talawas blog

Chuyên mục:

Lâm Hoàng Mạnh – Ai đã làm giàu trong cuộc chiến tranh Trung – Việt? (3)

15/08/2009 | 10:56 sáng | 5 Comments

Tác giả: Lâm Hoàng Mạnh

Category: Chính trị - Xã hội, Quan hệ Việt – Trung
Thẻ: > >

(Xem phần 1phần 2)

Cụ Nam Cao có truyện ngắn “Tư cách mõ” rất độc đáo. Tôi đọc đã lâu (khoảng trên 40 năm, nay tìm trong Việt Nam Thư Quán điện tử không thấy) nên không thể kể thật chi tiết, nhưng nội dung đại để như sau:

Làng X. có anh mõ tự nhiên lăn quay ra chết, nhưng anh ta lại không có con trai để nối dõi nên làng phải tìm người thay thế. (Nghề mõ mà cũng cha truyền con nối như Kim Nhật Thành truyền ngôi cho Kim Chính Nhật, nay Kim Chính Nhật đang chuẩn bị truyền ngôi cho người con thứ ba.) Không có người nối dõi tông đường làm mõ, các cụ chức sắc và bô lão họp khẩn cấp tìm (bầu) người kế nghiệp. Dân trong làng chẳng ai muốn làm mõ, bàn đi tính lại, các cụ thấy chỉ có vợ chồng nhà Y. hiền lành chăm chỉ, lại là dân ngụ cư ít ruộng nên nghèo rớt mồng tơi và không biết rõ thế nào là mõ, giao cho nó may ra nó nhận. Vợ chồng Y sau khi được các cụ giảng giải bao nhiêu cái tốt, cái lợi nếu nhận “làm việc cho làng” (các cụ giấu tiệt chữ “mõ”). Suy đi tính lại, vợ chồng Y. nhận vì thấy công việc nhẹ nhàng, làng có việc chỉ cần cầm mõ, vừa đi vừa gõ, vừa thông tin cho làng xã những điều mà các cụ căn dặn, thế mà được bao nhiêu phần lợi.

Khốn nỗi từ khi nhận làm mõ, mọi người trong làng ai cũng tránh xa vợ chồng anh. Hễ có cỗ bàn dù anh chẳng ăn tham, chẳng lấy thêm phần, nhưng mọi người vẫn thì thào: nó giả đò thôi, chứ mõ mà không tham thì trời sập. Ức lắm, cuối cùng tự nhủ, đã thế thì tham cho biết. Thế là từ đó hễ làng có cỗ bàn gì, tiêu chuẩn mõ được một mâm, mõ xếp mâm mình nhiều hơn mâm làng. Ai định lên tiếng thì người khác gạt đi, tham như mõ ai chả biết. Nó bây giờ đúng hệt một thằng mõ, một tư cách mõ.[1]

Mõ có tư cách mõ! Tư cách mõ là tham lam! Công an Nhân dân Việt Nam cũng có đầy đủ tư cách công an. Theo tôi, tư cách công an là gian manh! Mà lạ thật, tất cả cơ quan chính quyền của nhà nước CHXHCN Việt Nam đều có hai chữ “Nhân dân” đi kèm. Ủy ban Hành chính Nhân dân, Hội đồng Nhân dân, Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân, Viện Kiểm sát Nhân dân, Tòa án Nhân dân… đến tờ báo cũng có tên báo Nhân dân! Theo như “lý thuyết” của nhà nước CHXHCN Việt Nam thì cán bộ là đầy tớ của dân, như vậy người dân có hàng chục vạn đầy tớ kể từ Tổng Bí thư đến Chủ Tịch nước. Làm dân ở Việt Nam oai thật!

Theo tôi, thoạt kỳ thủy công an cũng xuất thân từ người bình thường như tất cả chúng ta, có nghĩa là không có bất cứ một tư cách công an nào. Nhưng vì nghề công an là nghề bảo vệ chính quyền, chuyên chính với kẻ thù, cho nên họ buộc phải có con mắt nghi ngờ, chẳng tin ai. Nhìn ai họ cũng nghi, sau nhiều đời cha truyền con nối (ngành công an Việt Nam thường tuyển thân nhân người trong ngành, rất ít tuyển người ngoài), cái máu nghi ngờ càng ngày càng đậm trong huyết quản và tư cách công an ngày một rõ nét. Và ngày nay nếu còn sống chắc cụ Nam Cao sẽ viết thêm truyện ngắn “Tư cách công an”, làm giàu cho kho tàng văn học Việt Nam.[2]

