Bertolt Brecht – Thời mạt cho thi ca
06/08/2009 | 1:18 sáng | 1 bình luận
Category: Thế giới, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: Bertolt Brecht > Hitler > Văn chương lưu đày
Thái Kim Lan dịch
Lời người dịch: “Thời mạt cho thi ca” (1939) của Bertolt Brecht là một bài thơ tiêu biểu của văn chương lưu đày Đức (“deutsche Exilliteratur”). Xuất hiện trong khoảng thời gian 1933 – 1945, “văn chương miền lưu đày” bao gồm tất cả các tác phẩm của những tác giả chống đối chủ nghĩa Quốc xã của Hitler đang tị nạn tại nước ngoài: Bertolt Brecht, Hermann Broch, Ernst Bloch, Alfred Döblin, Lion Feuchtwanger, Bruno Frank, A. M. Frey, Anna Gmeyner (1902-1991), Oskar Maria Graf, Heinrich Eduard Jacob, Hermann Kesten, Annette Kolb, Siegfried Kracauer, Emil Ludwig, Heinrich Mann, Klaus Mann, Thomas Mann, Robert Neumann, Erich Maria Remarque, Ludwig Renn, Alice Rühle-Gerstel, Otto Rühle, Alice Schwarz-Gardos, Anna Seghers, B. Traven, Franz Werfel, Bodo Uhse, Arnold Zweig, Balder Olden und Rudolf Olden… “Văn chương miền lưu đày” đã trở thành một mảng văn học đặc thù chiếm vị trí đáng kể trong trào lưu văn chương đương đại quốc tế.
Từ năm 1933, B. Brecht đã cùng gia đình chạy trốn khỏi chế độc độc tài của Hitler sang Đan Mạch. Đối diện với những khổ nạn “lưu đày”, mất đất đứng nơi quê hương, tương lai vô định và hiện tại bấp bênh, thiếu phương tiện trong xã hội xa lạ, Brecht cũng như những nhà văn đồng cảnh ngộ cảm nhận sâu xa sự mất mát mảnh đất ngôn ngữ và nỗi quạnh hiu của một nghiệp dĩ văn chương thiếu quần chúng, còn trầm trọng gấp bội những thiếu thốn vật chất. Chính nỗi tuyệt vọng của kẻ bị lưu đày đã đưa đến nhiều trường hợp tự vẫn của những văn nghệ sĩ lỗi lạc: Ernst Toller, Walter Hasenclever, Walter Benjamin, Kurt Tucholsky, Stefan Zweig, Ernst Weiß…
Sáng tác trên mảnh đất lưu đày trở nên một cứu cánh để trở về với bản lai diện mục văn hoá và đồng thời lấy khoảng cách với quá khứ hầu tạo nên diện mạo mới cho tư duy sáng tạo. Với chủ trương phê phán hiện thực, B. Brecht, ngoài đối tượng “cảnh ngộ lưu đày”, hơn bao giờ đặt câu hỏi về mục đích của thi ca – không những trên lãnh vực chính trị- mà trong toàn thể lãnh vực văn học. “Thời mạt cho thi ca” là nỗi trăn trở với gia tài văn học quốc nội và sự thôi thúc tìm một con đường mới cho thi ca trên mảnh đất lưu đày. Ngay cả hình thức của thi ca lưu đày trong ý hướng “văn dĩ tải đạo” cần được biểu lộ bằng tiết tấu và âm giai mới, trong khi chối bỏ vần điệu cổ điển, vượt xiềng xích ước lệ, để thở hơi thở của thời đại. B. Brecht là một trong những người đột phá lãnh vực văn học Đức, mở ra chân trời văn học thế giới với chính đặc thù của tư duy và ngôn ngữ Đức: phản tỉnh văn học bằng ngôn ngữ phản tỉnh: “trong thời đen tối, lúc ấy người ta có ngâm nga không/ Lúc ấy người ta có ngâm nga, không trong mà về thời đen tối”.
____________
Thời mạt cho thi ca[1]
Tôi biết chứ: chỉ kẻ hạnh phúc
Mới được mến chuộng. Giọng nói của hắn
Người ta thích nghe. Mặt hắn thật đẹp
Còn cái cây trong sân què quặt
Chứng tỏ nền đất thối nát, nhưng
Những người qua đường chửi nó là thứ tàn tật
Mà họ có lý
Những chiếc tàu sơn xanh và những cánh buồm vui nhộn nơi eo biển
Tôi không thấy. Chỉ thấy rõ hơn hết
Tấm lưới rách tươm của dân chài
Tại sao tôi chỉ nói về
Bà quản gia bốn mươi tuổi đi khòm người?
