sự can thiệp của các nước lớn đều có những “toan tính” lợi ích rất kỹ. Sau này Liên Xô và Đức trở mặt nhau, phần lớn Đông Âu đã ngả về với Liên Xô. Với chiến thắng phát xít ngày 9/5/1945, lúc đó Liên Xô mới là người đóng vai giải phóng. Việc “xét lại” Hiệp ước 1939 của Châu Âu (với vai trò là một đồng minh đang đi đến thống nhất như hiện nay) đang gây tranh luận, chia rẽ trong giới sử học châu Âu và Nga. Tổng thống Nga Putin từng lên án Hiệp ước 1939 và nói rằng việc làm của Stalin đã đi ngược lợi ích của người dân Xô viết (để giảm nhẹ căng thẳng với Ba Lan). Nhưng Putin cũng nói: “Nhưng dẫu sao, một năm trước đó, Pháp và Anh ký thỏa thuận nổi tiếng với Hitler ở Munich, phá hủy mọi hy vọng tạo lập mặt trận hợp tác chiến đấu chống chủ nghĩa phát xít.”. Thỏa thuận Munich tháng Chín 1938, được xem là đỉnh điểm xấu hổ cho chính sách nhân nhượng của Thủ tướng Anh Neville Chamberlain, đã cho phép Đức chiếm vùng Sudetenland của Tiệp Khắc.
Ông NNH nói “vai trò Anh, Pháp, Mỹ trong cuộc chiến này đóng vai trò giải phóng”. Xin lưu ý, lúc đó Liên quân Anh, Pháp, Mỹ (những ông chủ thuộc địa) coi Liên Xô là thù địch. Khi chủ nghĩa phát xít nổi lên đe doạ thế giới họ mới nảy sinh toan tính kiểu “liên tung, hợp hoành”. Nhưng lúc đó, Stalin chủ trương “toạ quan hổ đấu”: “Berlin chắc chắn sẽ tấn công Ba Lan, dẫn tới một cuộc chiến mà Pháp và Anh phải tham gia”, “Mục tiêu của chúng ta là bảo đảm rằng Đức tiếp tục chiến đấu càng lâu càng tốt, để làm kiệt sức và hủy diệt Anh và Pháp”. (Stalin).
Trong kỷ niệm 60 năm chiến thắng phát xít, Tổng thống Latvia Vike-Freiberga nhận lời đến dự lễ chiến thắng, nhưng đi kèm với một lời nhận xét chua cay, rằng “Vào ngày 9/5, người Nga sẽ uống Vodka, hát những bài truyền thống và nhớ lại việc họ đã xâm chiếm các nước Baltic như thế nào”.
Lúc đó, phản ứng trước việc này, Hạ viện Nga ra nghị quyết lên án 3 nước Baltic, tố cáo họ chứa chấp những kẻ theo chủ nghĩa phát xít trên “mảnh đất thấm đẫm máu của các chiến sĩ Xô viết”. Theo các poster cổ động dành cho dịp kỷ niệm 60 năm chiến thắng ở Nga, cuộc chiến chỉ tồn tại từ năm 1941-1945. Còn thoả thuận bí mật Molotov – Ribbentrop dẫn đến việc Liên Xô đóng quân ở các nước Batic và một phần Ba Lan họ không nói đến. Ông Putin nói rằng cần “xem xét nó trong hoàn cảnh lịch sử”. Ông còn nhận xét rằng nó không đến mức tệ như một thoả thuận giữa Anh và Pháp năm 1938 quyết định số phận của Czechoslovakia.
Putin hầu như không bao giờ bảo vệ Stalin, và ông phản đối bất kỳ sự nghi ngờ nào về chiến thắng của Liên Xô cũng đồng nghĩa với nỗ lực viết lại lịch sử và “phủ nhận vai trò của Liên Xô và Hồng quân Xô viết trong cuộc chiến chống phát xít”. Liên Xô đã chịu tổn thất lớn lao trong cuộc chiến. Theo các con số chính thức, 27 triệu quân nhân và thường dân đã chết. “Lịch sử không chấp nhận giả định”, nghệ sĩ Aleksandr Petrovichev, người có ông chết trong trận Stalingrad nói. “Người ta không hát những bài ca ngợi Stalin nữa. Người ta đang đối mặt với những vấn đề của thời đại. Phải, lịch sử đã có Stalin, đã có những sự kiện. Đó là thực tế”.