Một công an mặc đồng phục đi đến đâu cũng rất tự hào, bởi vì ai trông thấy cũng gật đầu chào, trẻ em dạt ra một bên, các bà các chị bán hàng rong chạy như bị chó đuổi… có nghĩa là ai cũng sợ anh một phép (anh ta không hiểu sự khác nhau giữa kính và sợ). Cứ thế, từ cấp bực con ruồi đậu miếng tiết (phù hiệu ngành: một sao trên nền đỏ là thấp nhất) lên dần theo năm tháng, khi có chức thì tư cách công an càng rõ. Không chỉ với những người xa lạ (trên đường phố) mà bà con hàng xóm láng giềng lại càng sợ anh tợn, bởi nhà anh ở ngay sát nách, chuyện lớn chuyện nhỏ đều đến tai vợ con anh. Từ tai vợ anh đến tai anh đâu có xa, cách nhau có mỗi chiếc gối, cho nên nếu anh muốn kiếm chuyện để vòi tiền thì dễ như thò tay vào túi áo lấy bao thuốc lá ba số 5.

Ai cũng biết chuyên chính vô sản là ghê gớm lắm, độc địa lắm, nhưng hỏi độc địa, tàn bạo ở chỗ nào, ra sao và bắt đầu từ khi nào, tôi tin ít người trả lời một cách thỏa đáng. Nhân đây tôi xin dẫn chứng một chuyện thật 100% mà tôi biết rõ.

Hè 1963, tôi đến thăm anh bạn chí cốt từ nhỏ, khi ấy là giáo viên dạy Trung văn cấp II, anh cũng đang nghỉ hè, ở Dư Hàng. Nhà anh đang có thợ cắt tóc rong đến cắt theo thường lệ. Người thợ cắt tóc rong này rất trẻ, khoảng trên dưới 30, tay kéo bấm tanh tách có vẻ rất chuyên nghiệp, vừa cắt vừa kể chuyện tào lao, tuy không bổ ích nhưng lý thú làm mọi người thấy thú vị. Thằng bạn tôi bảo, anh ấy kiến thức rộng lắm, tiếng Pháp làu làu, chả có xí xố xì xộ vài câu mách qué như tao với mày đâu. Anh ta cắt tóc rong làm kế sinh nhai, độ nhật qua ngày. Đừng có coi thường! Cái thằng, tao là cái đinh gì mà dám coi thường ai. Thấy tay nghề anh rất khá vả lại giá rất bình dân, 3 hào, tôi cũng ngồi vào chiếc ghế xếp bằng vải để anh húi.

Từ đó tôi làm quen với anh và thằng bạn cố tri đưa tôi đến nhà anh ở ngõ Chợ Cột Đèn, đường Trại Cau. Câu chuyện đời anh thật đau thương, day dứt trong tôi mãi đến hôm nay.

Anh tham gia kháng chiến chống Pháp khi anh đang học tú tài (Pháp). Anh làm liên lạc cho cấp tiểu đoàn. Hòa bình lập lại, anh về Hải Phòng, gia đình anh đã di cư vào Nam, để lại cho anh một căn nhà hai tầng ở Đình Đông. Khi anh xuất ngũ thì căn nhà đã có người chiếm (thuê), anh đem đầy đủ giấy tờ để xác định quyền chủ nhân. Công an và chính quyền khu phố xác nhận anh là chủ nhân của ngôi nhà, nhưng vì có người đang ở (thân nhân của trưởng đồn công an khu phố), vả lại nhà nhiều phòng, họ đề nghị anh hãy tạm sử dụng một phòng (vì chưa có vợ), còn lại cho họ thuê và trả tiền hàng tháng là 3 đồng. Khi nào họ tìm được chỗ ở mới sẽ dọn đi, trả lại nhà cho anh. Anh chấp nhận vì không thể làm gì hơn.

Năm 1958, anh xin vào trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Anh tính bán căn nhà lấy tiền chi tiêu cho 5 năm đèn sách. Nhưng người thuê nhà không mua (sao lại mua, khi chỉ phải trả có 3 đồng 1 tháng), anh đuổi họ để lấy lại nhà bán cho người khác. Họ cũng không đi vì trong bản ký kết có ghi “khi nào tìm được chỗ ở mới”, hiện nay chưa tìm được. Thế thôi. Cãi nhau, đưa nhau ra khu phố nhiều lần, thất bại về phần anh.

