talawas blog

Chuyên mục:

Trương Nhân Tuấn – Góp ý với anh Mai Thái Lĩnh về vài chi tiết trong bài viết «Ải Nam Quan trong lịch sử»

10/08/2009 | 11:30 chiều | 1 bình luận

Tác giả: Trương Nhân Tuấn

Category: Lịch sử, Quan hệ Việt – Trung
Thẻ:

Đọc bài viết «Ải Nam Quan trong lịch sử» của anh Mai Thái Lĩnh, tôi có một vài ý kiến đóng góp cùng anh như sau:

1. Về ý nghĩa của «Ải»:

Theo tôi thì «ải» có hai ý nghĩa: 1) địa lý, 2) hành chánh. Nếu không phân biệt trước hai ý nghĩa này thì sẽ rất dễ lẫn lộn.

Định nghĩa của cụ Đào Duy Anh mà anh Mai Thái Lĩnh trích dẫn: chữ ải có nghĩa là “chỗ đất hiểm trở, chật hẹp”, là định nghĩa ải theo địa lý. Tiếng Pháp có các danh từ «passe» và «gorge» đều có thể dịch là «ải».

Cũng theo cụ Đào Duy Anh, dẫn từ bài của anh Mai Thái Lĩnh, quan ải có nghĩa là “chỗ đất hiểm trở ở nơi biên giới của hai nước (poste frontière)”.

Hai chữ «poste frontière» thực ra viết có dấu gạch nối poste-frontière, có ý nghĩa là «trạm gác (đồn canh) ở biên giới». Trạm canh nơi biên giới, tùy theo mức độ quan trọng, gọi là ải, hay là quan, thủ tạp, ngoại sách v.v… là ý nghĩa hành chánh của ải.  Ải, với ý nghĩa hành chánh, không thể đồng nghĩa với chỗ đất hiểm trở (ý nghĩa địa lý). Nhưng ải (poste-frontière) có thể dựng ở một nơi hiểm trở, chật hẹp.

2. Anh Mai Thái Lĩnh viết: Một ải nào đó có thể có ý nghĩa quan trọng đối với nước này hơn là đối với nước kia, nhưng ải bao giờ cũng nằm ở biên giới giữa hai nước.

Như thế làm sao giải thích trường hợp ải Chi Lăng, trên đường từ Hà Nội đi Lạng Sơn, không nằm trên biên giới? Ải Chi Lăng là «một trận đồ hiểm ác… một thung lũng hẹp, hình bầu dục, chiều dài Bắc-Nam khoảng 4km. Có hai cửa, cửa phía Bắc gọi là Quỷ Môn Quan, cửa phía Nam gọi là Ngõ Thề. Ải Chi Lăng cách Hà Nội chừng 110km và cách biên giới 60km» (Nguyễn Khắc Viện & al. – Đất nước Việt Nam, Hà Nội 1989, tr.286-288.  Hoàng Nguyên Nhuận dẫn trong «Chiều mưa biên giới anh đi về đâu»).

Trở lại phần (1), ải Chi Lăng đâu có trạm gác (poste-frontière) ? Như thế chữ « ải » trong ải Chi Lăng hoàn toàn có ý nghĩa địa lý.

3. Anh Mai Thái Lĩnh viết: Bình Nhi là tên một làng của Trung Hoa nằm trên hữu ngạn sông Kỳ Cùng, gần chỗ dòng sông rời biên giới Việt Nam để chảy vào đất Trung Quốc.

Điều này không đúng, Bình Nhi là một làng của Việt Nam (chấm đỏ ghi Bi-Nhi, bên trái dòng sông, trên bản đồ đính kèm).

tnt1

4. Anh Mai Thái Lĩnh viết: Như vậy, Bình Nhi được coi là một “ải” là do vị trí hiểm yếu trên một dòng sông chứ không phải là một điểm trên một con đường núi hiểm trở.

