Trần Doãn Nho – Sài Gòn, tháng ngày trôi nổi (1)
03/09/2009 | 10:59 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Trần Doãn Nho – Sài Gòn, tháng ngày trôi nổi (1)
Đầu năm 1982.
Sau khi được “trả quyền công dân”, nghĩa là nắm được mảnh giấy để đi lại hợp pháp sau một thời gian dài chờ đợi, tôi vội vã rời Huế, tìm vào miền Nam, cái túi chứa của đất nước. Miền Nam hiền hoà, hiếu khách, được thiên nhiên ưu đãi, là một chốn bao dung cho đủ mọi thành phần, mọi miền đất nước. Trốn nợ, vào Nam. Bỏ chồng, vào Nam. Kiếm sống, vào Nam. Đói, vào Nam. Rét, vào Nam. Bị truy nã, vào Nam. Sau 1975, dường như cả đất nước tìm cách vào Nam. Đất lành, chim đậu. Miền Nam, từ xưa, đã là nơi ôm ấp, che chở cho mọi đứa con của đất nước, vì lý do này hay lý do khác không thể ăn yên ở yên ngay tại nơi chôn nhau cắt rún của mình. Một hình thức Nam tiến.
Trước tiên, tôi tìm đến Bình Dương. Không xong. Lại tìm về Trị An. Không xong. Tìm đến nương rẫy sâu trong rừng Long Khánh. Cũng không xong. Xuống Bạc Liêu, Cà Mâu, Rạch Giá. Về Mộc Hóa, Long An. Lại không xong. Không xong, không phải vì đất không lành, người không tốt, mà chính vì ngay tại trong lòng mình nữa. Cuối cùng, quay ngược trở lại Sài Gòn. Thì ra với tôi, Sài Gòn có cái thân thương riêng của nó. Chính Sài Gòn vẫy gọi tôi vào. Sài Gòn, dù sao, là nơi ít có vẻ cộng sản nhất trong một đất nước đang đắm chìm trong Phòng Thí nghiệm Cộng sản. Sài Gòn là nơi có thể trở thành vô danh, trở thành một phần tử của đám đông, trở thành mất tên. Sài Gòn lẩn quất, che giấu. Đi giữa đường phố Sài Gòn, ta tạm thời có thể yên tâm. Một người như mọi người. Đó là đặc điểm của Sài Gòn. Ngay cả trong những lúc chính quyền cộng sản o ép nhất, Sài Gòn vẫn là nơi ẩn náu lý tưởng nhất. Tại đó, dịp này hay dịp khác, thỉnh thoảng đâu đó, tôi tình cờ gặp một số khuôn mặt – bạn bè có, người quen có, người cùng trại tù có, trốn cải tạo hoặc vượt ngục – hiện bị truy nã tại địa phương.
Tôi không “trốn cải tạo”, không “làm phản động”, nhưng đời sống ở Huế gay gắt, khó khăn quá, và bị đám công an địa phương ngày đêm rình rập dòm dỏ quá, nên đành bỏ đi. Một mình. Bỏ gia đình ở lại. Cũng là một cách trốn. Lúc đầu, tôi tìm đến nhà một số người quen, một số bạn cũ. Nhưng chẳng nơi nào ở yên được, vì chính sách hộ khẩu rất chặt chẽ, công an khu vực lại ngày đêm canh chừng, soi bói, nên dù thân đến đâu, người ta cũng phải e dè. Thôi thì đành chọn một cách sống mới là: không ở đâu hết. Nghĩa là cứ lang thang trên đường phố, tới đâu hay đó. Đó cũng là một cách trốn: trốn ngay trên đường phố. Bắt chước một số người quen, tôi sắm một cái xách nhỏ, trong đó luôn luôn có sẵn một số vật cần thiết: áo quần lót, kem bót đánh răng và vài thứ linh tinh khác. Tiện đâu xâu đấy. Nhà nào tá túc được một đêm thì cứ tá túc. Bằng không, khi thì ở trong công viên, khi thì dưới thềm nhà một ai đó, khi thì bến tàu, khi thì bến xe, có khi ngủ ngay trong hay trên trần xe chở khách, khi thì ngoài thềm một cơ quan hay một công ty nào đó.