Uất quá, anh đi tìm người mua gạch, mua ngói, mua cánh cửa…, anh gọi đoàn thợ đến phá ngay căn nhà khi vợ chồng thuê nhà về quê ăn giỗ. Anh bị bắt, tống giam. May thủ trưởng cũ biết, can thiệp nên anh được tha. Nhưng hồ sơ lý lịch của anh được chính tay trưởng đồn công an phê: Có tư tưởng và hành động chống phá chủ nghĩa xã hội!

Đời anh tiêu rồi! Chết lay lắt trên chính quê hương mình!

Thời bấy giờ tốt nghiệp cấp III là của quý. Tỉ lệ mù chữ ở miền Bắc 80%, năm 1956 cụ Tôn Đức Thắng làm trưởng ban Bình dân Học vụ Trung ương, tất cả học sinh cấp II và III phải gia nhập đoàn quân diệt dốt. Tốt nghiệp cấp II (lớp 7) vào trường Trung cấp Sư phạm học 2 năm đã thành thày cô giáo cấp II (dạy từ lớp 5 đến lớp 7), tốt nghiệp phổ thông vào Đại học Sư phạm học 2 năm, ra trường là thày cô giáo cấp III (dạy tư lớp 8 đến lớp 10). Ấy thế mà anh xin làm chân loong toong cũng không xong. Anh đành học nghề cắt tóc. Có nghề trong tay, xin mở quán cóc đầu ngõ để độ nhật cũng bị từ chối. Anh đành vai đeo chiếc ghế vải, tay xách hòm đồ bằng gỗ có hàng chữ: “Cắt tóc” thật bay bướm, đầu đội mũ tầu phở đi vào các làng phụ cận như Chùa Chiếu, Dư Hàng, Quán Nải… để kiếm ăn.

Chuyện có thế vẫn chưa thật bi đát. Còn dài dài, đời anh là chuỗi ngày đau khổ, bất công.

Chả biết duyên trời xe thế nào, hôm ấy anh vào khu Chùa Chiếu, đến nhà cụ H. như thường lệ, vô tình nhà có giỗ cụ cố, cả họ mời anh ngồi xuống dự bữa cơm với tất cả con cháu và họ mạc. Nể quá, anh ngồi, không ngờ anh lọt vào cặp mắt xanh của chị V.

Sau khi xưởng cưa của bố bị công hữu hóa, chị V. được làm nhân viên kế toán của xưởng. Một thời gian tìm (và) hiểu, chị chẳng nghĩ đến cái lý lịch bất hảo của anh, và gia đình chị cũng không phản đối. Chị lên cơ quan xin giấy chứng nhận chưa có chồng để đi đăng ký kết hôn. Thủ trưởng không cấp giấy. Chị và trưởng phòng tổ chức, thủ trưởng cơ quan đấu lý nhau, cuối cùng chị tuyên bố: Các ông có cấp giấy không thì bảo. Tôi gái chưa chồng, anh ta trai chưa vợ, chúng tôi yêu nhau, không ai có quyền ngăn cấm, đến bố tôi cấm cũng không được, huống chi là các ông. Tôi sẽ kiện các ông vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình 1958.

Được lắm con! Cho chúng mày đói rã họng ra xem có yêu nhau mãi không! Một túp lều tranh với hai trái tim vàng mà không có cuộn giấy bạc thì xem vuông tròn được mấy hôm!

Chị bị thải hồi sau khi anh chị làm bữa cơm thân mật bên nhà cụ H. để ra mắt gia đình. Thì ra con trai tay giám đốc yêu thầm nhớ vụng chị nhưng chị từ chối.

Anh vẫn theo nghề cắt tóc rong, chị đi bán rau ở chợ Cột Đèn. Nghèo nhưng anh chị rất hạnh phúc. Tôi rất quý trọng anh chị và anh chị rất quý tôi. Một lần, sau bữa cơm rau đậu với gia đình anh chị, chị cười, bảo tôi:

“Chú cẩn thận đấy, nhà trường mà biết chú quan hệ với anh chị thì chỉ còn cái nuớc bán sấu dầm, thuốc ê thôi.”

Anh chị cấm tôi không được viết thư cho anh chị và anh chị cũng không viết thư cho tôi. Tôi biết anh chị cố gắng giữ gìn sự “trong sạch cho lý lịch” và sinh mạng chính trị của tôi.