Nếu bài viết của Huy Đức nói lên quan điểm “xét lại” một cách “đa chiều” và không nên so sánh với khao khát của người Mỹ trong chiến tranh Việt Nam và Iraq thì sẽ thuyết phục, dù rằng thực tế chẳng ai còn ca ngợi Stalin (người dân Nga đã không làm vậy, không lẽ người dân Việt Nam lại khóc ma mướn).
Hôm qua trên blog bác TTD có xuất hiện một bài viết ngắn với tựa đề “Tội nghiệp những kẻ hèn”, trong đó những kẻ hèn là chủ nhân của “một số khá đông các còm phản ứng một cách thiếu văn hóa” bài viết này của bác:
http://truongthaidu.wordpress.com/2009/09/07/t%E1%BB%99i-nghi%E1%BB%87p-nh%E1%BB%AFng-k%E1%BA%BB-hen/
Trong khi đó, những câu hỏi và phản hồi của tôi đối với bài viết này vẫn chưa nhận được hồi âm từ bác TTD. Tôi đã đọc lại hai phản hồi của mình và không thấy rằng những gì mình viết là thiếu văn hóa, không xứng đáng để bác TTD trả lời. Tôi đành tạm kết luận bác TTD đã chọn phương án im lặng trước những câu hỏi của tôi vậy.
Về nhận xét #1 của ông Nguyễn Mai Sơn:
Huy Đức cho thấy đóng góp của Soviet-Stalin trong thế chiến II cần được đánh giá lại vì vai trò của Soviet-Stalin nhân danh giải phóng về thực chất xuất phát từ ý đồ và hành động phân chia, chiếm đóng lãnh thổ các nước Đông Âu (Hiệp ước Hitler-Stalin 1939). Vai trò của Anh, Pháp, Mỹ trong cuộc chiến này là người giải phóng. Đây là một góc nhìn tích cực. Bài viết của Trương Thái Du bày tỏ thái độ “bài xích Mỹ” một cách khôn lỏi, xuyên tạc lịch sử Đông Âu dựa trên kinh nghiệm Việt Nam và cái nhìn của cá nhân ông ta hơn là những sử liệu khách quan thời đó. Việc ông Nguyễn Mai Sơn bổ sung thêm những thông tin trong mục #1 chỉ có tác dụng làm rối thêm chuyện. Sự bổ sung này làm lạc đề như ông PQT nhận xét, nhưng không chỉ thế, giá trị của nó nhỏ hơn “zero”. Ông đánh đồng vai trò của “… Anh, Pháp, Mỹ đều đang là những nước xâm chiếm thuộc địa ở châu Á, châu Phi…” với vai trò xâm chiếm Đông Âu của Soviet-Stalin trong thế chiến II, rời bỏ bối cảnh lịch sử Đông Âu, khuấy lên những nghi kỵ lẫn nhau giữa Mỹ và các nước khác thông qua ký ức lịch sử, chỉ để đưa người đọc trở về với góc nhìn tiêu cực của TTD.
Thưa ông Phạm Quang Tuấn,
Cái dụng ý của ông PQT đã không đàng hoàng rồi nên ông vẫn cố thêm vào: “nhưng cả TTD và NMS ráng dẫn tới” (góp ý bình thường chứ gì mà phải “ráng tới ráng lui” như ông PQT) dù tôi đã nói rất rõ ý kiến của ông TTD không phải là ý kiến của tôi. Tuy nhiên, đọc đến ý hai về Bức tường Berlin thì tôi thấy ông quả là có tài “quẹo” và “rẽ” để cố tranh hơn với người khác trong ý kiến mà cái lỗi “lạc đề” là của mình tạo ra và tự mình “xuýt xoa” mãn nguyện với nó.
