talawas blog

Chuyên mục:

Lâm Hoàng Mạnh – Ai đã làm giàu trong cuộc chiến tranh Trung – Việt? (2)

11/08/2009 | 5:44 sáng | 15 Comments

Tác giả: Lâm Hoàng Mạnh

Category: Lịch sử, Quan hệ Việt – Trung
Thẻ:

(Xem phần 1)

Behind every great fortune there is a crime (Balzac)

Đằng sau mỗi tài sản lớn đều có một tội ác (Balzac)

Người Hoa khắp nơi đổ về Hải Phòng như đi trẩy hội Chùa Hương, như có Đại hội người Việt gốc Hoa miền Bắc không bằng. Bến Tam Bạc, người Hoa đông như kiến và cũng đủ các loại thuyền đánh cá của các hợp tác xã đã quá cũ được thanh lý (thải) đem ra bán cho người Hoa làm thuyền vượt biển. Thuyền nhiều như lá tre, đỗ chật bến, mạn thuyền nọ sát mạn thuyền kia, bước sang nhau dễ như đi trên đất liền.

Đông người như thế thì vấn đề nhà trọ là điều rất khó khăn, trong khi đó Hải Phòng ít nhà trọ, còn hotel thì hầu như không có. Đi đâu cũng thấy người nằm la liệt khắp vỉa hè, vườn hoa, nhà thờ, đình chùa miếu mạo. Nghĩa là chỗ nào có thể trải chiếu xuống được là trải liền, miễn sao có chỗ ngồi, chỗ ngả lưng cho đàn con nheo nhóc và cho chính bản thân mình. Hải Phòng nhốn nháo. Hải Phòng lộn xộn! Hải Phòng nhếch nhách bẩn thỉu, chẳng khác gì năm 1954 người các tỉnh đổ về Hải Phòng chờ tầu há mồm đến đón người theo đạo Thiên Chúa di cư vì tin đồn Chúa Giê-su đã vào Nam vậy.

Vợ tôi và đàn con về trước, tôi còn chút việc phải giải quyết – cắt hộ khẩu, thu nốt tiền người ta chưa trả hết – hôm sau tôi mới về (chuyện cắt hộ khẩu của tôi li kỳ y như một tiểu phẩm trinh thám, có dịp tôi sẽ trình bày sau). Tôi dặn đến nhà chị C. xin ngủ nhờ một tối, mai tôi về sẽ tính sau. Tất cả các gia đình cô dì chú thím và họ mạc tôi đã đi Hong Kong từ tháng Tư, sau khi ông chú thứ hai viết thư hỏi có đi không thì tôi vẫn chưa quyết định dứt khoát, còn luyến tiếc Việt Nam lắm. Chị C. là con nuôi bác gái họ tôi (con của bà bá mà bà nội tôi gọi là chị ruột) ở Cát Dài. Ai ngờ gần 7 giờ tối, thấy vợ và đàn con tôi đến, cả nhà anh chị ta đón tiếp rất lạnh nhạt, chẳng thèm hỏi xem đi đường ra sao, các cháu ăn uống gì chưa. Khi thấy vợ tôi ngỏ lời xin tá túc một đêm để chờ tôi, thì cả nhà chị ta phản đối ra mặt, dứt khoát không nghe. Tôi biết vợ tôi chẳng thông thuộc đường phố Hải Phòng cho nên mới dặn đến nhờ. Vả lại giữa chị ta và gia đình tôi kể ra cũng khá thân thuộc. Vậy chị ta là ai? Sao trong lúc nước sôi lửa bỏng ai cũng tránh mặt người Hoa, sao tôi lại bảo vợ con tôi về đó tá túc một đêm, gây phiền hà như vậy? Xin thưa, chuyện rất dài dòng, đã kể sao không kể rõ nguồn cơn để độc giả rõ mối quan hệ. Và vì sao tôi lại có thể phiền đến gia đình chị mà đúng ra chị phải vui vẻ chấp nhận chứ.

Trận đói tháng 3 năm Ất Dậu (1945) gia đình ông bà tôi (mở hiệu thuốc Bắc) khá giả nên đã nấu cháo phát chẩn cho những người đói (hình như được gần 10 ngày thì cũng hết khả năng, vì gạo quá đắt và khó mua). Mỗi ngày phát chẩn một nồi 30 cháo hoa. Phát vào buổi trưa. Thời bấy giờ nồi thường bằng đồng, để dễ tính, người ta gọi nồi 5, nồi 10 hay nồi 30, có nghĩa là nấu cơm bằng nồi đó thì số người ăn (no) trong bữa cơm sẽ là 5, là 10 hay 30. Nồi 30 là loại nồi đồng gần như to nhất mà ông tôi thường dùng để nấu cao xương. Ngày nào cũng chỉ nấu có một nồi, phát hết thì thôi. Ngày mai phát tiếp. Đến ngày thứ tư, thì có hai mẹ con người đàn bà quần áo rách như tổ đìa, đứa con gái khoảng 14 tuổi, cả hai gầy nhom mang theo chiếc nồi đất nhỏ đến xin cháo. Cô tôi múc cháo vào nồi, người mẹ run run cảm ơn và đỡ lấy nhưng không đủ sức nữa, ngã lăn xuống đất rồi chết. Đứa bé ôm mẹ khóc không nên lời, tất cả mọi người đều ái ngại, nhưng chẳng biết làm gì. Cảnh người chết đói diễn ra hàng ngày, chỗ nào mà chẳng có, cho nên thương là thương vậy chứ biết làm sao. Người ta chết trước cửa nhà mình, con gái người ta không biết sẽ đi đâu, sống ra sao. Thật lòng gia đình tôi cũng rất ngại, bà tôi đành an ủi nó (biết an ủi gì mới được cơ chứ?) và hỏi nó xem thân nhân còn ai không. Nó chỉ biết lắc đầu trong nước mắt cùng tiếng nấc. Hồi ấy, chết đói đầy đường nên có đội xe bò của nhà nước nhặt xác người chết đem đi chôn tập thể. Cô bé đó lê theo chiếc xe bò chở xác, nhưng rồi cũng mệt quá đành chịu. Thấy cảnh thật đáng thương, cô tôi bảo với bà tôi, hay nhận nó về làm con nuôi chị B. để trông con cho chị. Bà tôi vẫn còn chưa quyết vì không biết vợ chồng chị B. có nhận hay không. Cô tôi bảo, nếu chị B. không nhận thì má nhận nó làm con nuôi vậy. Chẳng biết bà tôi nghĩ gì đã nhận cô bé đó. Thế là từ hôm ấy cô bé đó sống trong nhà tôi. Rất may, chỉ sau gần một tuần vợ chồng chị B. từ Hà Nội xuống đồng ý nhận cô bé làm con nuôi (đúng nghĩa ra là con ở). Năm 1953, hai bác tôi đã gả chồng cho chị và cấp cho chút vốn (coi như tiền công 8 năm) để buôn bán. Chị theo chồng về Hải Phòng, từ đó chị coi gia đình tôi là ân nhân, là chỗ thân tình. Tôi gọi chị là chị C., còn chị gọi tôi là cậu, thân mật tưởng như là ruột thịt. Giỗ Tết vợ chồng chị vẫn đến nhà thắp hương và ăn cỗ.

Vợ tôi tức lắm và ứa nước mắt, nói vã bọt mép và gần như lạy chị miễn sao cho đàn con tá túc một đêm thôi, sáng mai dù tôi không về kịp thì cũng xin tìm nhà trọ chứ không dám phiền thêm. Vợ tôi giãi bày, đêm hôm thế này, đường phố không thuộc, họ mạc đã đi Hong Kong hết, đàn con nhỏ biết ngủ đâu, mai chồng về biết đâu mà tìm. Anh chồng xem ra thấy đuổi vợ con tôi thì ác quá nên buộc lòng chấp nhận, nhưng với điều kiện, ngày mai dù chồng về hay không về thì vợ con tôi phải đi tìm chỗ trọ khác. Vợ tôi gạt nước mắt, chấp nhận. Sau khi ăn xong phở, rửa qua loa cho các con và xin mượn một chiếc chiếu đôi cũ, trải xuống nền nhà xi măng, mấy mẹ con ôm nhau ngủ một mạch đến sáng. Đúng như dự tính, tôi về đến nhà chị C. gần 1 giờ chiều. Nghe vợ tố khổ, tôi uất lắm, nhưng vẫn cám ơn anh chị đã giúp nhà tôi và các cháu được tá túc một đêm, rồi gọi xích lô đến nhà trọ ở phố Cát Cụt gần phía ngã 3 đường Trần Phú cách bến Tam Bạc không xa. Chị C. đã chết trong lòng tôi từ hôm 30-4-1979. Ấy thế mà năm 1988, không hiểu vợ chồng chị mò đâu ra được địa chỉ chú tôi, viết thư sang nài nỉ ông bà xin rủ lòng thương, làm giấy bảo lãnh cho hai đứa con gái đang bị nhốt ở trại cấm Hong Kong, nếu không sẽ phải đuổi về! Cả họ chúng tôi không ai trả lời.