Tôi nghĩ chữ «ải» ở đây có ý nghĩa hành chánh, tức là «poste-frontière» – trạm (hay đồn) biên giới, hơn là ý nghĩa địa lý «chỗ đất hiểm trở, chật hẹp». Nhưng để ý trên bản đồ sông Kỳ Cùng nơi đây uốn thành chữ C, cũng là một nơi hiểm trở.

Anh Mai Thái Lĩnh viết: Bình Nhi (Bin-hi) là cửa ải cuối cùng ở phía tây của tỉnh Lạng Sơn, đường biên giới chạy ngang một đập nước (barrage) ở phía thượng lưu của Bình Nhi.

«Barrage» ở đây không phải là đập nước mà là một rào cản (ngoại sách, tức hàng rào, phên dậu bên ngoài). Vả lại đây không phải là ải cuối cùng về phía tây Lạng Sơn. Theo tôi thì còn các ải sau (xem phần dưới): Ải Na Hoài (Na-houei ai 那懷), Bế Thôn (Pi-tsouen ai 閉村), Duệ Thôn (I-tsouen ai曳村), Cảm Thôn (Kan-tsouen ai敢村) và ải Canh Thư (Keng-y ai 更且[1])

5. Về đoạn dưới đây, tôi có làm so sánh với bản đồ và các biên bản cắm mốc, cho ra kết quả bên dưới :

Ải Trị Mã (porte de Chi-ma, cửa Chi Ma) chính là Tiệm ải (hay Kiệm ải)[vii] nằm ở thôn Trị Mã xã An Khoái châu Lộc Bình giáp với châu Tư Lăng (Se-ling-Tchéou). Ải Nam Quan nằm ở giữa, được ghi là “Cua-ai ou Tche-nan-quan” (Cửa ải hay Trấn Nam Quan), được chú thích bằng tên tiếng Pháp “Porte de Chine” (Cửa Trung Hoa). Năm cửa ải bên trái của ải Nam Quan là: Bin-hi (Bình Nhi), Pa-kéou-aï, Porte de San-chi (Cửa San-chi), Porte de Bochaï (Cửa Bochaï), Ki-da-aï. Số lượng phía bên phải của ải Nam Quan nếu tính cả ải Na Thôn (trong bài viết ghi là Nathong, trên bản đồ ghi là Na-tong) lên đến 8 cái, nhiều hơn 2 cái so với miêu tả trong ĐNNTC. Đó là các ải: Aï-Ro (ải Du, hay còn gọi là ải Du Thôn), Pan-Pien-aï, Aï-Loa (ải La), Tonguen-aï, Pa-chi-aï, Na-chi-aï, Na-ho-aï hay còn gọi là Porte de Chi-ma (ải Trị Mã hay ải Chi Ma), Na-tong (Na Thôn).

So sánh với các biên bản cắm mốc (và bản đồ) tôi thấy như sau:

– ải Bosa (Bochaï) : tức là ải Bố Sa (Bố Sa Ngoại Sách).

– Pa-kéou-aï: Bình Công Ải

– Porte de San-chi: Sơn Tử Ải (Sơn Tử Ngoại Sách, mốc 12)

– Porte de Bochaï: Bố Sa Ải (Bố Sa Ngoại Sách, mốc số 15)

– Ki-da-aï: Do Ải (ải Du hay Du Thôn Ải), Pháp còn viết là Khua Da. Ải này phía bên trái Nam Quan.

– Ải Rô: còn gọi là Áp Môn Ngoại Sách (cột mốc 23), không phải là ải Du, vì ở bên phải Nam Quan.

– Pan-Pien-aï: Bản Phiêu Ngoại Sách (mốc 25)

– Aï-Loa (ải La): Ải Loa (Khấu Sơn Ngoại Sách, mốc 30)

– Tonguen-aï: Đồng Hộ Ngoại Sách (mốc 36)

– Pa-chi-aï: Không biết là gì. Có thể là Nã Lộc Sơn (mốc 37) hoặc La Nông Sơn (mốc 39)

– Na-chi-aï: Nã (hay Ná) Chi Ngoại Sách (mốc 40)

– Ải Trị Mã: thực ra là Chí Mã, còn gọi là Ải Điếm ngoại sách hay Ải Điếm Ải Khẩu.