Vì sao tôi nói vậy, vì đơn giản thôi, ý kiến của tôi vào lúc 07/09/2009 lúc 11:58 sáng ai cũng có thể nhanh chóng đọc lại, rằng tôi tôi nói về bài của tác giả Huy Đức không phải nhạy cảm ở chỗ nói đến “bức tường ô nhục” được lập nên và phá bỏ như thế nào, hay việc nhìn lại Hiệp ước phân chia châu Âu được ký kết giữa Stalin và Hitler. Vậy tại sao ông PQT lại lạc đề, kèo thêm chuyện “khao khát tự do chứ không phải khao khát thống nhất” vào ý kiến của tôi mà vốn dĩ tôi chẳng có so sánh “tự do” hay “thống nhất” cái nào hơn cái nào [cho dù có ý kiến nào khác nói rằng người dân Đức khao khát “thống nhất” mạnh hơn khao khát “tự do” (mà ông cho rằng người ta không hiểu gì về châu Âu) thì ông hãy cứ mãn nguyện về cái “phát hiện” này của ông. Tôi có tranh với ông điều đó đâu, bởi bản thân tôi bây giờ vẫn khoái “tự do” hơn, nếu khoái “thống nhất” bây giờ chẳng phải là muốn đất nước chia hai sao? Quá khứ lịch sử là để suy ngẫm để ứng xử sao cho tốt hơn với hiện tại…].
Tóm lại: Lâu nay tôi nhận ra ông Phạm Quang Tuấn (viết hoa, in đậm) là người tích cực góp ý trên diễn đàn talawas này nhưng cái tích cực chụp mũ người khác cũng không kém hơn bao nhiêu. Thiết nghĩ đã có nhiều người nói về mình như vậy thì cũng nên có chút điều chỉnh (khâu đầu tiên có lẽ là nên đọc kỹ bài viết hay ý kiến của người khác)!
Nguyễn Mai Sơn nói: “Tôi không bảo rằng sự “phân chia” châu Âu thì đẹp hơn (hay xấu hơn) việc phân chia châu Á, châu Phi đâu mà ông PQT đã phải “động lòng” như vậy. Tất cả sự việc lịch sử của những “ông lớn” muốn phân chia thế giới đều sáng rõ như ban ngày, không nhận thấy điều đó thì do mắt mình có vấn đề chứ không phải do “hỏa mù” vậy.”
Bức tường Berlin và sự sụp đổ của nó là chuyện về lòng khao khát tự do của dân Đông Âu. Khao khát tự do chứ không phải khao khát thống nhất. Đem những chuyện phân chia châu Á, châu Phi vào là lạc đề, hỏa mù. Vấn đề không phải là phân chia với thống nhất (như cả TTD và NMS ráng dẫn tới), mà là tự do với mất tự do.
Nói rằng những việc việc phân chia châu Á, châu Phi “sáng rõ như ban ngày” cũng là lạc đề, hỏa mù, vì có ai bảo nó không sáng rõ đâu, chỉ bảo là nó lạc đề.
@ Phạm Quang Tuấn
“Từ bức tường Berlin, Trương Thái Du thì kéo về “hàng ngàn năm Trung cổ man rợ dưới ách nhà thờ La Mã”, Nguyễn Mai Sơn thì kéo về việc “phân chia” thuộc địa ở châu Á, châu Phi của Anh, Pháp, Mỹ thời 1945. Rõ là cá mè một lứa, giỏi hỏa mù đánh lảng”.
>> Tôi cũng rất mong ông PQT tìm thử cho tôi “hàng ngàn năm Trung cổ man rợ dưới ách nhà thờ” và việc “phân chia thuộc địa ở châu Á, châu Phi của Anh, Pháp, Mỹ” nó “một lứa” với nhau như thế nào. Còn tôi và ông Trương Thái Du là hai người không quen biết gì nhau và hai ý kiến khác nhau, ông đánh đồng như vậy là có “dụng ý” không đàng hoàng.
>> Tôi không bảo rằng sự “phân chia” châu Âu thì đẹp hơn (hay xấu hơn) việc phân chia châu Á, châu Phi đâu mà ông PQT đã phải “động lòng” như vậy. Tất cả sự việc lịch sử của những “ông lớn” muốn phân chia thế giới đều sáng rõ như ban ngày, không nhận thấy điều đó thì do mắt mình có vấn đề chứ không phải do “hỏa mù” vậy.
Từ bức tường Berlin, Trương Thái Du thì kéo về “hàng ngàn năm Trung cổ man rợ dưới ách nhà thờ La Mã”, Nguyễn Mai Sơn thì kéo về việc “phân chia” thuộc địa ở châu Á, châu Phi của Anh, Pháp, Mỹ thời 1945. Rõ là cá mè một lứa, giỏi hỏa mù đánh lảng.