Sau khi ra trường, công tác xa, ít khi có dịp gặp lại, rồi chiến tranh leo thang, không biết anh chị trôi dạt đi đâu. Năm 1968, tôi đưa bạn gái (nhà tôi sau này) về để ra mắt bên nội, chúng tôi có đến thăm anh chị, nhưng người ta bảo anh chị đã dọn đi nơi khác. Tên anh là Nguyễn Gia Hoàng và chị là chị Vường (tôi không biết họ). Nếu còn, anh chị đang bước dần sang tuổi 80.

Chuyên chính vô sản như thế đấy!

Như vậy, tư cách công an đã được khẳng định từ 1958-59 chứ chẳng phải sau 20 năm mở cửa và do nền kinh tế thị trường (tư bản) đã làm thoái hóa bản chất tốt của người chiến sĩ công an nhân dân Việt Nam mà Đảng và nhà nước đang đổ vấy.

Với tư cách gian manh, nhân vụ người Hoa, họ gây biết bao đau khổ cho những số phận hẩm hưu, thấp cổ bé họng trên toàn miền Bắc. Họ thích đến nhà người Hoa bất cứ lúc nào thì đến, đôi khi chẳng có chuyện gì cũng cứ lù lù dẫn xác vào, hỏi vu vơ vài câu, ngó ngó nghiêng nghiêng, uống chén nước, hút điếu thuốc lá rồi đi ra. Ai tỏ thái độ bất bình là bị đe dọa liền. Thị xã tôi có hai anh lái xe bị thải hồi ngay sau ngày 17-2-79, hai anh tuyên bố sẽ xin đi nước ngoài theo chính sách nhà nước ban hành. Lập tức công an thị xã cử ngay người đến đe dọa, họ tuyên bố bắt đầu từ hôm nay, hễ đi ra khỏi thị xã phải báo cáo. Vắng nhà không lý do sẽ bị tạm giam. Như vậy các anh đã bị quản thúc tại gia mà không có lệnh truy tố.

Đồ đạc, nhà cửa của người Hoa bị công an gây khó dễ và đe dọa người mua… như phần 1 tôi đã trình bầy. Nhưng tất cả chỉ là chuyện nhỏ (như con thỏ), công an kiếm chác nhiều nhất lại là chuyện xuất cảnh.

Người Hoa được phép xuất cảnh hợp pháp, trong khi rất nhiều người Việt (không bị bài xích, xua đuổi) nhưng cũng muốn trốn khỏi Việt Nam. Con đường an toàn nhất là thông qua chủ thuyền, công an ngoại kiều làm phép phù thủy “hô biến” từ họ Nguyễn, họ Lê, họ Phạm… biến thành họ Lã, họ Lý, họ Châu, họ Vương… nhưng lễ vật cho thày phải nhiều vàng lá, phép thày ứng ngay. Thuyền tôi có 5 người Việt, 3 nam 2 nữ. Riêng hai mẹ con chị từ miền Nam, nghe giọng nói tôi đoán chị dân gốc Thừa Thiên-Huế. Chị khoảng trên 35, đứa con gái khoảng lên 9, trong suốt cuộc hành trình chị rất ít nói, đến giờ ăn thì ăn, nhà thuyền yêu cầu làm gì thì chị làm, sống hoàn toàn khép kín. Chắc sau gần 5 năm sống dưới chế độ XHCN tươi đẹp, chị đã mất hết niềm tin đối với người đời, nhất là đối với người miền Bắc thứ thiệt.

Phép thuật của phù thủy như thế nào? Tôi chỉ biết có mấy chiêu nhưng cũng xin tố (quá muộn, còn hơn không) để bạn đọc tham khảo.

1- Trong danh sách nộp cho Ban Ngoại kiều, thay tên đổi họ nghe sao rất Tàu.

2-Thường thường trước khi đọc danh sách lên thuyền, công an xuống thuyền kiếm tra buộc tất cả mọi thuyền nhân lên bến, sau khi đọc danh sách mới được xuống thuyền. Nhưng những “vị khách” này được ở dưới khoang thuyền, buồng máy, không phải lên trình diện.

3-Trước khi cắt dây ở phao số 0, viên đại úy tháo khóa tay một số tội phạm (thật hay giả chả ai biết) gửi mỗi thuyền vài người, coi như kẻ xấu bị nhà nước trục xuất bí mật.