Cuối cùng, tôi tình cờ gặp lại một người bạn thân. Anh trốn cải tạo, lang thang nhiều năm ở Sài Gòn. May mắn thay, một gia đình người quen vượt biên, để lại cho anh một túp lều nằm sâu trong một khu dân cư quận Tân Bình. Vùng này vốn là vùng đất hoang ngày xưa. Do không ai là chủ nên người ta biến thành nghĩa trang, chôn cất thân nhân. Thời chiến tranh, những người lưu tán từ các vùng quê lên, thấy chỗ nào trống là dựng tạm mái lều để ở. Thành thử nhà ở và mồ mả “chung đụng” nhau. Cư dân ở đó vẫn có thói quen nhậu ngay trên mộ “láng giềng” và ngủ lại đó luôn. Mồ mả và cư dân trở thành quen thuộc.
Khi nào kẹt là tôi tìm về “nhà” anh. Nhà chật, không có chỗ, túng quá đêm về, tôi về đó và kiếm một ngôi mộ, che mùng nằm ngủ. Mộ ở đây phân chia giai cấp, mặc dù cái chết lúc nào cũng bình đẳng. Có mộ giàu, mộ nghèo. Bởi thế, là mộ đấy, nhưng thật ra, trong lúc nhiều mộ bị bỏ hoang, không hương không khói thì nhiều mộ chẳng khác gì ngôi đền, có mái che, có cột trụ, có hình rồng phượng rất đẹp. Có mộ còn có cả bàn ăn, ghế ngồi. Nền và phần phía trên mộ lát gạch hoa phẳng phiu, bóng loáng. Nhiều mộ xưa hoặc khá xưa, loại cổ mộ, không hề thấy bóng thân nhân. Những ngôi mộ mới, thân nhân thường đến thăm viếng nên hương hoa, vật phẩm để lại thường xuyên. Có khi thân nhân để lại nguyên cả mâm đồ cúng với đủ thịt thà, cây trái, cơm gạo. Những tay ăn xin thường đi săn lùng đồ cúng trên những ngôi mộ, nhất là những ngôi mộ mới, nằm khuất sau các bụi cây. Những ngôi mộ này, đồ ăn bao giờ cũng nhiều, có lẽ vì thân nhân ít sợ bị lấy cắp. Dân vô gia cư ở Sài Gòn không thiếu kẻ thường xuyên ngủ trên mộ. Chính cái đám dân lang thang này đã che chở cho tôi được tạm “ẩn cư” khá dài ngày ở khu này, dù không thường xuyên lắm. Công an phường, công an văn hóa mở nhiều đợt truy quét khu mộ, nhưng lúc nào cũng vơ phải đám vô gia cư, nên về sau thường làm lơ, vì chẳng kiếm được “xơ múi” gì. Nhiều đêm, thao thức không ngủ được, nhìn ánh trăng tỏa sáng trên những ngôi mộ chen chúc nhau, tôi có cảm giác sự sống và sự chết quả là gần gũi. Cõi âm và cõi dương cũng chỉ là “một” trong cái thế giới nhiễu nhương này.
*
Việc đầu tiên của tôi là đi bán áo quần. Đúng ra là đi bỏ mối áo quần. Độ này, ở Sài Gòn, sau một thời gian cấm đoán nghiêm ngặt mà không đi tới đâu, chính quyền thành phố có phần nới lỏng chút xíu về kinh tế, để cho người dân được buôn bán. Đúng ra thì nhà cầm quyền làm lơ để cho tư nhân bung ra buôn bán chút ít nhằm điều hòa việc lưu thông hàng hoá trước viễn cảnh của một sự bế tắc hoàn toàn. Các chợ có hơi rộn rịp trở lại. Khách vào khách ra có phần tự do đôi chút. Trước đây, cán bộ thuế đi rảo cùng khắp. Một số mặc đồng phục, có huy hiệu thuế đeo trên áo. Một số khác, ăn mặc giả dạng, rình rập, phục kích người mua cũng như người bán để tịch thu hàng hoặc đánh thuế. Họ có quyền bắt giữ từ một cặp gà cho tới vài đôi vớ. Đi bỏ mối, hàng giấu đã đành. Mua về dùng cũng phải giấu. Vì lỡ bị bắt vào trạm thuế, bị đánh thuế oan uổng. Kiện tụng thì mất công bỏ việc, mà chưa chắc đã đi tới đâu. Lúc này, nhân viên thuế chỉ bắt giữ những vụ buôn bán lớn, những lô hàng lớn. Họ được phân công ở một số vị trí nhất định, và phải mặc đồng phục.