– Na-tong không phải là ải biên giới, đó là một làng bên Trung Quốc.

Các hình Nam Quan và bản đồ phía tay phải Nam Quan

Các hình Nam Quan và bản đồ phía tay phải Nam Quan

6. Để thuận tiện việc so sánh, xin ghi lại đây các ải biên giới thuộc phủ Thái Bình, theo Đại Thanh nhất thống chí, thông thuơng qua tỉnh Lạng Sơn (và một phần Cao Bằng và Hải Ninh). Lưu ý, chiều dài 1 lý trong sách này tương đương 400 m.

Có 8 huyện thuộc phủ Thái Bình tiếp giáp với Việt Nam, tính từ đông sang tây, đó là các huyện (châu): Tư Châu (Sse-tcheou思州), Tư Lăng Châu (Sse ling tcheou 思陵州), Thượng Thạch Châu (Chang Che tcheou 上石州), Ninh Minh Châu (Ning-ming tcheou 寧明州), Bằng Tường Châu (Pin-siang tcheou 憑詳州), Long Châu hay Hạ Long Tư (Long-tcheou hay Hia Long sse 龍州) , Thượng Hạ Ðông Châu (Chang hia Tong-tcheou 上下東州) và An Bình Châu (Ngan-ping tcheou 安苹州).

Phủ Thái Bình theo kinh tuyến Bắc Kinh của các nhà truyền giáo Jésuites

Phủ Thái Bình theo kinh tuyến Bắc Kinh của các nhà truyền giáo Jésuites

Tất cả những châu, huyện ghi trên, ngoại trừ Ninh Minh Châu, người Hoa gọi là thổ châu土州, có nghĩa là châu, huyện của dân tộc thiểu số.

Huyện Tư Châu: Cách (biên giới) Việt Nam 180 lý ở về phía đông nam và 100 lý về hướng tây nam. (quyển 365, tờ 4).  Ải và cửa biên giới : Niệm Thê Ải (Nien-ti ai 念[2]梯 隘) cách Tư Châu 120 lý về hướng Ðông. Ải này cũng gọi là Bắc Cương ải (chú thích của tác giả TNT).

Phía nam Tư Châu có các cửa ải mở sang Việt Nam như sau: Ải Niệm Khất (Nien-ki ai  念[3]乞隘), ải Ðà Diễn (T’o-yen ai 馱演隘), ải Ðà Phu (T’o-fou ai 馱膚隘).

Phía tây nam Tư Châu có ải Lê Long (Li-long ai棃 龍隘) và ải Ná Hội (Na-houei ai 那 會隘).

Phía đông nam Tư Châu có cửa ải Quyền Tương (Kouan-siang ai 權 相隘).

Tất cả các cửa ải trên đây đều có quân lính canh gác (tờ 10).

Tư Lăng Châu: 35 lý về hướng tây nam, 50 lý theo hướng đông nam là biên giới Việt Nam.   Ải và cửa biên-giới: Ải Ná Hà (Na-ho ai 那 河) cách Tư Lăng Châu 30 lý về phía tây. Ải này mở cửa thông thương với châu Lộc Bình (sđd, tờ 18). Ải Biện Cường ( Pan-tsiang ai 辨 強) cách Tư Lăng Châu 40 lý về phía Bắc. Người ta còn gọi là Biện Cường Ðộng 辨 強 峒. Riêng người Việt Nam thì gọi ải này là Biên Cương Ải (ghi chú TNT).

Thượng Thạch Châu: Còn gọi là Thượng Thạch Tây Châu, Việt Nam (huyện Văn Uyên 文淵, tức Ðồng Ðăng) cách 30 lý về hướng tây và 25 lý về hướng tây bắc (sđd, tờ 5).