Chủ trọ là mụ góa khoảng 50, không con không cháu, nét mặt khó đăm đăm, hễ mở miệng là ầm ầm như thể chửi cha người ta. Tuy thế mụ có căn nhà khá rộng và mở quán trọ bình dân từ bao giờ tôi chẳng rõ, nhưng phải nói là khá lâu, nếu như không nói là rất lâu. Có tất cả 3 phòng cho thuê, nói là phòng cho oai, thực ra mụ ta kê mỗi buồng hai cái phản đôi, nước mồ hôi, ghét của hàng ngàn khách trọ đã làm màu gỗ mặt phản lên nước đen bóng màu gụ và chiếc màn chung hôi xì và đen màu bồ hóng. Mụ không tính phòng mà tính đầu người, bình quân lớn nhỏ 1 đồng/ngày đêm, nhưng cấm nấu nướng, cấm tắm giặt. Thuê trọ là thuê để nghỉ ngơi và để ngủ, mà ngủ đêm tối kị hai vợ chồng son chung một phản. Không thuê thì cút, già này không cần! Chán vạn đứa đang van xin tao kia mà tao còn chưa thèm nhận. Chúng bay được ở đây là phúc tổ 70 đời rồi đó con. Ngủ ngoài đường, chỉ một đêm là đồ đạc sẽ bị cướp sạch. Khôn hồn biết điều, đừng có kêu ca phàn nàn, đắt rẻ, bà mà nổi máu tam bành thì đuổi ráo. Quân Tàu ô sắp chết đến đít mà còn lắm chuyện.

Thế đấy! Lấy tiền người ta mà chửi xơi xơi vào mặt, thế mà phải chịu cắm tăm! Mụ nói có lý, ngủ ngoài đường ngoài chợ, vợ chồng con cái thay nhau thức cả đêm trông đồ, mệt quá, nhỡ ngủ gật là bọn trộm, bọn xấu lấy hết đồ đạc tiền nong thì chỉ có con đường ôm nhau nhảy xuống sông!

Tôi may mắn đến gặp mụ đúng vào lúc cả 3 phòng đều hết khách vì thuyền họ vừa nhổ neo chiều qua. Khi tôi hỏi, mụ cũng lại nhắc đúng bài ca (thuộc lòng) cho vợ chồng tôi như đã từng diễn thuyết hàng chục lần bài diễn văn khó lọt tai này. Nghe xong, nhìn mụ từ đầu đến chân rồi lại từ chân đến đầu, tôi biết mụ này rắn lắm và rất quỷ quyệt cho nên không thể cãi lí với mụ, tôi đành đánh vào tình cảm, nói ngọt. Tôi viện lí do, các con tôi bé quá, ngày nắng thì không sao, chứ ngày mưa không thể cả nhà bồng bế nhau ra Chợ Sắt ăn ngày 2, 3 lần được. Thôi thì bà đã thương thì thương cho chót, chúng tôi xin trả thêm mỗi ngày 1 dồng để bà cho phép nấu cơm ở đây (tôi mua một chiếc bếp dầu hỏa) và xin hứa sẽ giữ vệ sinh, nấu xong sẽ quét dọn sạch sẽ. Còn tắm rửa giặt giũ chúng tôi không dám phiền bà, chúng tôi ra nhà tắm công cộng. Bà ta cao giọng, hỉ hả bảo, nói như anh chị còn nghe được (trả thêm 1 đồng) vả lại tôi tuy thế như cũng hay thương người. Thôi được, tôi đồng ý, nhưng ai hỏi, anh phải bảo là vợ anh là người cùng làng nên mới ưu tiên. Nghe chửa?

Thế là xong khoản chỗ ngủ. Bây giờ là chuyện tìm thuyền.

Tôi không có máu cờ bạc, cho nên không dại gì mang mạng sống của tôi, của vợ con tôi ra đặt cược với các chủ thuyền mà cả đời tôi chưa biết họ là ai. Nhất là mùa mưa bão ở miền Bắc thường bắt đầu từ tháng Năm kéo dài cho đến tháng Mười dương lịch. Thời gian này là thời kỳ nhiều bão, mà dự báo thời tiết của Nha Khí tượng Việt Nam toàn trật lấc. Chủ thuyền, cò thuyền nói như khướu, ai biết thật hay giả, hay ba hoa bốc phét lừa người nhẹ dạ cả tin. Cho nên tôi phải tìm hiểu thật kỹ về giá cả, chất lượng thuyền như trọng tải, xem ván thuyền dày hay mỏng, đã mục chưa, nếu có máy thì bao nhiêu mã lực, chạy buồm thì mấy cánh, tài cống là người ở đâu… có nghĩa là tôi “quái” hơn rất nhiều bà con của tôi. Biết mà không dám nói thật nếu ai tò mò hỏi, bởi vì tôi không muốn bị ăn đòn của bọn cò thuyền ma cô.

Ai đã từng một lần đi tìm thuyền thì không thể quên những lời đường mật của cò và chủ thuyền. Chúng tôi là kẻ tứ xứ, chân ướt chân ráo lại mù tịt về chuyện thuyền bè mà ai cũng muốn biến ngay khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt, cho nên nếu không cẩn thận, cả tin là tiêu đời liền. Tôi xin kể những cò và chủ thuyền nói với tôi.

“Anh/chú, yên tâm đi, thuyền tôi đảm bảo lắm.” (Lấy gì làm bằng chứng?)

“Ấy tài cống (thợ lái thuyền) rất nhiều kinh nghiệm.” (Vượt biên nhiều lần?)

“Thuyền tôi tuy không có máy, nhưng buồm tốt lắm, chồng tôi là chủ nhiệm hợp tác xã đánh cá đấy.” (Buồm tốt mà không biết lựa theo chiều gió thì có mà tiêu luôn giữa biển khơi.)

“Giá của chúng tôi thế là ‘mềm’ nhất, không tin cứ đi khảo giá đi.” (Đắt hơn ba bốn thuyền gần đấy mà tôi đã hỏi.)

Tôi xin kể một chuyện có thật mà tưởng như chuyện tiếu lâm, cổ tích. Sau khi đến Bắc Hải được 3 ngày, chúng tôi nhìn thấy một chiếc thuyền buồm được tầu hải quân Trung Quốc kéo vào bến. Lên được bờ, tất cả bà con xúm lại đánh hội đồng nhà chủ thuyền kiêm tài cống. Cả nhà 6 người quỳ xuống vái như tế sao, cũng chẳng làm bà con hạ cơn ức. Tí nữa thì toi mạng. Miệng vợ chồng nó nói ngon nói ngọt, xơn xớt. Không có công an Trung Quốc chắc họ chết. Tôi đến xem, ôi thôi chính con vợ chủ thuyền này nói với tôi: “Thuyền nhà tôi tuy không có máy…” Bà con vạch tội vợ chồng chủ thuyền tự nhận là dân đánh cá xịn ở Quảng Ninh nay muốn đi Hong Kong nhưng kẹt không đủ tiền trả cho hợp tác xã, nên nhận thêm bà con đồng hương đi cùng để trang trải. Chiếc thuyền buồm 2 cánh, trọng tải hơn chục tấn, nhận tất cả 70 người, ai ngờ sau khi tàu kéo hải quan Việt Nam cắt dây ở phao số 0 và cũng nghỉ lại một đêm ở Đảo Ngọc. Tờ mờ sáng hôm sau thì căng buồm ra khơi. Hôm ấy tuy trời quang mây tạnh nhưng lại không có gió, tài cống lại là tài cống rởm, hơn 2 tiếng đồng hồ thuyền cứ chạy vòng tròn. Mà chuyện này mới tức cười, cả nhà chủ thuyền (kiêm tài cống) say sóng trước, nôn thốc nôn tháo, nằm lăng cu chiêng ra sàn thuyền. Bà con định quẳng cả nhà chủ thuyền (6 người) xuống biển. Trên thuyền gần như nổi loạn vì cái chết cầm chắc trong tay, người lớn trẻ em đều la khóc. Trời thì cao, biển thì mênh mông, kêu gào cầu cứu sao thấu. May có vợ chồng A Sềnh (A Thành) trước theo thuyền buôn muối nên cũng biết chút đỉnh. May hơn nữa, 3 ngày trời đẹp không mưa không giông bão nên không đắm. Tàu hải quân tuần tra Trung Quốc chắc nhìn qua ống nhòm nên đã đến cứu trợ.

Cả nhà chủ thuyền xin được tha mạng xin biếu thuyền cho bà con và nôn hơn 30 lạng vàng trả lại. Chúng xin hồi hương và hôm sau, công an Bắc Hải cho xe tải chở gia đình y đi về nông trường. Vợ chồng tôi hú vía, tí nữa cũng kềnh nếu tin lời.

Đi đến một thuyền đang có thợ hàn cánh quạt tầu thủy, nhìn những mối hàn, biết ngay là thợ mới vào nghề, mối hàn phải chồng đều lên nhau như từng lớp vẩy cá, vẩy tê-tê mới đạt kỹ thuật, đằng này mối hàn nham nhở, có chỗ chưa kín, tôi tự hỏi không biết ra khơi có bị vỡ không. Nhưng tôi nghĩ còn hơn là thuyền chỉ có buồm. Tôi hỏi thăm, người ta bảo thuyền của lão Ké và chỉ cho tôi đường tìm nhà lão. Ké theo như tiếng Quảng dịch nghĩa chính xác rất khó, đại để hiểu nôm na là có gì “cho ké”, “chung” một tí. Còn tên thật tôi không biết. Lão là chủ nhiệm hợp tác xã xe bò khu An Dương, nghe đâu khá to, có đến hơn 20 chiếc, quân số trên dưới năm sáu chục người (một chiếc xe bò tối thiểu 3 người, một người bò – cầm càng xe kéo – 2 người đi sau đẩy). Nghề này còn khổ hơn đội than nhiều!