Dù thế, chẳng có quy định nào cụ thể, rõ ràng, cho nên “sớm nắng chiều mưa”, hàng vẫn có thể bị bắt đánh thuế bất cứ lúc nào. Chở hàng đi dọc đường, mang hàng vào chợ phải rất cẩn thận. Áo quần, tôi lấy ở nơi người chị họ. Biết tôi không có vốn, chị cho tôi đi bỏ mối. Bỏ được cái nào, ăn cái đó. Số còn lại mang về. Tôi tìm mối ở nhiều chỗ, cho gối đầu thoải mái. Chợ An Đông, chợ quận Tám, chợ Kim Biên, chợ Đại Quang Minh, chợ Bà Chiểu. Còn chiều về, mang áo quần lên chợ La Kay, trải bán dọc lề đường, vừa bán vừa chuẩn bị chạy trốn công an. Với chiếc xe đạp không lấy gì làm tốt cho lắm, tôi đạp suốt ngày vòng vòng trên các ngả đường Sài Gòn, từ chợ này qua chợ khác. Hai tuần đầu, công việc tương đối chạy đều, ổn định. Sáng bỏ hàng, chiều ghé lấy tiền. Vốn đưa lại bà chị, lời mình giữ. Nhưng đến tuần thứ ba, bắt đầu có trục trặc. Một bạn hàng ở chợ Kim Biên bỏ sạp. Ba ngày sau, một bạn hàng khác ở chợ Bà Chiểu cũng biến mất. Sau này tôi mới biết cả hai đều đi vượt biên. Một tuần sau, lại thêm một người nữa ở Kim Biên bỏ chợ. Mất không gần hai chục bộ áo quần. Tôi hoàn toàn rơi vào khủng hoảng. Vốn không có, lời cũng không. May mà bà chị họ thông cảm, bỏ qua. Vì rõ ràng không phải lỗi ở tôi. Thấy bấp bênh quá, tôi chào thua, bỏ nghề. Bà chị họ tốt bụng đó, sau này cũng bị bạn hàng quỵt luôn mấy vụ,mất vốn, bỏ hẳn nghề buôn áo quần.
*
Trong lúc hoàn toàn bối rối, một anh bạn, nguyên giáo sư cấp ba, lại là bạn tù, đang bán vé số, rủ tôi bán vé số. Túng biến tùng quyền, tôi không suy nghĩ, nhảy ngay vào “nghề” bán vé số. Đây là một nghề tương đối đơn giản, ít vốn, có lẽ không cần cả vốn. Chỉ có việc lấy vé số từ người bỏ mối, bày một cái bàn nhỏ ra bên lề đường, ngồi bán. Lời ăn, lỗ thì trả vé lui. Thực ra, đó chỉ là cảm giác ban đầu. Chẳng có nghề nào là đơn giản cả.
Qua trung gian anh bạn, tôi lấy vé từ một thương lái tương đối dễ chịu: gối đầu một ngày cho vé tỉnh (vé từ các tỉnh đưa lên bán ở Sài Gòn). Riêng vé thành phố Sài Gòn, vì là địa phương, nên khá dễ dàng: bỏ tiền lấy vé, buổi chiều vé nào không bán được, mang trả lui trước giờ xổ. Bù lại, số lượng bán không được nhiều. Tôi mượn một cái “bàn” nhỏ, cột sau xe đạp, chạy loanh quanh nhiều đường để quan sát. Đường phố gần như ngập tràn các bàn bán vé số. Nhiều nơi tập trung thành một tụ điểm với hàng chục bàn kế nhau. Có nơi còn dựng tấm bảng thật lớn, gắn đèn sáng choang, để ghi kết quả xổ số. Đến giờ xổ, dân chơi số đề, dân mua số chen chúc nhau, đợi người bán vé ghi kết quả từng lô trúng lên bảng (trực tiếp truyền thanh từ radio). Có những nơi, toàn bộ gia đình tham gia trực tiếp và toàn thời gian cho việc bán vé số. Anh bạn tôi cũng vậy. Hai vợ chồng và hai đứa con thay phiên nhau trực bàn. Vì bán một vài trăm vé như tôi thì không nói làm gì, còn bán lên đến vài ngàn vé như anh bạn thì công việc cũng lắm đa đoan: nhận vé, kiểm vé, đánh dấu vé, trả vé, đổi tiền trúng cho khách, lập sổ ghi vé, ghi kết quả xổ số. Đó là chưa kể, nếu bạo gan nhận ghi thêm số đề cho bọn đầu nậu Chợ Lớn dấu mặt, thì công việc còn nhiêu khê hơn, trong đó có cả việc che mắt hoặc hối lộ công an đường phố, công an khu vực.