1. Tôi nghĩ bài của tác giả Huy Đức “nhạy cảm” không phải ở việc nói đến “bức tường ô nhục” được lập nên và phá bỏ như thế nào, hay việc nhìn lại Hiệp ước phân chia châu Âu được ký kết giữa Stalin và Hitler. Lúc đó thế giới tồn tại 3 phe CS, TB và Phát xít. Trong đó Anh, Pháp, Mỹ đều đang là những nước xâm chiếm thuộc địa ở châu Á, châu Phi (cũng là một sự phân chia “thị trường” thế giới). Sự “phân chia” đó bên nào cũng có “tính toán” làm sao có lợi cho mình và có hại cho đối phương. Chiến tranh và những khủng hoảng nhân đạo, nhân văn đi kèm theo nó luôn để lại những vết hằn khó phai, bởi họ tiến hành chiến tranh bằng việc bất chấp “quy luật” miễn là được việc, chỉ lo hiệu quả, còn cái giá của nó thì…
2. Chiến tranh vệ quốc của những chiến sĩ Liên Xô hẳn là niềm tự hào của người dân Liên Xô. Còn cái “nghĩa vụ cộng sản” của Liên Xô ở các nước Đông Âu là điều đáng bàn và đang có nhiều làn sóng “xét lại”. Tổng thống Nga Putin nhấn mạnh rằng thỏa thuận giữa Stalin và Hitler mang tính cá nhân và đi ngược lại lợi ích của người dân Xô viết. “Còn phải nói cụ thể và chính xác đến thế nào nữa? Chúng tôi có thể nói thêm gì nữa?”, Putin nói. “Chẳng lẽ chúng tôi phải nhắc lại điều đó mỗi ngày à? Chúng tôi coi vấn đề đó đã khép lại”. Cái quyền tự quyết của riêng Hungary và của người dân Đông Âu lẽ ra phải được hưởng từ năm 1945 như Huy Đức nói là chính đáng. Cũng như cái quyền mà người dân Việt Nam nhẽ ra phải được hưởng theo đúng Hiệp định Genève về khôi phục hoà bình ở Đông Dương vào năm 1954, và cái khát khao thống nhất của người dân Việt Nam nhẽ ra phải được thực hiện ở Tổng tuyển cử Toàn quốc vào năm 1956. Nhưng những nước lớn nào đã không cho điều này xảy ra? Vai trò của CS Trung Quốc thế nào trong vụ này? (Có nhiều chứng minh rằng Trung Quốc không muốn điều đó xảy ra nhằm đánh lạc hướng dư luận về những vấn đề nội bộ của họ).
3. Vấn đề “nhạy cảm” trong bài viết của Huy Đức là sự so sánh (ẩn hiện) ở phần cuối bài: “Cũng trong tháng 6-2004, tôi có đi qua một vài nghĩa trang quân Đồng Minh chết sau sự kiện Normandy. Những tấm bia ở đây nói rõ là nghĩa trang được lập bởi dân chúng địa phương góp đất và tiền để tưởng nhớ những người lính Anh, Mỹ, New Zeland, Australia… Những “nghĩa trang dân lập” ấy vẫn được gìn giữ cho đến ngày nay với hoa tươi quanh năm. Trong khi, năm 2007, Tổng thống Nga Putin bị các quốc gia lân bang đặt trước tình huống phải ký sắc lệnh lập 7 văn phòng đại diện tại Ba Lan, Hungary và các nước vùng Baltic để bảo vệ mộ của Hồng quân. Thật không phải khi đụng đến nơi tưởng niệm những người đã hy sinh. Nhưng, cái cách mà Putin cư xử với lân bang đã khiến họ nhớ lại thời Liên Xô và nhận thấy những tượng đài Hồng quân “không còn là một biểu tượng chống phát xít mà là biểu tượng của sự chiếm đóng”.
Nếu Huy Đức chỉ viết đến đây thì không có gì phải đáng bàn, thậm chí đó là một bài viết gợi nhiều suy nghĩ. Nhưng Huy Đức “kèo thêm” câu này vào thì rõ ràng là có “chuyện”: “Bên cạnh những bao cát của Checkpoint Charlie, chốt gác giữa Đông và Tây Berlin, cũng luôn có hoa tươi. Có lẽ ngay chính người Mỹ, sau những chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Iraq, cũng thèm khát hình ảnh của chính mình trên bờ biển Normandy hay ở cái Checkpoint Charlie ấy”. Người lính Mỹ ở Normandy và người lính Mỹ tham chiến tại Việt Nam dù có “thèm khát hình ảnh của chính mình” như trên bờ biển Normandy thì Huy Đức cũng không nên so sánh.