Tức tốc tôi đến nhà lão và gặp Vương Đức Quý như đã kể. Nhà đông ơi là đông, nhưng toàn là bà con người Hoa từ Lạng Sơn xuống tìm lão. Tôi đến đúng lúc lão đang nhắm rượu, nghe tôi trình bày, chắc cao hứng vì có men nên lão gật đầu liền. Vì người ta dặn, lão chỉ nhận người Lạng Sơn còn dân tỉnh khác dù nói sùi bọt mép cũng chẳng ăn thua gì đâu. Tôi hỏi giá cả, lão gạt phắt, giúp nhau là chính đâu có phải là buôn người, khi nào thuyền xong, mua hết đồ ăn và các thứ cần thiết sẽ tính bổ đầu từng gia đình. Còn mua bán, sửa chữa đến đâu lão sẽ yêu cầu mỗi chủ hộ góp dần. Nghe đã khúc ruột. Nhưng thực ra có tên người nhà gặp riêng từng người ra giá. Bóp được bao nhiêu thì bóp, lão chẳng tha, vì vậy chẳng có giá nhất định, thu mỗi người khác nhau.

Trong nhà lúc nào cũng có vài chục người, trẻ con khóc như ri, sốt cả ruột, đau cả đầu, đã thế thằng người nhà của lão viết tên từng chủ hộ vào bản “Đơn xin đi nước ngoài” mà Ban Ngoại kiều của Sở Công an Hải Phòng cấp thì vừa viết vừa đánh vần. Trong khi tầu biển Trung Hoa vĩ đại cứ rập rình ngoài phao số không, nói là sẽ cập bến Hải Phòng sớm đón đồng bào hồi hương mà gần 3 tuần nay vẫn cứ nói chứ không làm. Đài phát thanh của cả hai bên lại được dịp tố cáo lẫn nhau, nước nào cũng cố chứng minh là thương dân. Chửi nhau ngang hàng tôm hàng cá trên mọi phương tiện truyền thông! Chẳng biết có bài học thứ hai nữa không mà cứ như mèo vờn chuột trên đài phát thanh cả hai nước.

Tình hình này không chuồn nhanh, tiền trong túi chi tiêu như thế này (tiền trọ, tiền ăn, tiền tắm giặt… đủ thứ bà dằm) vài tháng thì hết, chết là cái chắc! Tôi thấy thế, xung phong làm thư ký không lương cho lão Ké. Tưởng lão sẽ gật đầu sái cổ, ai ngờ lão gạt đi không cần. Bởi vì thu tiền thuyền, lão kín lắm, chẳng cho ai biết thu ai bao nhiêu, người nhiều người ít. Thư kí là chỗ thân cận tay chân, không biết nhiều cũng biết chút chút. Lão không ưng và không tin người lạ, hơn nữa tất cả chủ thuyền đều có mối làm ăn riêng với công an, biến người Việt thành người Hoa. Thế mới kiếm chứ! Võ này trúng mánh nhiều, hơn đứt chuyện minh bạch kia, nên lão đâu có tin tôi. Không ngờ bà con Lạng Sơn kéo xuống vì biên giới đóng cửa, phải chạy đường biển. Lão mua thêm một thuyền nữa và lúc này thấy thằng tay sai làm chậm quá, bảo tôi làm thư kí điền đơn cho bà con giúp lão. Lão hứa riêng (bí mật) sẽ lấy tôi chỉ 1/2 số tiền đã thỏa thuận, hãy cố giúp lão. Tôi tính thế là tiện cả đôi đường, vừa chóng nhổ neo lại dành được chút vốn (mua vàng) cho vợ dắt cạp (quần), khi cần có cái bán đi mà đút vào miệng cả nhà ở nơi đất khách quê người.

Được hơn 10 ngày, danh sách hai thuyền đã điền xong, tôi bảo lão lên Ban Ngoại kiều nộp hồ sơ (có 2 bản, một bản nộp trước, bản giữ lại khi xuống thuyền nộp cho công an đọc lệnh xuất cảnh) thì lão bảo chưa vội, bà con còn nhiều người muốn đi, phải mua thuyền nữa. Ai lại bỏ đồng hương thế sao đành! Trời ơi! Chạy loạn mà cứ như là đi du lịch không bằng! Lão này tham quá, kẹt lại là cái chắc. Tôi xin lại 2 cây vàng mà tôi nộp trước và đi tìm thuyền khác.

Bến Tam Bạc mấy tuần trước đông là thế, nay chỉ còn hơn chục chiếc, người thưa hẳn. Chết thật rồi! Tôi nháo nhào đi tìm thuyền, bây giờ chẳng còn tâm trạng nào mà kén với chả chọn. Hung tin đang dồn dập, khả năng sẽ đóng đường biển không cho xuất cảnh như đã đóng đường bộ. Đầu tháng Sáu, nửa đêm hàng chục xe tải bịt kín đi hốt tất cả gia đình người Hoa nằm đường nằm chợ. Sáng hôm sau, tôi từ nhà trọ ra bến tìm thuyền thì được biết tin khủng khiếp ấy. Lại thêm tin đồn, chẳng biết thực hư, người ta bảo, tin tức và ảnh chụp người Hoa nằm vật vờ, đầu đường xó chợ bị gián điệp chuyển ra nước ngoài. Nước Việt Nam đang bị báo chí toàn thế giới chửi cho mất mặt. Nào bức tử bà con miền Nam có thân nhân là sĩ quan binh lính (ngụy) cũ phải đi cải tạo, thương nhân bị tịch thu tài sản, bắt đi vùng kinh tế mới, nay lại bức tử người Hoa. Người Việt, người Hoa từ Bắc đến Nam phải vượt biển, nhiều thuyền bị đắm, nhiều thuyền bị hải tặc cướp bóc hãm hiếp. Tội ác ngút trời! Để xóa hết dấu tích (nhỡ có đoàn quốc tế nào đến) theo chỉ thị Hà Nội, công an Hải Phòng nửa đêm hốt trọn gói số nằm đường, không biết đưa đi đâu. Có trời biết! Cộng sản thâm lắm, bí mật lắm! Mai kia có muốn đi thì chỉ bằng con đường chui (bất hợp pháp) y hệt bà con người Việt ở miền Nam. Chết thật rồi! Tôi giết vợ con tôi rồi, chỉ vì tin lão Ké nên gần 3 tuần suốt ngày đến nhà lão, từ sáng sớm mãi gần 9 giờ đêm mới về gặp vợ con, rồi sáng hôm sau hơn 7 giờ đã phải đến nhà lão Ké làm việc không lương. Mọi chuyện xảy ra có biết gì đâu!

Tôi lo lắm, chẳng dám hé răng, sợ vợ tôi quẫn chí. Tôi đi dọc bến Tam Bạc, thuyền nào cũng hỏi, may quá thuyền này có lệnh được xuất cảnh từ tuần trước, nhưng chạy thử từ Tam Bạc ra Cát Bà thì gẫy bánh lái nên phải quay về sửa, đang cần tiền trả công thợ. Giá lão này cao lắm, tôi năm nỉ mãi, tất cả chỉ còn có 7 lượng xin nộp hết. Tay chủ thuyền này rất cáo già, nguyên là lái xe Công ty Vận tải 2 Hà Nội, một công ty xe tải rất nổi tiếng (cả xấu lẫn tốt) mà tôi biết rõ thông qua câu chuyện thật 100%.

Tỉnh nào cũng có công ty vận tải quốc doanh, cho nên số lái xe tải của tỉnh cũng gần trăm người bởi vì giao thông vận tải thời chiến ở miền Bắc dựa vào xe là chính. Đường sắt bị Mỹ ném bom phá hủy gần như tê liệt. Đường biển bị phong tỏa, chỉ còn đường bộ là huyết mạch giao thong. Cuối năm 1971, chuẩn bị cho chiến dịch đường 9 Nam Lào (Mùa hè đỏ lửa, tác phẩm nói về trận chiến này, của nhà văn, nhà báo quân đội VNCH Phan Nhật Nam?). Mỗi tỉnh phải “đóng góp” cho trung ương từ 5 đến 10 lái xe ưu tú tham gia chiến dịch, cậu H. là một trong số lái xe ưu tú của tỉnh tôi được đề cử, nhưng cậu ta từ chối ưu tú (ai chả sợ chết). Thế là bị kỷ luật, tịch thu bằng lái xe, đuổi ra khỏi công ty, có nghĩa là hết đường sống. Thải hồi không những mất việc mà còn mất sổ gạo và các tem phiếu tiêu chuẩn khác, có nghĩa là sống cũng như chết. Chả thế thời ấy, hễ thấy ai mặt ngơ ngơ ngác ngác là bạn bè hỏi đùa: mất sổ gạo hay sao mà ngẩn ngơ thế! Nhưng có ai chịu chờ chết đâu! Đến con giun, xéo lắm cũng quằn cơ mà!