Ải và cửa biên giới hai vùng Thượng Thạch và Hạ Thạch Châu: Ải Do (Yeou ai 由 隘) ở cách 30 lý về hướng Tây Thượng Thạch Châu, còn gọi là Lục Trúc Lang, ải này thông qua châu Văn Uyên, có quân canh gác (sđd, tờ 18). Ải Ly Nhạc (Lo-yoh ai 罹 岳) cách 30 lý về phía Tây Bắc Hạ Thạch Châu.

Ninh Minh Châu: Biên giới Việt Nam cách 70 lý về phía Nam. Từ Ninh Minh Châu đến (biên giới) huyện Vân Uyên 150 lý theo hướng tây nam (sđd, tờ 2).

Ải hay cửa biên giới: Ải Na Tiếu ( Na-siao ai 那肖) ở phía Nam châu Ninh Minh, ở kế bên Bản Lập Ải ( Pan-li ai 板 立 隘).

Ở về phía Tây Nam của Ninh Minh Châu gồm có các cửa ải sau: Ải Ðông Môn (Tong-men ai 東 門), ải Khấu Sơn (K’eou-chan ai 扣 山),  ải Ly (Lôh ai 罹), ải Bản Kiếp (Pan-kou ai 板刧), ải Bản Hội (Pan-houei ai 板會), ải Bản Long (Pan-long ai 板龍), ải Bản Lật (Pan-piao ai 板凓).

Tất cả những cửa ải này đều có quân canh và mở sang Việt Nam (sđd, tờ 18).

Châu Bằng Tường: (biên giới) Việt Nam ở 20 lý về phía Tây và 30 lý về hướng nam. Từ Bằng Tường đến biên giới (Việt Nam) là 8 lý theo hướng Ðông Nam (ÐTNTC, q 365, tờ 6).

Cửa Trấn Nam (Tchen-nan kouan鎭南關), cách 45 lý về phía Tây Nam châu Bằng Tường, còn gọi là Ðại Nam Quan (Ta-nan kouan大南關). Ðây là cửa chính thức của hai nước. Hai bên là núi đá cao tận mây và cửa Ðại Nam được xây ở giữa. Ở mỗi bên cửa là một bức tường dài 1190 bộ (khoảng 337m). Cách 30 dặm là trạm Pha Lũy Dịch 坡壘驛  thuộc An Nam, đây là nơi sửa soạn để đưa phẩm vật triều cống sang Tàu (ÐTNTC, q 365, tờ 17). Như thế Pha Lũy không phải là một ải, mà chỉ là một « trạm » hoàn toàn của VN (ghi chú TNT).

Ngoài ra có ải Ba Khẩu (Pa-k’eou ai 巴[4]口), cách 8 lý về phía Tây, ải Quyên Thôn (Kiuen-k’souen ai 絹村) cách 20 lý về hướng Tây, ải Bình Công (Ping-kong 平公) 25 lý về hướng Tây Bắc. Tất cả các ải này đều có quân canh gác (sđd, tờ 18).

Long Châu: Còn gọi là Hạ Long Tư下龍司, (biên giới) Việt Nam cách 80 lý theo hướng Tây và 100 lý theo hướng Tây Bắc. Có động Tử-Hà (Tze-hia tong 紫霞)  cách 30 lý về phía Nam.

Ải hay cửa biên giới: Bình Nam Quan (Ping nan kouan平南關) cách Long Châu 90 lý về hướng đông nam; cửa này thông qua An Nam (sđd, tờ 18). (Thực tế cửa quan này tên là Bình Nhi Quan. Hai chữ «Nam 南» và «Nhi 爾» viết gần giống nhau nên gây ra lẫn lộn, ghi chú TNT). Ải Na Hoài (Na-houei ai 那懷) cách Long Châu 65 lý về hướng tây nam. Giáp với ải trên là ải Bế Thôn (Pi-tsouen ai 閉村).