4. Với từ “hãn hữu” mà ông Trương Thái Du sử dụng, theo tôi thì chỉ cần đề nghị Ban Biên tập Talawas sửa lại thành “hữu hạn”. Viết sai thì sửa, không có gì phải tự ái cả.
“Trong một comment trước đây trên talawas blog tôi đã cho rằng việc “làm rõ” những gì trong một bài viết hoàn chỉnh là chẳng đặng thì đừng. Khoảng cách giữa tư duy và ngôn ngữ cũng cần được lưu ý. Chẳng hạn, muốn nói đến sự tăm tối trí tuệ của bản thân, tôi đã phân vân tìm một từ dung hòa hai nội hàm “hữu hạn” và “hãn hữu” thích hợp với “đầu óc”.(…) Do không tìm được từ như ý, tôi đã dùng “hãn hữu” với hy vọng mượn âm giông giống “hữu hạn” và lấy trực nghĩa “ít” để cả cụm biểu đạt dự định ban đầu.” (TTD)
Cách biện bạch này cho thấy ông Trương Thái Du không thành thật. Ông đã dùng sai chữ “hãn hữu” mà lại lý luận lòng vòng để tránh thừa nhận cái sai.
Điều này cũng giống như khi ông dùng hai chữ “chuỗi luận” thay cho từ “logic”. Vì quá ghét phương Tây, ông nghĩ ra từ “chuỗi luận”, nhưng chuỗi luận không thể diễn tả được ý nghĩa của logic. Logic là một từ gốc Hy Lạp, theo định nghĩa là nghệ thuật và khoa học lập luận (the art and science of reasoning); đó là sự nghiên cứu có tính hệ thống và mang tính hình thức về các nguyên tắc suy luận đúng đắn. Chuỗi luận chỉ có nghĩa là một loạt các lập luận, nếu chuỗi các lập luận này không đúng quy tắc, không đúng đắn thì cũng phi-logic. Trước đây, ở miền Nam cũng có lúc người ta dịch là luận lý, luận lý học, nhưng vẫn không lột tả được hết ý nghĩa của từ logic.
Chính vì không quan tâm đến logic, nên nhiều khi ông TTD đã lập luận một cách phi-logic. Ví như câu sau đây: “Thống nhất là đoàn kết, là tập hợp sức mạnh nội tại, là mục đích tối thượng của đa nguyên tư tưởng.” (TTD) Câu này sai, vì mục đích của đa nguyên tư tưởng là đạt đến chân lý chứ không phải để đạt đến thống nhất, đoàn kết. Đưa “thống nhất, đoàn kết” thành mục đích tối thượng là một cách để thủ tiêu ý kiến khác biệt, và như vậy là thủ tiêu đa nguyên tư tưởng, thủ tiêu chân lý khoa học.
Thưa ông Trương Thái Du,
trong hồi ý gần nhất, ông viết rằng:
“Cơ bản các vị không đồng tình và muốn vặn hỏi tôi về khía cạnh “thống nhất” trong nguyên nhân sụp đổ của bức tường Berlin. Theo tôi, tự do sát sườn với cá nhân hơn, trong khi thống nhất thích hợp khi dùng cho một cộng đồng, một khối văn hóa có chung nền tảng. Nếu người châu Âu nghĩ thống nhất sẽ phủ định độc lập và tự do thì đã không có đồng tiền chung châu Âu và liên minh chính trị hiện thời, thì đã không có Hợp chủng quốc Hoa Kỳ được coi như siêu cường số một thế giới. Cách tư duy của tôi là như thế, cho nên tôi thấy khó trả lời những câu hỏi đại loại như: “Anh đã từng ở Đức?”, “Có người Tây Đức trèo tường qua phía Đông không?”. Nó sẽ không dẫn chúng ta đến sự chia sẻ và thấu hiểu. Có lẽ phải kính nhờ quí vị chứng minh khả năng không tồn tại ý chí thống nhất của người Đức khi xô ngã bức tường Berlin“.