Ba tháng sau, cậu H. lái chiếc xe tải có sơn tên Công ty Vận tải Quốc doanh Hà Nội 2 to tướng ở cánh cửa xe. Cậu ta cũng ngông, cố tình trêu ngươi lãnh đạo. Cậu ta đỗ xe ngay trong bãi xe của công ty, vào thăm anh em bạn bè cũ. Ai cũng mắt tròn mắt dẹt phục sát đất và ngấm ngầm ghét. Tin này đến tai lãnh đạo công ty và ty giao thông vận tải. Thằng này bằng lái xe đã tịch thu, không hộ khẩu, không sổ gạo sao lại vào được Công ty 2 thế nhỉ? Mà lại có hộ khẩu Hà Nội? Ty giao thông “máy” cho ty công an, phục kích bằng được để tóm cổ sau khi cậu H. trả hàng ở Điện Biên. Ba hôm sau, xe tải của H. quay đầu về Hà Nội, vừa vào thị xã đã bị công an thị xã chặn lại kiểm tra giấy tờ và bằng lái xe. H. có đầy đủ giấy tờ và bằng lái xe tải xịn do trung tá Trần Đông, cục trưởng cục đường bộ, ký tên và đóng dấu[1]. Kiểm tra thật kỹ, so sánh giữa bằng cũ và bằng mới của H. không phát hiện được sai sót gì. Tức hộc máu mà chẳng làm gì được, viên trung uý công an đưa hai bằng lái xe cùng tên họ và ngày tháng năm sinh của H., hỏi một câu thật ngớ ngẩn:

“Tại sao cậu có bằng lái xe thứ hai này?”

Cậu H. là dân lái xe tải lâu năm, mà ở miền Bắc người ta có câu “Bụt mà cầm vô lăng, 6 tháng sau không buôn lậu thì cũng thành giang hồ thứ thiệt”, cho nên cậu H. thủng thẳng:

“Các anh đi mà hỏi trung tá Trần Đông ấy, sao lại hỏi tôi. Kiểm tra xong chưa, trả lại bằng lái xe cho tôi để còn về Hà Nội.”

“Tại sao anh có hộ khẩu Hà Nội?”

“Ơ hay, sao lại hỏi tôi, anh phải hỏi chủ tịch Trần Duy Hưng chứ[2]. Nào xong chưa?”

Lấy lại giấy tờ và bằng lái xe, H. nói trống không:

“Chào!”

Vừa mở cửa xe, vừa sáo, H. lên xe như trêu tức.

Được lắm, mày sẽ chết với ông! Chạy đường Sơn La, Điện Biên dứt khoát buôn thuốc phiện mới chóng giàu chứ. Bắt được, chúng ông sẽ cho mày dựa cột. H. biết lắm chứ. Một tháng sau, H. lại chở hàng lên Điện Biên, xe quay về, tổ công an 3 người chặn xe H. lại nói:

“Chúng tôi kiểm tra xe.”

“Xin các anh cứ kiểm tra, nhưng tôi nói thật, thùng xe chỉ toàn mùn (cám) cưa, các anh bắt tôi đổ ra khám mà không thấy, các anh phải xúc trả lại như cũ.”

Ba tay cảnh sát nhìn nhau, nghi 100% H. giấu cơm đen trong thùng xe chứa cám cưa. Tổ công an gật đầu đồng ý. H. không chịu, yêu cầu lập biên bản kí xác nhận cả hai bên mới chịu cho đổ cám cưa xuống. Chắc chắn 100% là có cơm đen nên mới chơi khăm thế. Được, biên bản thì biên bản, chúng ông sợ gì. Mày sẽ dựa cột là cái chắc!

Không ngờ chiếc xe tải 4 tấn Giải Phóng (do Trung Quốc sản xuất), đổ hết cám cưa ra chẳng tìm thấy một gói cơm đen nào. Báo hại cho tổ công an một bữa mất mặt và phải thuê 5 người xúc cám cưa đổ lại lên thùng xe! Lái xe Công ty 2 tiếng nổi như cồn (tốt lẫn xấu) như thế đó.

Nộp tiền xong, tôi về quán trọ thuê hai xe xích lô chở tất cả đồ đạc và vợ con ra bến Tam Bạc lên thuyền. Những người trên thuyền tức lắm và tự nhiên ghét gia đình tôi. Họ bảo vì nhận thêm chúng tôi, họ phải dẹp bớt chỗ, suất ăn của họ phải chia cho chúng tôi. Đại để chúng tôi là kẻ đáng ghét. May qua có anh chị Sâm làm ở nhà máy xi măng Hải Phòng, anh chị được nhiều người kính nể, can thiệp:

“Sao lại ghét bỏ cô chú ấy và các cháu bé, cô chú cũng phải đóng tiền thuyền chứ có đi không đâu. Thôi mỗi ngưòi chịu khó chịu chật một chút, cùng cảnh khốn nạn cả, hay ho gì mà cắn xé lẫn nhau.”

Nhờ anh chị mà chúng tôi có chỗ trên thuyền chỉ rộng hơn chiếc chiếu đơn ở mãi tít cuối khoang. Thôi thế là may. Hai ngày nữa có con nước, thuyền nhổ neo. Vĩnh biệt Việt Nam! Vĩnh biệt Hải Phòng thân yêu, nơi hè đến phượng đỏ rực trời, đỏ cả những kỷ niệm của tuổi học trò. Vĩnh biệt! Vĩnh biệt tất cả! Vĩnh biệt mồ mả tổ tiên! Vĩnh biệt nơi chôn nhau cắt rốn! Vĩnh biệt cả những kỷ niệm vui, buồn!

Thuyền của tôi dài chừng 20 mét, trọng tải 25 tấn. Có buồm và có máy nổ 25 mã lực, thế mà kể cả gia đình tôi là 212 người lớn nhỏ! Đến Bắc Hải, sau 3 tuần sửa thuyền, lão chủ thuyền nhận thêm 22 người nữa với lý do lấy tiền trang trải và thuê tầu kéo. Tổng số thuyền tôi khi đến Hong Kong 234 người! Có nghĩa là nếu vì chuyện gì đó, tất cả mọi người ngồi trong khoang thuyền thì chỉ đủ chỗ ngồi bó gối!

Đêm 17-6, chẳng hiểu ví lý do gì, chủ thuyền bắt mọi người phải xuống khoang, không được lên boong. Tôi bị ép ngồii bó gối dưới hầm sát máy nổ, ngạt thở tưởng chết sau gần 2 tiếng đồng hồ. Sáng hôm sau, lão tài cống mới lôi ra một cái cờ đen có hình đầu lâu xương chéo và những hình thù kỳ quái, định kéo lên cột buồm. Tôi hỏi:

“Các bác làm gì thế?”

“Treo lên để làm tín hiệu, tầu thuyền nước ngoài trông thấy họ sẽ cứu.”

“Nhưng các bác có biết cờ này là cờ của bọn cướp biển không? Treo lên, tầu thuyền nước ngoài tưởng thuyền mình là cướp biển họ không cứu mà còn bắn nữa là khác.”

Tất cả đàn ông thuyền tôi tranh cãi hăng lắm, mãi sau họ cho ý kiến của tôi là hợp lý. Hú vía, thuyền chạy tị nạn, tự nhiên treo cờ biến mình thành cướp biển! Lạ thật! Đến nay tôi vẫn chưa hiểu lão chủ thuyền và lão tài cống nghĩ gì mà đi mua cờ cướp biển rồi định dán mác cho mình!

Thuyền đông như thế nhưng chưa kể gạo vài tấn, 7 thùng phi 250kg dầu ma-zút. Nước ngọt 3 thùng phi, nồi niêu xoong chảo của nhà bếp và đồ đạc của các gia dình cộng lại thì đã vượt trọng tải! Mặt nước lúc nào cũng xấp xỉ cách mạn thuyền khoảng 30 cm, sóng to một chút là ào cả lên thuyền. Chỉ có gia đình anh chị Sâm và chủ thuyền và họ hàng chủ thuyền là có những khối xốp hình khối chữ nhật 20cm x 30cm làm phao bảo hiểm nhỡ. Như vậy gần 40 hộ gia đình chỉ có 4 gia đình có phao cứu hộ. Còn chúng tôi nếu đắm hay thuyền vỡ là Thái dương Thần nữ đón về thủy cung liền! Chúng tôi đã đi biển bao giờ đâu mà biết mua phao cứu hộ, chẳng ai bảo mà cũng chẳng nghĩ đến, cứ tưởng lên thuyền như lên xe đò, xe chết máy hành khách xuống, chờ nhà xe chữa xong đi tiếp. Đi biển, thuyền hỏng nhìn thấy tử thần đang vung lưỡi hái đứng ngay trước mặt!

Ngày 16-6-1979 đại úy Hùng đọc lệnh cho 3 thuyền xuất cảnh, chỉ có thuyền tôi vừa có buồm và có máy, ngay đêm 18-6 một cơn giông rất lớn ập đến, chúng tôi tưởng đã gặp Thái dương Thần nữ thì một thuyền đánh cá Trung Quốc ghé vào cứu hộ, kéo thuyền tôi ra ngoài cơn giông, chủ thuyền trả công 5 đồng hồ đeo tay nam và 1 thùng phi 250 kg dầu ma-zút.