Tuy tôi có làm thư ký không công cho lão Ké, nhưng lão kín lắm (trong danh sách 2 thuyền, có 7 vị khách đặc biệt này), tôi chỉ thấy khi gói vàng lão nhận của khách khá nặng. Nhưng nghe tin cả 4 thuyền (sau này lão mua thêm 1 thuyền nữa nâng tổng số là 4) không xuất cảnh được vì đã đóng cửa đường biển!

Ngày nay trên toàn cõi Việt Nam đâu đâu cũng có nhà hàng, khách sạn, nhưng theo chỗ tôi được biết hầu hết khách sạn, nhà hàng đều có thân nhân làm công an đứng ra hoặc chung vốn. Ngành kinh doanh khách sạn là ngành đặc biệt ưu tiên cho công an và thân nhân của họ, bởi vì khách nghỉ phải trình báo tạm trú, họ dễ theo dõi những Vịt Cừu không muốn làm thân phận con cừu thì chỉ có là “Lamb to the Slaughter”.[3]

10-8-2009

© 2009 Lâm Hoàng Mạnh

© 2009 talawas blog


[1] Nếu độc giả nào tìm được truyện này trên internet, xin giới thiệu. Cám ơn.

[2]Tôi chỉ nói tư cách công an ở Việt Nam, không lạm bàn công an (policemen/police-officers) nước khác.

[3] Tên một truyện ngắn của văn hào Anh Roald Dahl

Bình luận

5 Comments (bài “Lâm Hoàng Mạnh – Ai đã làm giàu trong cuộc chiến tranh Trung – Việt? (3)”)

  1. Phùng Tường Vân viết:

    “Sự thật” này là “bất khả tư nghì”
    Dù cụ Nam Cao có sống lại mà viết đến thiên niên kỷ sau chăng nữa cũng không làm sao mà phản ảnh được cái phong phú của tư cách,thôi nói chung là tư cách nhà nước hiện nay, nó có muôn vàn hình trạng, nhân vừa đọc một câu chuyện liên quan xin được thuật lại:
    Trên trang mạng của nhà báo HBK tôi thấy có hai account sau đây, chuyện thứ nhất theo đúng lời ông thuật lại: “Trước Đại hội X của đảng, tôi có người bạn hoạt động lâu năm trong ngành ngọai giao, tên tuổi của anh khá nổi. Một lần anh bảo, được một người rất quan trọng gọi lên gặp gỡ, khen ngợi, có ý xa gần rằng anh có thể trở thành Ủy Viên Trung Ương Đảng. Nghe thuật lại vậy, một người bạn là doanh nhân giầu có, rất lọc lõi trong các mối quan hệ, phán ngay là phải kiếm ngay bốn “cục gạch” mang đến 4 nơi thì việc mới thành. Người bạn tôi không nghe theo, kết quả anh vẫn chỉ là anh cho đến hôm nay”.
    Truyện kế là của một người bạn của ông đóng góp: “Mấy cháu tôi học bổng toàn phần bên Úc tự nguyện xin về dậy cho trường Giao thông, hòng san sẻ với lớp trẻ ở quê nhà chút kiến thức thu thập được ở xứ người văn minh, tiến bộ; ngờ đâu các thầy bắt thi công chức và đánh trượt đứ đừ lại còn bảo thẳng vào mặt: mày có là học toàn phần của Tây U gì không biết, học giỏi đến mấy hay là con cháu cụ Bùi mà không có tiền thì cũng không là gì, cũng chỉ hợp đồng và hai triệu lương mà thôi.”

    Về tính chất khả tín, cái credit như bên này ta quen gọi, của hai câu truyện trên thì tôi chỉ xin phụ chú rằng, cái ông blogger Hồ Bất Khuất này vốn là một Tiến Sĩ Báo Chí (thiệt tình) và như ông cho biết đã từng làm báo Sự Thật trên 10 năm,”Sự Thật” nào thì còn có thể có rất nhiều chỗ “tồn nghi” nhưng thiết nghĩ hai câu truyện trên mà lại dưới ngòi bút của một ông “10 năm Sự Thật” thì nó phải là “vàng ròng” rồi, một sự thật “bất khả tư nghì” vậy.