Thấy nơi nào cũng nhiều bàn quá, tôi chọn một đoạn vắng vẻ trên đường Cao Thắng, chênh chếch chùa Tam Tông Miếu, cách một đoạn khá xa với tụ điểm bán vé số ngả tư Cao Thắng – Nguyễn Đình Chiểu (Phan Đình Phùng cũ). Từ, một người bạn mới quen, giúp tôi đóng lại bàn ghế và đóng một tấm bảng để ghi kết quả xổ số. Địa điểm này, trong ý nghĩ tôi, là nơi dễ bán vé vì chỗ thoáng, ít hàng quán chung quanh, đường lại rộng, hai chiều (đường Cao Thắng, Nguyễn Đình Chiểu đều một chiều). Cạnh đó, lại có một gốc cây lớn nằm trên lề đường rộng, bạn bè ai cũng có thể tạt ngang, ngồi tán gẫu.
Ngày đầu tiên, tôi đi thật sớm, bày bàn ra. Vé sắp theo đơn vị xổ số và theo cặp. Vé Thành phố (tức là Sài Gòn) một phía, vé các tỉnh một phía. Trong 200 vé, tôi lấy 100 vé Thành phố, vì vé Thành phố có thể trả lại được trước giờ xổ, nếu bán không hết. Riêng vé tỉnh, phải mua đứt, lời ăn lỗ chịu. Mỗi vé bán ra 2 đồng. Chẳng biết lấy từ gốc là bao nhiêu, thương lái bỏ lại cho chúng tôi khoảng từ 1 đồng 85 đến 1 đồng 92 (tức là mỗi vé lời từ khoảng 13 hào đến 8 hào) tùy loại vé. Nói chung thì vé Thành phố bán không chạy bằng vé các tỉnh như Tây Ninh, Tiền Giang, Đồng Nai. Lô độc đắc của Thành phố ít tiền thưởng hơn vé tỉnh. Vé Thành phố lại ít cặp, chỉ có cặp 10, trong lúc vé của Tây Ninh, Đồng Nai, Tiền Giang cặp 20, rồi 30, 50 và sau này lên đến 100. Một lý do khác, vé tỉnh nhiều cặp “rin” hơn. Cặp “rin” là cặp trong đó, tất cả vé của nó mang cùng một số. Cặp không “rin”, tức là cặp thường, thì các vé của nó chỉ mang 3 hoặc 4 con số đuôi giống nhau, còn hai con số đầu thì khác.
Trong số vé tỉnh, vé Tây Ninh bán chạy nhất. Chạy đến độ, ngày nào có xố số Tây Ninh thì vé các nơi khác bán ế hẳn đi. Chính vì thế mà có lúc, vé Tây Ninh bị nhà cầm quyền thành phố cấm bán ở Sài Gòn. Cấm bằng thông tư hẳn hoi. Vé Tây Ninh biến mất khỏi các bàn bán vé, trở thành vé lậu, tiêu thụ ở Sài Gòn dưới dạng bán chui. Những người hâm mộ vé Tây Ninh phải tìm mua với giá chợ đen, có lúc lên đến 5 đồng/1 vé. Người ta săn lùng vé Tây Ninh để mua trong lúc công an cũng săn lùng vé Tây Ninh để bắt người và tịch thu vé. Chính vì thế, sau này, Thành phố và các tỉnh phải thương lượng nhau để thống nhất về chính sách xổ số: mỗi tuần một tỉnh hay thành phố chỉ được mở xổ số hai lần tối đa, xen kẽ lẫn nhau theo một lịch trình có sẵn và chấp nhận tiền lô độc đắc bằng nhau. Chỉ riêng số cặp thì tùy nghi. Ấy thế mà rồi vé Tây Ninh vẫn bán chạy.