Hôm sau chúng tôi đến Bắc Hải. Ở 3 tuần và ở Kho Đen Hong Kong 1 tháng, tôi không nhìn thấy 2 thuyền cùng xuất cảnh một ngày cập bến. Họ đi đâu? Dạt vào hòn đảo nào ở giữa trùng dương? Hai thuyền ấy chỉ có buồm, không có máy nổ! Không dám nói chắc, nhưng có thể đã gặp thủy thần đêm giông 18-6-79?

Một chiếc thuyền thanh lý của hợp tác xã rẻ lắm, giá cao nhất là 10 cây vàng. Đã là thanh lý có nghĩa là hết hạn sử dụng, đồ bỏ đi. Ai mua làm gì, nếu như không có người đi ra nước ngoài. Còn ngư dân đã có thuyền hợp tác xã, cá nhân không được tự do đánh cá, mua để ở à! Chính phủ Việt Nam công bố: tất cả rừng vàng biển bạc đều thuộc quốc gia công thổ không ai có quyền khai thác ngoài nhà nước và ai muốn khai thác phải xin giấy phép.

Một thuyền trung bình, chủ thuyền nhận từ 150 đến 200 khách. Riêng một chiếc sà lan sắt nhổ neo đầu tháng Năm, người ta bảo có 500 người, to như tầu du lịch Queen Elizabeth II. Cứ tính giá bèo nhất bình quân 1 đầu người là 2 cây vàng thì mỗi chủ thuyền thu được vài trăm cây. Lãi tối thiểu là 50%, cho nên lão Ké mới ham mua đến 4 thuyền! Nghe tin tất cả 4 thuyền lão mua đều không xuất cảnh được vì Việt Nam đã đóng cửa đường biển vào cuối tháng Bảy đầu tháng Tám khi Liên Hiệp Quốc triệu tập cuộc họp khẩn cấp về người tỵ nạn Việt Nam! Những người nộp tiền cho lão sẽ chết vì tiền lão chi tiêu phung phí cũng rất nhiều, làm sao hoàn trả đầy đủ được!

Đến Hong Kong sau 2 tháng, được ra trại tự do kiếm việc làm, có vài chủ thuyền bán số vàng thu được của khách, có một chủ thuyền xin định cư tại Hong Kong, sau đó kinh doanh lò ấp gà vịt! Cũng như nhiều chủ thuyền không đi làm trong suốt thời gian chờ đi định cư nước thứ ba như lão chủ thuyền tôi. Vì sợ đi làm trộm, nó lần thấy thì công cốc. Ắn chả bõ ị!

Tôi tin hầu hết Boat People sang đến các trại tỵ nạn trên toàn thế giớI đều “quần đùi áo phông”, có mấy ai có bị vàng! Phải chăng người có là những ông bà buôn (không phải súng mà là người) đưa người đi nước ngoài.

Rất nhiều chủ thuyền đã làm giàu (cò con so với lái súng) trên xương máu của người đồng loại. Những đồng tiền mà chúng tôi có trong tay khi ra đi là cả nhiều thế hệ ông cha và của chính mình đã kiếm được bằng mồ hôi có khi cả bằng nước mắt và máu sau nhiều năm cư trú ở Việt Nam. Cho nên tôi cũng chẳng thấy bất ngờ khi thấy kiều bào chạy ra nước ngoài bằng thời gian hay kém hơn đã giàu có bạc triệu (đô hay bảng Anh, Euro…) về Việt Nam đầu tư. Bởi vì trong số ấy có lẽ có người đã từng là chủ thuyền, có vốn sẵn, có đà phát triển nhanh.

Anh bạn cùng trại tôi, bố là chủ thuyền, sang đến Vương quốc Anh, sau khi ra trại được gần năm, anh kiếm được việc làm (lương thấp) mua ngay căn nhà 2 tầng 4 buồng ngủ đẹp tuyệt (tuy trả góp nhưng phải có tối thiểu từ 10 đến 20% tiền đặt cọc). Trong khi đó chúng tôi muốn chiếc ti vi màu cho con xem cũng chỉ đủ tiền mua loại second hand, mặc dù vợ tôi đi làm (công nhân bánh kẹo) cũng như nhiều người khác sau 6 tháng được định cư.

Trong khi thuyền ở miền Bắc đông gần như muốn đắm thì thuyền bà con miền Nam đến Hong Kong bé lắm. Có thuyền chỉ hơn 10 người, thuyền nào đông lắm cỡ 20 chục. Tôi có chú em kết nghĩa, thuyền chú 11 chàng trai, họ toàn là cựu sinh viên Sài Gòn, cộng sản về là mất học, mất tất cả và vô công rồi nghề. Và 11 chàng trai cùng khóa rủ nhau vượt biên, quyết làm lại cuộc đời. Thuyền tôi đến trước, 3 hôm sau trông thấy thuyền của các chú cập bến. Tôi giật mình! Trời, thuyền gì mà bé như con đò ngang đưa khách qua sông, chuyến đi của các chú từ miền đất Quảng xa gấp 3 chúng tôi từ Hải Phòng đi! Các chú ấy dũng cảm thật, dám rỡn mặt Thái dương Thần nữ. Thật sự khâm phục. Sau này tâm sự, chúng tôi thân nhau, kết nghĩa anh em. Các chú đa số định cư ở Mỹ và Cananda, ai cũng khá về kinh tế và cả về kiến thức (bằng cấp), riêng chú ở Canada là người Việt xịn 100% lại lấy vợ người Hoa (miền Nam)! Thằng con đầu lòng nay đã tốt nghiệp bác sĩ và đang tập sự thành chuyên viên phẫu thuật sọ não. Con gái sắp tốt nghiệp dược sĩ. Gia đình chú thật thành đạt cả về chất xám và chất xanh, sau 30 năm phấn đãu cực kỳ vất vả. Tuyệt thật vời!

Tuy thế cũng có nhiều chủ thuyền tốt lắm, tốt thực sự. Chú tôi kể về chủ thuyền của ông. Đó là ông Thành (tôi không biết họ), ông cũng là chủ nhiệm hợp tác xã xe bò ở Hải Phòng. Ông thấy tất cả xã viên của ông nghèo quá mà cũng khốn khổ khốn nạn như ông đang bị bài xích, xua đuổi, danh dự và nhân phẩm con người bị chà đạp, sống nhục quá. Đi không được, ở không xong, ông họp tất cả xã viên lại, bàn bán hết tài sản của hợp tác xã, dùng tiền đó mua thuyền, thiếu đâu bù vào và nhận thêm người, miễn sao đủ tiền chi phí. Ông ghi sổ chi tiêu sòng phẳng và công khai, bổ đều cho các xã viên. Nhà ai quá khó khăn, sẽ tùy theo hoàn cảnh giảm bớt. Trẻ em dưới 16 tính 1/2 suất. Thế là thuyền ông toàn là xã viên hợp tác xã xe bò và bạn thâm giao. Cả thuyền ai cũng ơn ông, kể cả chú tôi và ông bạn của ông ở Hàng Kênh. Không có ông, chú thím tôi đông con (6) lại về hưu non (buộc thôi việc vì cán bộ công đoàn) làm sao mà đủ tiền. Gia đình ông định cư ở Canada từ năm 1979. Thay mặt chú thím tôi (người đã khuất) và các em (con chú) tôi xin chân thành cảm tạ ông!

Có người nói: Nói thế là chưa công bằng.

“Nhờ có chính sách xua đuổi người Hoa mà người Việt gốc Hoa ngày nay mới được đổi đời! Còn không cứ là cu li, bán sấu dầm… dài dài ở Việt Nam.”

“Không có chủ thuyền thì làm sao Boat People thoát được cộng sản.”

Một chuyện ngoài lề. Vợ chồng chú em kết nghĩa nay định cư ở Canada (29 năm), sau khi trao đổi về chủ đề “Tôi là ai” trên talawas, chú email cho tôi: “Interesting subject. Thanks. I don’t pay much attention to what those lying bastars (communists) say or do any way, so, whatever they say its means nothing to me. To answer that question – I’m a proud Canadian (never ever want to be a Chinese and/or Vietnamese again!”

Mỗi người một quan điểm, chẳng ai có quyền bắt ai phải làm những điều không muốn.

(Đón đọc phần cuối)


[1] Thời bấy giờ xe cơ giới rất ít, cho nên chỉ có trung tá Trần Đông được ký cấp bằng lái xe.

[2] Bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch Thành phố Hà Nội

Bình luận

15 Comments (bài “Lâm Hoàng Mạnh – Ai đã làm giàu trong cuộc chiến tranh Trung – Việt? (2)”)

  1. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Nam Phan viết (phản hồi ông lephudien):
    “Tôi, thật tình không muốn đi xa hơn vấn đề này để bàn luận về việc nước Mỹ đã “ăn cướp” hai tiểu bang Texas và California cuả Mexico, chuyện này nếu lời qua, tiếng lại cũng vô bổ và muôn năm”

    Đúng, nều đưa chuyện “nạn kiều” ở VN sau 1975 vượt không gian và thời gian thì sẽ thành chuyện dài hàng ngàn năm: ba ngàn năm trước người Do Thái đã là nạn kiều trên đất Ai Cập.