  2. luanle viết:

    Cám ơn anh LH Mạnh đã kể lại câu chuyện của mình, giúp làm phong phú thêm tài liệu lịch sử về tội ác của chính quyền Cộng Sản, vốn đã quá nhiều.
    Đọc bài viết của anh khiến cho tôi suy nghĩ nguyên nhân nào đã khiến cho con người tàn ác với nhau như vậy ?
    Ắt phải có bóng tối nào ghê gớm lắm che lấp tâm hồn mới khiến cho nhiều người Việt trở nên dã man như vậy đối với con người. Sợ hãi? Lợi quyền? Tranh chấp? Hận thù?… Cũng có thể có nhiều yếu tố như đã nói, nhưng theo tôi nghĩ thì yếu tố góp phần nhiều nhất là loại ‘văn hóa bầy đàn’ hay tập thể mà chủ thuyết cộng sản du nhập vào Việt Nam đã khiến nhiều người Việt đánh mất chính mình.

    Còn đâu những văn hoá nhân nghĩa cao đẹp của đạo nho, văn hoá tự giác giác tha của đạo phật đã từng góp phần nâng cao tâm hồn người Việt Nam trước khi chủ nghĩa Cộng Sản xâm nhập.
    Chủ thuyết cộng sản tôn vinh tập thể và xoá bỏ cá nhân. Khi đánh mất cá nhân thì cái tâm cũng không có cơ sở phát triển, giống như cây cối không có đất cho rễ bám thì khó phát triển. Mà tâm là cái gốc của mọi nền văn minh. Nguyễn Du chẳng đã từng nói :’Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài’ hay sao ? Khi trong xã hội đánh mất cái Tâm thì chuyện xấu xa gì cũng có thể xảy ra. Đó là cách hiểu của tôi. Chúc anh Mạnh có được nhiều niềm vui .

  3. Nguyễn Việt viết:

    Bác Mạnh thân mến,

    Cảm ơn bác đã kể một cách rât mộc mạc về cuộc đời của những nguời, bất kể gốc gác nào, đã và đang sống ở Việt Nam.

    Điều bác phát hiện về liên hệ giữa anh em công an với giới kinh doanh khách sạn không biết có đúng không, nhưng dân Hà Nội lại nói là các cửa hàng internet và chơi game đều do gia đình, thân nhân anh em công an quản lý. Như thế thì đố thằng địch nào lợi dụng internet để làm phản đuợc.

    Lại nhớ hồi xưa Hitler đã thao túng các nhà thổ để theo dõi bọn sỹ quan và chính khách trong chế độ quốc xã. Nhưng đó là loại chính khách không có tư cách!

    Hoan hô ý nghĩ của bác Mạnh mong cụ Nam Cao sống lại để viết về „Tư cách công an“. Nhưng thưa bác, việc đó vừa không tưởng, vừa không sát thực tế, lại dễ gây mất đoàn kết. Tôi nghĩ nhân dịp này nên phát động phong trào viết về „Tư cách phòng thuế“, „Tư cách hải quan“, „ Tư cách cán bộ tổ chức“, „Tư cách cán bộ dự án“, „Tư cách nhà báo“, „Tư cách bí thư chi bộ“, „Tư cách phường“ v.v. Mỗi một nghề trong chế độ này đều đã được chuyên môn hóa đến mức độ cao để huởng lợi, để bóp nặn. Vì thế chúng đều tạo ra các tư cách riêng, rất độc đáo, đáng để viết. Mà viết như vậy không ai ganh tỵ ai.

    Nhưng trộm nghĩ. Để phát động phong trào này, chúng ta lại phải lên „Dự án“, phải thành lập „Trại sáng tác“, rồi tuyển các thợ viết có „Tư cách nhà văn“. Những việc đó lại do các cán bộ có „Tư cách tổ chức“, „Tư cách lập dự án“ v.v. đứng ra làm.

    Viết một lúc là hoa hết cả mắt. Lại phải cố chờ cụ Nam Cao sống lại thôi.

  4. Nhỏ Thanh viết:

    “Công an thích đến nhà người Hoa bất cứ lúc nào thì đến, đôi khi chẳng có chuyện gì cũng cứ lù lù dẫn xác vào, hỏi vu vơ vài câu, ngó ngó nghiêng nghiêng, uống chén nước, hút điếu thuốc lá rồi đi ra. Ai tỏ thái độ bất bình là bị đe dọa liền”.

    Bác Lâm,

    Điều lày, hình như cũng lúng cả với người Việt nữa… Cái gì nị cũng nhận phần hết cho người Hoa là không công bằng lâu….

  5. vantruong viết:

    Cám ơn bác đã kể chuyện đời của mình.
    Và cái link để đọc “thằng mõ” ở đây :

    http://cuchuoi.sky.vn/doc-sach/tu-cach-mo-nam-cao/

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>