Dọn bàn xong, tôi kéo ghế ngồi lùi vào sâu phía trong, kế bức tường, nhâm nhi cốc cà phê, phì phà điếu thuốc Đà Lạt và ngắm nghía người người qua lại trên đường. Thỉnh thoảng, có một người đi Honda hoặc xe đạp tạt ngang, lựa vé, lấy một hoặc hai cái. Vài người bạn quen, biết tôi khai trương bán vé số, ghé mua một vài cái gọi là ủng hộ tinh thần, ngồi lại đấu hót một hồi, rồi dông. Đến gần trưa, thấy vé bán chẳng được bao nhiêu, tôi bắt đầu sốt ruột. Thay vì ngồi sát tường, nhìn vu vơ đợi khách, tôi bắt đầu kéo ghế ngồi sát bàn, mắt nhìn từng người qua lại với hy vọng họ sẽ ghé lại mua vé. Tôi cảm thấy người ta sao vô tình lạ lùng. Hàng ngàn, hàng ngàn người đi qua đi lại, ấy thế mà chẳng ai thèm chú ý đến bàn vé số của tôi. Xe chạy ngoài đường chẳng nói làm gì, những người đi bộ, biết bao người đi sát cái bàn vé số của tôi, mà làm như chẳng hề biết rằng có một bàn vé số ở đó. Tôi ngồi ngáp vắn, ngáp dài. Thỉnh thoảng nhìn những bàn vé số phía bên kia đường, thấy có xe cặp vào hoặc có người vào lựa vé, tôi lại càng sốt ruột hơn. Kiểm điểm lại vé, tôi chỉ mới bán được có 30 vé. Vé Thành phố không nói làm gì, vì có thể trả lại. Vé tỉnh mới phiền, vì mua đứt. Nắng trưa Sài Gòn làm nhừ người. Tôi đờ đẫn nhìn mông lung. Một vài khách bộ hành đứng, ngồi nghỉ dưới gốc cây, kế bàn vé số. Một người đàn ông trung niên nhìn những tấm vé số một cách hờ hững. Không hiểu ông ta nghĩ gì, bỗng bước tới lật từng tấm vé số, nhìn ngắm săm soi, rồi về lại chỗ ngồi của mình.
Sau buổi trưa, thời gian trôi qua nhanh. Dòng xe cộ không ngớt tuôn về mọi phía. Một giờ. Một giờ rưỡi. Hai giờ. Hai giờ rưỡi. Ba giờ rưỡi phải mang vé còn lại về trả cho thành phố nếu không muốn bị lỗ. Bốn giờ rưỡi xổ. Những cọc vé vẫn nằm một cách lặng lẽ trên mặt bàn. Lâu lâu mới có một người khách tạt vào mua một hoặc hai tấm. Dưới nắng và nóng, những tấm vé số khô, cong lên ở phía mép. Buổi sáng, chúng nằm thẳng nếp, gọn gàng, tươi mới, đợi chờ. Những con số. Vâng, những con số như có tiếng nói. Chúng uốn éo, ngúc ngắc. Không phải mỗi một con số mà là sự nối kết của chúng. Những số đuôi, nào là 2748, 8532, 6954 hoặc hai con như 65, 73, 84, vân vân, tóm lại là những con số bất kỳ, không có gì đặc biệt, con số nào cũng có vẻ “dễ trúng”. Con nào cũng nằm đó, tràn trề hy vọng. Con số nào cũng sống động. Con số nào cũng có thể biến ước mơ thành sự thật. Con số nào cũng chứa đựng những thần bí của sự đổi đời. Con số nào cũng thay đổi được kiếp người, thay đổi số phận.
Nhưng giờ này, sau một buổi phơi nắng, chúng nằm im, chịu trận. Chúng bị hắt hủi. Người đi đường không hề biết đến chúng. Ngay cả tôi, tôi cũng xem chúng như không có. Chúng có thể biến đổi thân phận một ai đó, nhưng tuyệt đối không dính dấp gì đến thân phận của tôi. 1543, 76589, 54672… hay gì… gì… nữa đều giống nhau, tuyệt đối giống nhau. Chúng cần phải được bán đi. Càng sớm càng tốt. Có lẽ không ai hắt hủi những tấm vé số chưa xổ bằng người bán vé số trong những lúc ế khách như thế này.