    Nhưng chuyện về Texas và California bị Mỹ “ăn cướp” cũng nên nói thêm nửa sự thật còn lại. Mexico độc lập khỏi Tây Ban Nha năm 1821 để thành một liên bang lỏng lẻo và yếu. Năm 1830 ở vùng Texas thuộc Mexico người từ Mỹ tới lập nghiệp đông gấp 3 lần dân Mễ (nói tiếng Tây Ban Nha)sống tại đó, và đến năm 1835 họ chống lại chính quyền địa phương Mễ, tách khỏi Mexico, thành một nước độc lập trong 10 năm, có tổng thống riêng lá Samuel Houston. Năm 1845, Texas xin sáp nhập liên bang Mỹ, quốc hội Mỹ bàn cãi mãi mới chịu (hơi khác trường hợp Mạc Cửu khi xin sáp nhập vùng đất Hà Tiên vào Đàng Trong của VN, Chúa Nguyễn bằng lòng ngay). Mexico bất bình và gây cuộc chiến tranh với Mỹ kéo dài từ 1846-1848, khiến dân định cư Mỹ ở California nổi lọạn chống chính quyền Mễ bắt đầu ở San Francisco, và sau đó với sự giúp đỡ cũa lính liên bang Mỹ họ chiếm được California. Sau chiến tranh, đất Mỹ mở rộng từ Austin (Texas) tới Los Angeles, San Diego (California), ở giữa là vùng đất mênh mông mà ngày nay là các tiều bang New Mexico, Arizona, Utah, Nevada, một phần Colorado, Wyoming…Mỹ có trả cho Mexico một số tiền tương đương với 450 triệu đô ngày nay (coi như mua đất rẻ). Cuộc chiến tranh do Mễ gây ra làm nước Mễ lúc đó mất tới 55% lãnh thổ. Thật ra miền “viễn tây” của nước Mỹ thời đó rất hoang vắng, ít giá trị, cho nên sau chiến tranh Mể-Mỹ có người Mỹ nói ” We take nothing by conquest _ thank God” (để được lương tâm bình an). Giống như vùng đất Trấn Ninh (Sầm Nứa), và cao nguyên Trung phần (Đà Lạt, Pleiku..)ngày xưa các chúa Trịnh, Nguyễn không muốn chiếm giữ.

    Chuyện về Hoa kiều ở VN sau 1975 xảy ra vào thời hiện đại, nước Mỹ và thế giới lúc đó đã khác xưa nhiều. Còn vụ “nạn kiều” Nhật bị bắt giữ ở Mỹ trong thế chiến 2, sau này chính phủ Mỹ bồi thường cho những người còn sống sót. Mỹ không luôn tốt, nhưng không phải chuyện gì cũng rất xấu.

  2. lephudien viết:

    @Hà Minh

    Những ví dụ mà bác đưa ra đưa ra là chính xác, đa số đã thuyết phục được tôi. Nhưng tôi vẫn xin để một vài chữ nhưng:

    1) TQ dù có dân chủ vẫn sẽ bành trướng ở biển Đông.
    2) Iran hiện nay có thể coi là một nước dân chủ (tuy nếu xếp theo một bài viết của bác Hà Sĩ Phu thì đấy là dân chủ không tự do) nhưng kể cả nếu sẽ thành dân chủ thực sự, chưa chắc đã tránh khỏi sự hăm dọa của Mỹ và Israel, vì quyền lợi của họ ở vùng Vịnh quá lớn.

    @Nam Phan

    Có lẽ tôi đã đi hơi xa khi dùng ví dụ Texas và California.

    Tôi e rằng trong cuộc nội chiến hậu Nam Tư Milosevic không phải là người có tội duy nhất. Có điều vì ông ta là hậu cộng sản và Serbia là đồng minh truyền thống của Nga nên phương Tây có xu hướng muốn đổ tội cho ông ta hơn. Những xung đột ở châu Âu thường còn do những di sản của lịch sử nữa. Nước Serbia là đồng minh của Nga, trong khi Croatia thời WW II lại là đồng minh của Đức…

    Tôi xin đồng ý với bác là “Nạn kiều” ở VN có tầm vóc lớn hơn nhiều. Thực ra tôi đã nói rõ ở một comment trước đó là tôi mong muốn được chia sẻ với bác Mạnh.

  3. Nam Phan viết:

    Thưa bác lephudien,

    Khi đưa ra vụ “Nhật kiều nạn” ở Mỹ, tôi nghĩ rằng bác có hàm ý ở đâu mà chẳng thế, cứ gì VN. Vì vậy,tôi góp ý là tuy cùng là kiều nạn nhưng nó khác. Thật ra ở Mỹ đã không có tình trạng chính quyền dùng mọi phương tiện để kích động dư luận, cũng chẳng có những vụ tống xuất nào để cướp… của v.v…, mà sau đó, dù muộn chính quyền nước Mỹ còn công khai nhận lỗi, đồng thời vinh danh một số người Mỹ gốc Nhật đã có công bảo vệ nước Mỹ.

    (Tôi, thật tình không muốn đi xa hơn vấn đề này để bàn luận về việc nước Mỹ đã “ăn cướp” hai tiểu bang Texas và California cuả Mexico, chuyện này nếu lời qua, tiếng lại cũng vô bổ và muôn năm, lại cũng chẳng dính dáng gì tới vụ nạn kiều.)

    Cũng vậy, khi bác đưa ra vấn đề xung đột chủng tộc ở các nước Đông Âu khi những chế độ CS ở đây sụp đổ, tôi cũng lại nghĩ bác có hàm ý là dù dưới chế độ nào, CS hay Tự Do, Dân chủ, và ở bất cứ đâu hay thời điểm nào thì xung đột sắc tộc cũng xảy ra. Vì vậy, tôi cho rằng vụ “Hoa kiều nạn” lại cũng khác với các vụ xung đột kia (Đông Âu).

    Một chủng tộc dù rằng di cư từ một nước khác đến, nhưng được hình thành dần dần và nhất là tự nguyện hoà nhập (người Việt gốc Hoa) khác với các chủng tộc bị cưỡng bức sống chung dù dưới những chế độ CS sau này như ở Liên Xô và các nước Đông Âu hay trước đó như ở Nam Tư (the Kingdom of Serbs, Croats, and Slovenes rồi sau đó trở thành Kingdom of Yugoslavia).

    Tôi cũng không nghĩ đến, thực ra cũng không biết là đã có những vụ xung đột chủng tộc ở Đông Đức, Tiệp Khắc, v.v… có tầm vóc lớn như vụ người Hoa ở VN để bác đem ra so sánh. Vì thế, mới nhắc bác nhìn lại nguyên nhân trước khi có cần so sánh như vậy không. Hoá ra là tôi và bác mỗi người một nẻo!

  4. Hà Minh viết:

    @bác lephudien: Tôi lại cho rằng dân chủ là điều kiện quan trọng để giải quyết mâu thuẫn giữa hai quốc gia! Cuộc chiến vùng Vịnh I là một ví dụ (nếu Sadam không ở vị trí độc tài – quốc gia này có thể đã tránh được một cuộc chiến tranh), nếu Milosevich không độc tài thì Nam Tư có thể tránh được cuộc oanh kích của Nato, nếu Kim Jong Il không độc tài thì thế giới không phải đối đầu với ông ta,… nếu Thanswe của Miến Điện mà “nóng mặt” với láng giềng nào đó, thì việc bấm nút cho một cuộc chiến tranh là việc quốc hội nước này khó có thể ngăn cản,… và độc tài hay toàn trị thường có hai cách hành xử: một là nhượng bộ, quỳ gối trước kẻ thù mạnh hơn và mạnh tay với kẻ thù yếu hơn.

    Có một nhận xét rất hay của Thomas Friedman: Không có chiến tranh giữa hai quốc gia cùng có chuỗi cửa hàng McDonald (điều này tương đối chính xác), tất nhiên tôi không cho rằng số lượng cửa hàng McDonald trong một nước là… chỉ số dân chủ của nước đó. Hoặc tương tự: số lượng đại biểu quốc hội chưa bao giờ là chỉ số dân chủ cho một quốc gia.

  5. lephudien viết:

    @Hà Minh
    Tôi xin hoàn toàn đồng ý với bác là: “Dĩ nhiên nước nhỏ mà có nền chính trị ổn định, vững vàng được lòng dân thì nước lớn khó lấn át”.
    Một ví dụ nhỏ: nhẽ ra bây giờ giải quyết những chuyện rất nhỏ, như công nhân TQ làm việc lậu tại VN, thì tại một quốc gia có pháp quyền rất dễ. Việc đấy chỉ cần dùng đến công an ngoại kiều cấp quận/sở và cứ theo luật mà làm, đâu cần tới ý kiến của bô trưởng/thủ tướng. Việc đấy nhẽ ra là việc dân sự, nay do chính quyền quá ôm đồm lại trở thành việc chính trị (giữa 2 nước).
    Còn chuyện dân chủ. Ý tôi muốn nói là có dân chủ chỉ là môi trường tốt để dễ giải quyết hơn một số vấn đề chứ không phải là liều thuốc cho tất cả. Là điều kiện cần chứ không là điều kiện đủ và ai góp sức để điều kiện cần lẫn điều kiện đủ của nước mình tốt lên đều đáng quý.