Theo nhận xét của tôi, cách trả lời độc giả của ông cũng có vấn đề; ít nhất là ba:
Vấn đề thứ nhất là không tập trung vào tiêu điểm. V.d. tiêu điểm là “ý chí thống nhất của người Đức” (nguyên văn của ông). Theo tôi chỉ nên giới hạn ở điểm ấy thôi, nghĩa là đối với trường hợp Đức thôi, đừng nên mở rộng ra như “Nếu người châu Âu nghĩ thống nhất sẽ phủ định độc lập và tự do thì đã không có đồng tiền chung châu Âu và liên minh chính trị hiện thời, thì đã không có Hợp chủng quốc Hoa Kỳ được coi như siêu cường số một thế giới.” (nguyên văn của ông). Bởi vì làm như vậy là vô tình mở rộng vấn đề và dễ khiến cuộc thảo luận trở nên xa rời tiêu điểm; nói nôm na là lạc đề. Kinh nghiệm này thường thấy qua các cuộc thảo luận trên talawas gần đây.
Vấn đề thứ hai là sửa đổi nguyên văn của người khác. V.d. câu hỏi nguyên văn của tôi là “Ông có sống ở Đức bao giờ chưa? Nếu có thì thưa ông, ông ở đâu?”, ông sửa thành “Anh đã từng ở Đức?”. Xin ông làm ơn để nguyên câu người ta nói, đừng sửa. Kinh nghiệm thảo luận cũng cho thấy, nếu mình bóp méo một cái gì, thì cái theo sau sẽ bị méo mó theo. Và theo đà ấy, cuối cùng hỏng hết.
Vấn đề thứ ba là không trả lời câu hỏi của người tham luận. Tôi hỏi ông, v.d. “Người Đức còn có khát khao thống nhất”, vậy thì là người Đức nào ? Dựa vào đâu mà ông viết như vậy? Ông có sống ở Đức bao giờ chưa? Nếu có thì thưa ông, ông ở đâu? Ông có thực sự hiểu rõ dân tình Đức của hai miền Đông Đức và Tây Đức nói chung trong thời kỳ nước Đức còn ngăn cách hay không?”. Ông không trả lời. Người khác hỏi, ông cũng không trả lời. Tôi thấy cũng hơi kỳ. Người viết cần có người đọc. Khi người đọc không hiểu người viết, muốn hỏi cho rõ, thiết nghĩ người viết nên giải thích. Sở dĩ tôi phải hỏi ông kỹ lưỡng, bởi vì cách làm việc của tôi là muốn nắm thông tin cho thật rõ ràng trước khi nói chuyện, để tránh hiểu nhầm, oan cho người khác, làm giảm giá trị cuộc thảo luận vì thiếu tính chính xác. Tôi nghĩ cả ông và bạn đọc đều muốn vậy.
Ông Trương Thái Du cho rằng người Đức còn có khát khao thống nhất bên cạnh khát khao tự do. Ông nói không sai. Ông chỉ không đúng khi ông tạo cho người đọc cảm tưởng ông đặt nặng hoặc đặt trước nhu cầu thống nhất so với nhu cầu tự do trong khi thực tế lịch sử phản bác lập luận này của ông.
Từ khi chế độ cộng sản được thiết lập ở Đông Đức năm 1949, có rất nhiều trường hợp tìm tự do bằng mọi cách. Điều này rõ ràng quá rồi, chẳng cần bàn luận thêm. Trong thực tế đấu tranh, dân Đông Đức thoạt tiên đưa ra khẩu hiệu Wir sind das Volk (Chúng tôi là nhân dân) với hàm ý đòi quyền tự quyết, đòi sống tự do. Chỉ sau ngày kỷ niệm bốn mươi năm thành lập năm 1989, các lực lượng đối lập mới thay đổi khẩu hiệu và dùng khẩu hiệu mới nói lên đòi hỏi thống nhất : Wir sind ein Volk (Chúng ta là một dân tộc).
Ông Trương Thái Du đang thực hiện nhiệm vụ hạ bệ và tung hỏa mù (ông vẫn thường hay vậy).
Trong bài này, có quá nhiều cái mũ được ông Trương chụp lên đầu cái hình nộm mang khuôn mặt Huy Đức do chính ông Trương tự nặn ra.