Còn bầu ngực của những đứa con gái
Thì vẫn căng ấm áp như thuở nào
Trong bài thơ của mình, một câu thơ có vần
Với tôi hầu như nhuốm vẻ bốc đồng
Trong tôi có hai điều đang cãi nhau
Sự nồng nhiệt về cây táo đang nở hoa
Và nỗi kinh dị về lời nói của gã quét vôi[2]
Nhưng chỉ điều thứ hai
Thúc tôi đến bàn viết
Schlechte Zeiten für Lyrik
Ich weiß doch: nur der Glückliche
Ist beliebt. Seine Stimme
Hört man gern. Sein Gesicht ist schön.
Der verkrüppelte Baum im Hof
Zeigt auf den schlechten Boden, aber
Die Vorübergehenden schimpfen ihn einen Krüppel
Doch mit Recht.
Die grünen Boote und die lustigen Segel des Sundes
Sehe ich nicht. Von allem
Sehe ich nur der Fischer rissiges Garnnetz.
Warum rede ich nur davon,
Dass die vierzigjährige Häuslerin gekrümmt geht?
Die Brüste der Mädchen
Sind warm wie ehedem.
In meinem Lied ein Reim
Käme mir fast vor wie Übermut.
In mir streiten sich
Die Begeisterung über den blühenden Apfelbaum
Und das Entsetzen über die Reden des Anstreichers.
Aber nur das zweite
Drängt mich zum Schreibtisch.”
(Bertolt Brecht, Gesammelte Werke, Bd.9: Gedichte 1938 – 1941, Ffm.: Suhrkamp 1967, S. 743)
___________
Phụ lục
Bài ca gã quét vôi Hitler
1.
Gã quét vôi Hitler
Nói: Đồng bào yêu mến, hãy để tôi vào cuộc
Và hắn bê một thùng sơn mới
Và sơn luôn cái nhà nước Đức thành mới
Cả cái nhà dân Đức được sơn thành mới
2.
Gã quét vôi Hitler
Nói: cái nhà mới có liền lập tức
Và những lỗ, những vết bong, những đường nứt
Hắn cứ việc sơn bít hết tất
Cả cứt đái hắn đều sơn kít
3.
Ô này gã quét vôi Hitler
Tại sao mi không là thợ nề? Cái nhà của mi
Khi những lớp sơn gặp mưa
Thì các thứ bẩn ở dưới lại lòi ra
Cả mọi cứt đái lại phọt ra
4.
Gã thợ quét vôi Hitler
Đã không học gì ngoài màu sắc
Và khi người ta để hắn vào cuộc
Thì hắn sơn bết tất tần tật
Cả nước Đức hắn trát sơn bền bệt
Das Lied vom Anstreicher Hitler
1.
Der Anstreicher Hitler
Sagte: Liebe Leute, laßt mich ran!
Und er nahm einen Kübel frische Tünche
Und strich das deutsche Haus neu an.
Das ganze deutsche Haus neu an.
2.
Der Anstreicher Hitler
Sagte: Diesen Neubau hat’s im Nu!
Und die Löcher und die Risse und die Sprünge
Das strich er einfach alles zu.
Die ganze Scheiße strich er zu.
3.
O Anstreicher Hitler
Warum warst du kein Maurer? Dein Haus
Wenn die Tünche in den Regen kommt
Kommt der Dreck drunter wieder raus.
Kommt das ganze Scheißhaus wieder raus.
4.
Der Anstreicher Hitler
Hatte bis auf Farbe nichts studiert
Und als man ihn nun eben ranließ
Da hat er alles angeschmiert.
Ganz Deutschland hat er angeschmiert.
Bản tiếng Việt © 2009 Thái Kim Lan
Bản tiếng Việt © 2009 talawas blog
[1] Sáng tác (khoảng 1939) trong lúc tị nạn ở Đan Mạch (1933- 1945)
[2] Brecht dùng chữ “gã quét vôi” để chỉ nhà độc tài Hitler. Một bài thơ khác làm trong giai đoạn tị nạn Đức Quốc xã có tựa đề: “Bài ca gã quét vôi Hitler” (xem Phụ lục).
Bình luận
1 bình luận (bài “Bertolt Brecht – Thời mạt cho thi ca”)
Bài hát “Gã sơn nhà Hitler” có một tứ rất hay ở hai câu cuối: “angeschmiert” có nghĩa đen là trét tèm lem, bôi bẩn, nhưng cũng mang nghĩa bóng thông dụng là gạt gẫm, lừa đảo, qua mặt,…
…Và hắn đã cho tất cả vào tròng
Cả nước Đức bị hắn cho vào tròng