    @Nam Phan
    Xin thưa với bác, có những cái nước Mỹ sửa nhưng có những cái nước Mỹ không sửa. Bang Texas và bang California là do nước Mỹ ăn cướp được của Mexico thì Mỹ có trả không?
    Khi tôi nói tới „các phong trào dân tộc cực đoan và bài ngoại bùng nổ“ thú thực là tôi không nghĩ tới các nước Ban Tích và Nam Tư, nhưng tôi nghĩ tới Đông Đức cũ hoặc Tiệp Khắc, Ba Lan. Phong trào bài ngoại ở những nới đấy không nhằm vào những người „thực dân cũ“ như ở Ban Tích mà nhằm vào những người da màu như tôi với bác. Còn về Nam Tư, tôi cho rằng đấy cũng không phải là điều tương tự như ở Ban Tích. Tôi rất muốn biết ý kiến của bác về nguyên nhân xung đột ở đó.

  6. Nam Phan viết:

    lephudien phải chăng “vô tình” quên chuyện không nên quên?

    Cái ông “quên” là sau vụ “nạn kiều” ở Mỹ như ông nói, chính quyền Mỹ đã làm gì để sửa cái sai ấy. Còn chính quyền VN từ đó đến nay đã làm gì để trả lại cho người Việt gốc Hoa “danh dự”, chứ chưa nói gì đến thiệt của, thiệt người.

    Còn các phong trào dân tộc cực đoan và bài ngoại bùng nổ như ông đề cập tới ở các nước Đông Âu( thật ra ở cả Liên Xô) sau khi các chế độ theo chủ nghĩa CS sụp đổ thì có lẽ ông không muốn rõ tại sao( hay có biết mà lờ đi). Tại sao Liên Xô đem người chủng tộc Nga đến các nước vùng Ban Tích? Tại sao có chiến trang chủng tộc ở Nam Tư cũ? Tại sao Tiệp Khắc chia thành 2 nước? Chẳng lẽ ông chỉ quan tâm đến quả và cố tình quên nhân?

  7. Hà Minh viết:

    @lephudien: Bác nói cũng đúng, điều tôi nói là một giả định mang tính lạc quan. Tất nhiên nước nào cũng chăm lo đến quyền lợi của mình và nếu điều kiện cho phép sẽ hy sinh quyền lợi của nước khác vì quyền lợi nước mình. Cái điều kiện cho phép ở đây thì có rất nhiều ví dụ: ỷ thế nước lớn, thế lực mạnh, hoặc có ảnh hưởng chính trị đến nước nhỏ cách này hay cách khác. Về lĩnh vực này TQ là bậc thầy từ thời Mao sếnh sáng: chả thế mà họ có châm ngôn: “thiên hạ đại loạn TQ tiến lên”. Dĩ nhiên nước nhỏ mà có nền chính trị ổn định, vững vàng được lòng dân thì nước lớn khó lấn át. Bởi lẽ thế giới không tồn tại theo nguyên tắc “cá lớn nuốt cá bé”, nếu nguyên tắc này đã xảy ra thì làm gì còn những tiểu quốc bé tý như Singapore, Đài Loan, Monaco,Finland, Brunei …trên thực tế những quốc gia nhỏ bé này vẫn tồn tại. Còn về vấn đề chính trị thì bác đã thấy thậm chí Hiến pháp còn bị sửa để kịp thời đưa “kẻ thù số một” với “kẻ thù lâu dài” vào bộ luật nền tảng của nhà nước tùy theo diễn biến của mối quan hệ chính trị “băng đảng” thì thử hỏi còn cái gì mà chính trị chừa ra không nhúng tay vào?

  8. lephudien viết:

    Xin có thêm vài lời góp ý nhỏ:
    @HL Cám ơn anh đã sửa lỗi.
    @Lâm Hoàng Mạnh
    Cá nhân tôi xin chia sẻ với anh như nạn nhân của một chính sách sai lầm và mong anh cũng hiểu là có nhiều người Việt thời đó là nạn nhân của chính sách sai lầm khác và ngay cả người dân thường – như ông cụ tôi thời đó là giáo viên, nếu theo cách sắp xếp của một số người thì là „cán bộ“ – cũng chẳng sung sướng gì.
    Xét cho cùng, một nước văn minh như nước Mỹ cũng có „Nạn Kiều“. Ngay sau khi có cuộc tấn công Trân Châu cảng đa số những người Mỹ gốc Nhật đã bị chính quyền Mỹ giam lỏng.
    @ Hà Minh
    Khác với anh một chút, tôi không hoàn toàn đổ lỗi cho các nhà chính trị.
    Đấy là một kiểu nói rất được ưa chuộng: „Chúng ta chỉ chống chính quyền Mỹ, chứ không chống nhân dân Mỹ“ hoặc „Trung Quốc chỉ đánh tập đoàn Lê Duẩn“. Lúc Johnson bắt đầu đổ quân vào VN thì sự đồng tình của dân chúng rất cao, mãi chỉ sau này khi đến hồi khó khăn và hy sinh quá lớn thì sự ủng hộ mới giảm đi.
    „Nếu các quốc gia có những chính sách đối ngoại, đối nội bình đẳng trong sáng“ tôi sợ điều này không bao giờ xảy ra.
    Nếu đột nhiên hai nước VN và TQ trở nên hai nước dân chủ, liệu tranh chấp Hoàng Sa/Trường Sa có giảm đi không? Tôi sợ rằng không, mà có khi còn ngược lại, ít nhất là trong thời gian đầu tiên. Kinh nghiệm Đông Âu cho thấy là khi cộng sản sụp đổ các phong trào dân tộc cực đoan và bài ngoại bùng nổ. Trung Quốc, dù có dân chủ hay không dân chủ, trước hết cũng chỉ quan tâm đến quyền lợi của mình và có lẽ sẽ cư xử không khác gì các quốc gia khác ở cùng giai đoạn (như Mỹ ở châu Mỹ La tinh từ nửa cuối thế kỷ 19 chẳng hạn).

  9. KhaiCa viết:

    Bác Lâm Hoàng Mạnh, còn có cháu là thế hệ thứ hai của vụ bài xích người Việt gốc Hoa ở miền Nam VN đang theo đọc các bài viết rất có giá trị lịch sử của bác, sống bên Đức nè, chẳng những cố gắng đọc cho hiểu hết bài của bác bằng chữ Việt, mà còn đọc được, viết được, nói được tiếng Hoa sắp hoàn chỉnh, chỉ là chữ Việt viết hay bị lỗi, nên không có tham gia ý kiến. Rất cảm ơn bác và Talawas Blog đã cho ra những bài quý giá thế nầy, chúc bác luôn khỏe mạnh và viết thật nhiều sự kiện đã xảy ra ở ngoài Bắc cho những thế hệ sau của nạn nhân có cơ hội hiểu biết thêm quá khứ.

    Mà bác biết không, CSVN không những tàn ác với người Việt gốc Hoa mà còn tàn nhẫn hơn với chính những người Việt của họ sống dưới chế độ miền Nam VN nữa kia, những chuyện đào mộ, ngược đãi con em của chế độ cũ v.v., cho nên chúng mình luôn mong muốn người dân VN có cuộc sống tốt đẹp, no ấm và tự chủ hơn, cũng là một tấm lòng tri cổ vậy. Những câu dưới nầy kính gởi đến bác:

    容颜易老,青春会跑,人生知己太少;
    父爱天高,母爱难报,痴情恋人难找;
    热血波涛,壮志凌霄,曾经沧海狂笑;
    痛苦忘掉,伤痛会好,难得你的文采写得真好.

    Như Tâm

  10. Hà Minh viết:

    Bài viết của tác giả Lâm Hoàng Mạnh rất thú vị bổ ích, nó tái hiện một giai đoạn lịch sử khá bi thương cho những thân phận con sâu cái kiến trong thời gian những mưu đồ chính trị bẩn thỉu đã vượt quá giới hạn cung đình của nó để mà vươn tới những nạn nhân bất đắc dĩ: những người ngụ cư, di dân có nguồn gốc sắc tộc khác. Vấn nạn lịch sử này chúng ta đã thấy trong Thế chiến II, một nước Đức Quốc xã hùng mạnh như thế mà lấy chính sách thanh lọc chủng tộc làm quốc sách, khiến nhân dân bị kích động và bản thân chính quyền đã thực hiện những tội ác mà muôn đời sau khó gột rửa như lò thiêu người Holocaust,… Tôi nghĩ rằng làn sóng tị nạn “nạn kiều” 1979, cũng làm nên một trang sử bi hùng, nếu có một đạo diễn điện ảnh giỏi, tái hiện câu chuyện rất bình thường của ông Lâm Hoàng Mạnh ta sẽ có ngay những tác phẩm không kém Schindler’s List của Steven Spielberg hay The Pianist của Polanski (đều đoạt Oscar),… Hàm Trần, một thanh niên trẻ cũng là thuyền nhân, đã làm bộ phim Vượt sóng (Journey from the fall) cũng khá công phu, nhưng tiếc thay, bộ phim hơi cường điệu quá mức khiến nó mất tính chân thực và mang tính tuyên truyền, và không gây nhiều ảnh hưởng.