Trong lúc bối rối, anh bạn tôi tìm đến. Chỗ anh và chỗ tôi chỉ mất vài phút đi bộ.
“Sao, bán được bao nhiêu vé rồi?”
“Mới bán được có 38 vé, ông ơi!”
“Trời, có 200 vé mà bán không hết à?”
Tôi thở dài:
“Biết làm sao được. Người ta không mua, chứ có phải tại mình không muốn bán đâu. Còn ông thì sao?”
“Hết từ lâu rồi.”
“Bán sao mà tài thế! Bao nhiêu vé?”
“Hai ngàn.”
“Trời! Hai ngàn vé mà y như hai chục vé không bằng.”
“Ông chưa so sánh với tôi được đâu. Tôi bắt đầu bán từ chiều hôm trước. Bán đến 11 giờ đêm trước. Lại quen khách rồi. Địa điểm thuận lợi nữa. Mà thôi. Ông lùa hết vé mang sang chỗ tôi bán. Bảo đảm ông, sẽ hết.”
Tôi không tin lắm vào lời hứa đó, nhưng lúc này những lời động viên như thế rất tốt. Tôi thu dọn hết chiến trường, dắt xe đạp và cả bàn qua chỗ anh bạn. N. giúp tôi sắp xếp lại vé trên bàn của anh ta. Nơi đây, hầu hết các bàn bán vé đều sạch nhẵn. Chủ nhân lật úp bàn, đi mất. Chỉ còn lẻ tẻ vài bàn nhỏ, số lượng vé chẳng còn bao nhiêu. N. sắp vé số rất cẩn thận, thứ tự, vé loại nào ra loại đó. N. giải thích:
“Ông phải tạo sự thuận tiện cho khách dễ lựa. Có người thích Thành phố, có người thích Tây Ninh. Có người mua vé lẻ, có người mua vé cặp. Họ không có nhiều thì giờ. Tạt vào, mua xong, dọt ngay. Nhiều người lựa cho có lựa, vì họ làm sao biết được vé nào chắc chắn trúng, vé nào không. Bởi thế, bày vé số như bày hàng tạp hóa vậy. Đẹp mặt, ưa nhìn, khiến họ không định mua cũng phải mua. Định mua một cái, nhưng rồi rút thành hai cái. Vé số là thứ hàng hóa co dãn. Mua bao nhiêu cũng được, mà không mua cũng được. Nên nhớ là nhiều người, không mấy ai ra đường với ý định đi mua vé số. Thấy vé số họ mới mua.”
Tôi vui vẻ ghi nhận lời giải thích đầy kinh nghiệm thương trường đó của anh bạn. Vừa bày bàn xong là đã có người đến mua. Mười vé. Lát sau, có người vào lựa vé, không mua, bỏ sang bàn khác. Cứ thế, số khách ghé tương đối đều đặn. Chồng vé vơi dần. Ba giờ mười lăm.Tôi lại bồn chồn:
“Ba giờ rưỡi phải đi trả vé. Vé Thành phố còn đến 70 cái.”
N. cười:
“Còn nước còn tát. Có bồn chồn cũng vô ích. Kiên nhẫn, đợi tụi ‘bao chót’.”
“Bao chót?”
“Ừ, để xem.”
Mấy bàn kia bây giờ đã bán sạch. Cả đoạn đường, chỉ tôi và một chị ở gần phía đầu đường là còn vé. Một vài người ghé lại, mua vài vé. Ba giờ rưỡi. Còn đến 70 vé Thành phố và gần 20 vé Tây Ninh. Thời gian không cho phép chần chờ nữa. Tôi quyết định thu xếp đi trả vé. Tôi để vé Tây Ninh, nhờ N. bán giúp. Định đi thì một chiếc Honda ghé lại. Một người đàn ông trung niên, đeo kiếng đen, bộ dạng của một tay mánh mun thành đạt, dở kiếng, lựa lấy lệ, lùa hết vé Tây Ninh, nói như ra lệnh:
“Tính tiền. À, còn cặp Thành phố nào nguyên không?”
“Còn, nhưng không có số ‘đẹp’.”