Ải Duệ Thôn (I-tsouen ai曳村), ải Cảm Thôn (Kan-tsouen ai敢村) và ải Canh Thư (Keng-y ai 更且[5]) ở phía tây Long Châu. Ba ải này trên đường đi sang Việt Nam và chúng được lính và dân quân địa phương canh gác.

Thủy Khẩu Quan (Chouei-keou kouan水口) ở cách Long Châu 95 lý về hướng tây bắc, cửa quan này mở sang Việt Nam.

Hợp Hữu Quan (Ho-che kouan 合右關), cách Long Châu 100 lý theo hướng Tây Bắc. Cửa mở sang Việt Nam (sđd, nt).

Ải Vũ Ðức (Ou-teh ai 武德:) ở phía tây bắc Long Châu. Kế cận ải này có: Ải Hà Thôn (Ho-tsouen ai 苛村), ải Lũng Cửu (Long-kieou ai  隴久). Các ải này có canh gác và mở sang Việt Nam.

Các cửa ải Bổng Thôn (Fong-tsouen 俸村), Ðẩu Áo (Teou-ngao斗奥và Úm Bố (Ngan-pou唵布[6]) ở phía bắc Long Châu, đều có lính hay dân quân địa phương canh gác. Các ải này kiểm soát những con đường dẫn sang Việt Nam.

Phía bắc Long Châu có các cửa ải: Củng Thôn (Kong-tsouen 拱村), Na Miêu (Na-miao 那苖), Bả ? (Pa-mé把), Noãn Tái (Nouan-sai 暖  賽) .

Các ải này có canh gác và mở ra biên giới Việt Nam.

Huyện Thượng Hạ Ðông Châu: biên giới (Việt Nam) ở 22 lý về hướng Tây và 30 lý theo hướng  tây bắc (sđd, tờ 5). Có núi Củng Thiên Lĩnh (Kong-tien ling拱天嶺) cách huyện đường 10 lý về hướng Nam. Theo Ðịa chí thời Minh thì dãy núi này tạo thành một chuỗi dài trên 10 lý, làm thành biên giới Việt Nam về phía đông nam (ÐTNTC, qs 365, tờ 11).

Ải và cửa biên giới: Ải Du Hóa (Yu-hoa 萸化) cách huyện 20 lý về hướng tây. Ải mở sang biên giới Việt Nam, có đồn canh gác.(sđd, tờ 18),  Ải Bố Cục (Pou-kiu 布局) cách huyện 30 lý về hướng Tây Bắc. Ải cũng mở sang Việt Nam và có đồn canh.

7. Về tên của «ải Nam Quan»:

Nhà báo Nguyễn Huy Minh (báo Thể thao & Văn hóa) nhân dịp làm phóng sự về buổi lễ «kết thúc phân trình cắm mốc biên giới Việt Nam – Trung Quốc» tổ chức tại Hữu Nghị Quan ngày 23-2- 2009, có chụp một số hình ảnh tại đây, trong đó có hai tấm hình quan trọng về lịch sử, một bia đá và một bia gỗ. Tấm bia gỗ viết bằng 3 thứ tiếng (Hán, Anh và Việt); nội dung tiếng Việt nguyên văn như sau:

Hữu Nghị Quan xây vào nhà Hán, đến nay đã vào khoảng 2000 năm, đã từng đổi tên 6 lần, tên trước là Ung Kê Quan, sau lại đổi tên Giới Đầu Quan, Đại Nam Quan, đến đầu nhà Minh lại đổi tên Trấn Nam Quan, tháng 1/1953 đổi tên Hữu Nghị Quan. Lầu thành bị chiếm 5 lần trong thời gian chiến tranh chống Pháp và chiến tranh chống Nhật, xây dựng lại hai lần. Thành hiện nay xây dựng lại vào năm 1957, lầu thành có 4 tầng, cao 27m, diện tích chiếm đất khoảng 180m vuông, tầng dưới xây bằng đá hình chữ nhật, môn lầu thành là hình tò vò, cửa tò vò trong cao 10m, dưới rộng 8m, cửa tò vò ngoài quan cao 5,8m, dưới rộng 6,6m, đường đi dài 15,9m. Tầng hai là phòng triển lãm, trong phòng này đều trưng bày các tranh ảnh và thực vật trong chiến tranh Trấn Nam Quan. Tầng 3 là phòng gặp mặt ngoại vụ Trung Việt. Tầng 4 là trưng bày các loại tranh ảnh của cửa khẩu nổi tiếng Trung Quốc. Phía trên ngoài tường thành trên quốc huy nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, cờ đỏ năm sao trên cán cờ tại gác thượng tung bay. Trên cửa lầu thành có lắp vào chữ “Hữu Nghị Quan” viết bằng nguyên soái Trấn Nghĩa làm bằng đá ngọc Hán bạch.

(hình bia gỗ Nam Quan)

Như thế cổng Nam Quan đã xây dựng lại 3 lần, đổi tên 6 lần. Trong bia ghi lại 5 tên: Ung Kê Quan, Giới Đầu Quan, Đại Nam Quan, Trấn Nam Quan và Hữu Nghị Quan (thiếu một tên, có lẽ là Mục Nam Quan). Vậy là không có tên Pha Lũy.

Về phía Việt Nam, theo vài tài liệu văn học ải này được gọi đơn giản là «ải Bắc».

© 2009 Trương Nhân Tuấn

© 2009 talawas blog


[1] Có bộ «sơn» ở trên

[2] Có thêm bộ thủy phía trước

[3] nt

[4] Có bộ «sơn» ở  trên

[5] Có bộ «sơn» ở trên

[6] Có bộ «khẩu» bên trái

Bình luận

1 bình luận (bài “Trương Nhân Tuấn – Góp ý với anh Mai Thái Lĩnh về vài chi tiết trong bài viết «Ải Nam Quan trong lịch sử»”)

  1. Trần Vũ viết:

    Anh Trương Nhân Tuấn,

    Trên phóng đồ hành quân của trung đoàn 3 Lê Dương, Bình Nhi là đồn Galliéni cũ, sát biên giới, nhưng nằm trong phần đất Việt Nam. Bình Nhi tức Citadelle Bi Nhi do đại đội 7 của trung úy Met thuộc tiểu đoàn 2 của trung đoàn 3 Lê Dương trấn đóng vào năm 1948, thuộc đặc khu Bi Nhi gồm Bình Dao, Pan Pen, Pan Be, Na Man, trực thuộc tiểu khu Thất Khê. Trước áp lực Việt Minh, đồn Bình Nhi triệt thoái tháng 5-1949.

    Đồn Biên Thùy Chi Ma, tên chính thức ghi trên cổng đồn, nằm phía đông Lạng Sơn, 20 cây số phía bắc Lộc Bình, thuộc vùng trách nhiệm của Trung đoàn 21 Bộ Binh Thuộc Địa. Chiến đoàn Charton bao gồm tiểu đoàn 1 Lê Dương và tiểu đoàn 10 Tabor Marốc tước vũ khí quân Tưởng Giới Thạch tại đây. Quân Tàu chạy sang Việt Nam qua các ngã Sóc Giang, Trùng Khánh Phủ, Pò Mã, Nam Quan và Trị Mã.

    Anh Tuấn xem cuốn Les Combats de la RC4, Face au Vietminh et à la Chine, Cao Bang-Lang Son 1947-1950 của Georges Longeret và Cyril Bondroit, Nxb Indo Editions 2004, rất nhiều bản đồ, hình ảnh, đơn vị trấn đóng. Đặc biệt hình chụp Đồn Biên Thùy Chi Ma, Đồn Biên Thùy Bi Nhi, nhưng ngoài hình ảnh và bản đồ hành quân, không có chi tiết địa dư vì tập trung tường thuật các trận đánh.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>