    Trở lại chủ đề chính: “Tôi là ai?”, tôi nghĩ tất cả những dân lành vô tội đều là nạn nhân của những mưu đồ chính trị, nếu các quốc gia có những chính sách đối ngoại, đối nội bình đẳng trong sáng, không bá quyền bành trướng, sô vanh nước lớn thì những vấn đề xung đột chủng tộc tự nó hóa giải, nhân chi sơ tính bản thiện, người Việt, người Hoa, người Mỹ , người Pháp đều… tính bản thiện, nhưng một khi cái món chính trị “khó ngửi” dây vào thì tự nhiên những con người này bỗng trở nên hung hãn, cầm súng nã dạn vào nhau, hoặc tàn sát nhau rồi than vãn khi chiến tranh kết thúc, trong khi kẻ gây ra những cuộc chiến phi nghĩa như thế thì lại nhơn nhơn vênh váo vì những chiến thắng lịch sử này nọ hoặc những lý do đầy những mỹ từ khác,… Những người dân vô tội hãy nhìn cho tinh tường để thấy đâu là kẻ tội đồ của lịch sử, những xung đột chủng tộc trên thế giới vẫn còn nguy cơ tràn lan, trong nội bộ nước Trung Quốc, nước Nga, và các nước lân cận của Nga vì dù sao, những bất đồng chính trị ở đây dễ dàng bị thổi bùng lên thành ngọn lửa xung đột sắc tộc, Việt Nam và Trung Quốc không phải ngoại lệ, Việt Nam và Campuchia cũng có những nguy cơ tiềm ẩn,… tóm lại chính trị là thủ phạm giấu mặt đáng ghê tởm nhất của những xung đột sắc tộc đang có nguy cơ tràn lan trên thế giới đầy bất an này.

  11. Lâm Hoàng Mạnh viết:

    Vui ghê khi càng ngày tôi càng tìm được rất nhiều đồng hương Hoa-Việt trên Talawas và chỉ viết chữ Việt, chứ chẳng ai viết chữ Hoa. Thế mới vui chứ!

    Trước khi có chuyện bài xích, xã tôi ở có 1 gia đình người Hoa, ấy thế khi Trung-Việt chửi nhau, chẳng biết ở đâu mà chính quyền thị xã mò ra được 26 gia đình người Hoa, trong đó có tôi!

  12. HL viết:

    @ anh lephudien: tên (bút danh) của ông Ngô Nhân Dụng bị viết nhầm thành Ngô Xuân Dụng 🙂

    @ anh Tưởng Năng Tiến: “sinh hoạt” trên talawas, chắc cũng còn nhiều người gốc Hoa nữa chứ, như anh Trương Thái Du chẳng hạn (nếu nguồn gốc xuất xứ kiểu này có một vai trò gì đó 🙂

  13. Tưởng Năng Tiến viết:

    Thưa anh Hoàng Trường Sa
    Tôi xin chia sẻ (hoàn toàn) với ý kiến của anh. Tôi cũng là một thuyền nhân, và đã sống qua nhiều trại tị nạn trước khi được định cư môt quốc gia đệ tam. Tôi đã gặp “nhiều thuyền nhân khác” mà tình cảm của họ đối với phần đất nước vừa rời bỏ (xem ra) không được mặn nồng như anh Lâm Hoàng Mạnh.
    Thưa anh Lâm Hoàng Mạnh
    Trong phần I của bài viết này, anh có đề cập đến bút danh “Tưởng Năng Tiến.” Thưa anh, tôi chỉ là một thường dân chớ không phải là văn thi sĩ gì ráo (trọi) nên không có bút danh. Tôi đúng là họ Tưởng và tên Tiến.
    Cũng vì cái họ này, nhiều người nghĩ tôi là dân Ba Tầu. Ông nội tôi mất trước khi tôi ra đời nên không biết ổng có nói được tiếng Tầu hay không, bố tôi thì không, hoàn toàn và tuyệt đối không.
    Tôi cũng không biết chắc là mình người Tầu hay người Việt nhưng chưa bao giờ bận tâm về chuyện đó. Chuyện nhỏ thôi mà.
    Mới đây anh Trần Vũ cho biết mình là người gốc Hoa. Theo tôi thì đây mới là chuyện lý thú. Thế kỷ trước chúng ta đã có một thi sĩ gốc Hoa: ông Hồ Dzếnh. Nay có một nhà văn gốc Hoa: anh Trần Vũ. Làm thơ như Hồ Dzếnh hay viết văn như Trần Vũ là “của hiếm” (theo như cách nói mà tôi học từ anh Lâm Hoàng Mạnh).
    Trên diễn đàn này có một người mà xét theo họ thì tôi “nghi” là gốc Tầu nhưng vì tình hình căng thẳng (Việt Hoa)hiện nay nên không dám nhận: đó là ông Trương Nhân Tuấn. Chắc vì sợ bị chúng đánh.
    Đã thế, đương sự còn rất lớn tiếng phản đối chuyện Trường Sa và Hoàng Sa. Theo tôi, đó chỉ là một cách tung hoả mù để che dấu gốc (Tầu) của mình thôi.
    Thưa anh Trương Nhân Tuấn
    Tôi nói thế (lỡ) không đúng thì xin anh bỏ quá cho.
    Tiến

  14. lephudien viết:

    Nếu tôi không nhầm thì nguyên nhân mà anh Mạnh viết là vì thấy lo ngại phong trào bài Hoa đang dâng lên mạnh mẽ. Cá nhân tôi cũng muốn chia sẻ với anh về điều đó.
    Tôi thấy người Hoa – như Mạc Cửu – cũng đóng góp một phần không nhỏ cho đất nước Việt Nam, và nhiều người Việt gốc Hoa cũng vậy. Không cần phải đi quá xa (ra khỏi trang WEB talawas), mấy ngày hôm nay ta cũng thấy dấu ấn của một người Việt gốc Hoa ở ngay trên đầu trang WEB. Người đấy chính là ông Chu Văn An, mà theo lời của sử gia Trần Quốc Vượng http://www.viethoc.org/phorum/read.php?10,7659 là con của một người khách thương Phúc Kiến.
    Nhưng ngược lại tất nhiên cũng có những người Hoa khác – ví dụ như như thời Thanh sang xâm lược – thì nghển cổ ngóng đợi quân của thiên triều và sẵng sàng sung làm quân tiên phong.
    Trong việc tinh thần bài Hoa dâng lên xét cho cùng lỗi chính là của chính quyền hiện tại. Chính quyền đã bịt miệng không cho người dân nói và những nỗi uất ức lâu ngày càng ngày càng tích tụ và càng dễ gây ra nổ. Tôi xin trích một ví dụ tương tự mà ông Ngô Xuân Dụng đã nói trong bài viết http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=99321&z=7 Vì sao công nhân giết giám đốc „Nhưng nỗi giận dữ của giới lao động cũng không đến nỗi sinh ra bạo động và sát nhân nếu người dân có những cơ hội lên tiếng một cách công khai và hợp pháp.“

    Tôi rất thích câu hỏi của ông Nguyễn Hưng Quốc: sao bỗng dưng họ lại hèn vậy? http://www.voanews.com/vietnamese/2009-07-22-voa25.cfm
    Và có lẽ là đã tìm câu trả lời khi Tạ Chí Đại Trường viết về Lê Hoàn :):
    „Bài tường thuật cho thấy sự giao tiếp bình thường giữa sứ Tống và vua Việt. Chi tiết Lê Hoàn lấy cớ ngã ngựa đau chân để không lạy chiếu, được thuật lại mà không kèm theo phê phán trong tờ tấu chứng tỏ ngay triều đình Tống cũng không coi là mất thể diện. Chúng ta có thể đối chiếu tình trạng này với các sử kiện thuộc các đời sau để nhận ra sự kênh kiệu của sứ thần Trung Quốc (không phải chỉ sứ Mông Cổ) và sự co rút khúm núm của các triều đại về sau, chứng tỏ mối liên quan phiên thuộc – thiên triều càng lúc càng đậm nét thất thế về phía Việt.“
    http://damau.org/archives/3570
    Từ thời Lê Hoàn tới giờ có tới hơn một nghìn năm, nếu chúng ta chỉ đi xuống thì đấy có khi cũng là điều dễ hiểu.

  15. Hoàng Trường Sa viết:

    “Hai ngày nữa có con nước, thuyền nhổ neo. Vĩnh biệt Việt Nam! Vĩnh biệt Hải Phòng thân yêu, nơi hè đến phượng đỏ rực trời, đỏ cả những kỷ niệm của tuổi học trò. Vĩnh biệt! Vĩnh biệt tất cả! Vĩnh biệt mồ mả tổ tiên! Vĩnh biệt nơi chôn nhau cắt rốn! Vĩnh biệt cả những kỷ niệm vui, buồn!” (trích lời tác giả Lâm Hoàng Mạnh)
    Đọc đoạn này tôi không thể nào không nghĩ ông Lâm Hoàng Mạnh là một đồng hương Việt của tôi phải gạt nước mắt rời bỏ quê hương ra đi như tất cả các thuyền nhân VN khác từ Miền Nam (nơi tôi sinh ra và trưởng thành) do những sai lầm của ĐCSVN dưới thời Lê Duẩn gây ra.
    Tôi tin dù nói ra những lời đau đớn không muốn nhận mình là người Việt (gốc Hoa) do hoàn cảnh bị xua đuổi ngày ra đi, ngay tận đáy lòng có lẽ ông Lâm Hoàng Mạnh cũng chưa thể từ bỏ hoàn toàn đất nước VN này. Xin cám ơn ông đã kể lại đoạn đời đau thương này của ông và xin cầu chúc ông và quý quyến được nhiều may mắn và hạnh phúc trên xứ sở của nữ hoàng Anh.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>