“Nhằm nhò gì. Lấy luôn hai cặp Thành phố.”
Anh ta nhìn con số trên vé một cách không mấy quan tâm, rút tiền trả, rú xe vọt đi. Tôi ngơ ngác nhìn theo, chưng hửng trước cái cách mua vé nhặm lẹ, dễ dàng như thế: gần cả năm chục cái.
Tiếp đó, hai thanh niên ghé vào cùng lúc. Người nào cũng đòi lấy hết số vé còn lại. Rốt cuộc, tôi phải năn nỉ hai người “cưa” đôi (chia đôi). Thế là vé bán sạch, ngoài sức tưởng tượng của tôi. Lúc đó là kém 15 phút đầy 4 giờ. N. nhìn tôi cười một cách hãnh diện:
“Tôi nói đâu có sai. Đó là những người ‘bao chót’, ông hiểu chứ. Có người săm soi chọn lựa từ bàn này đến bàn khác, mong mua cho được cái vé mà họ nghĩ là sẽ trúng. Lại có những người như mấy tay vừa rồi, chỉ đi mua vào những phút cuối cùng. Họ tin rằng những gì người ta chê có thể chứa đựng sự may mắn.”
*
Tính sổ lại ngày đầu tiên bán vé số: lời gần hai chục đồng. Hơn bù thua, trung bình mỗi vé lời 10 hào. Thời giá hồi đó: một ly cà phê con cóc, một đồng rưỡi. Thuốc Đà Lạt (loại thuốc bình dân, phổ thông), hai đồng rưỡi/gói. Một bữa ăn tại quán cơm bình dân, 4 đến 5 đồng.
Hôm sau, rút kinh nghiệm, tôi dời bàn bán vé đến tụ điểm. Lúc đầu, tôi cứ nghĩ mình ngồi lẻ loi một mình tại một nơi có cây cao, bóng cả, lề đường rộng thì dễ có khách. Hóa ra, khách chỉ thích ghé vào những tụ điểm bán vé vì có lẽ nơi đó, nhiều bàn vé số, dễ lựa chọn. Người ta thích lựa vé số, lựa những số mà do linh tính hay do tưởng tượng họ nghĩ rằng sẽ trúng. Lựa bàn này không có vé vừa ý, bước ngay qua bàn khác, vừa nhanh vừa thuận tiện. Hơn nữa, những tụ điểm thường dễ gợi sự chú ý của người qua đường. Dường như người ta có cái tâm lý là mua vé ở những tụ điểm có vẻ dễ trúng hơn là ở các bàn lẻ loi trên đường. Chính vì thế, dân bán vé thường tập trung thành từng cụm, nơi đó dân mới ra nghề, cò con (như tôi) bám vào đám “lớn” vì họ có khách hàng quen thuộc. Đó là lý do tại sao ngồi một mình ở nơi xa không hấp dẫn khách mua.
Không dễ kiếm ra một chỗ, cuối cùng tôi phải ngồi chen chúc giữa một “khu vực” vô cùng chật hẹp với đủ thứ hàng hóa lỉnh kỉnh: chè, cháo, phở, nước mía và các bàn bán vé số ngồi kế nhau tưởng như vô tận. Hầu như tôi chỉ có một khoảng nhỏ, vừa đủ đặt chiếc bàn và chiếc ghế để ngồi. Lâu lâu phải xích qua bên này, xích lại bên kia một chút, vì hoặc là người ta che chắn mình hoặc mình che chắn người ta. Không gian chừng như thu nhỏ lại, không còn chỗ để ngả người, suy tưởng. Chẳng còn chỗ cho bè bạn, người quen tạt vào đấu hót cho qua thì giờ và đỡ sốt ruột. Tôi lọt giữa một xóm chợ với đầy đủ ý nghĩa nhất của nó. Người ta chen chúc nhau, mua mua bán bán. Cãi vã ồn ào. Rộn rịp. Sôi động. Nhưng phải nhận rằng khách lúc nào cũng đông. Uống cốc nước. Ăn cái bánh bao. Mua bì chè, gói thuốc, tờ báo và… vé số.
(Còn 1 kì)
Bình luận
Không có bình luận (bài “Trần Doãn Nho – Sài Gòn, tháng ngày trôi nổi (1)”)