talawas blog

Chuyên mục:

Vương Thế Lan – Ai bỏ chạy? Ai hèn nhát?

05/08/2009 | 10:45 sáng | 47 Comments

Tác giả: Vương Thế Lan

Category: Chính trị - Xã hội
Thẻ:

Trong bài “Trí thức, hèn nhát, can đảm“, ông Dương Danh Huy đã cho rằng người Việt Nam ở nước ngoài là những kẻ bỏ chạy, và những ai đang ở trong nước mà dám “phê phán chính quyền nặng nề“ thì “nói chung là người can đảm“, và ông đưa ra giả thiết rằng nếu họ chê người Việt lưu vong là “hèn nhát (vì đã bỏ chạy)”, thì “có thể thông cảm được”.

Ông Dương Danh Huy viết bài ấy như một phản biện về bài “Trí thức nên im lặng hay lên tiếng?“ của tôi. Đúng ra, bài của tôi nói về vấn đề nên hay không nên im lặng của giới trí thức dưới những chế độ độc tài, bất cứ ở đâu, thời nào, không nhất thiết là ở Việt Nam, vì những ý chính trong bài thì hoàn toàn dựa vào những câu danh ngôn của các vĩ nhân thế giới. Ông Dương Danh Huy phản biện bằng cách đẩy vấn đề sang một hướng khác, một giới hạn khác.

Khi nói đến những mệnh đề Im lặng là đồng lõa; Im lặng là chịu thua; Im lặng là phản bội; Im lặng là hèn nhát, thiếu lương tâm; tôi muốn trình bày lại những quan niệm đạo đức của một số danh nhân và nhà tranh đấu vĩ đại đối với thái độ “im lặng” của người trí thức khi chứng kiến những chính quyền độc tài đối xử bất công, bạo ngược với nhân dân. Trình bày lại như vậy, tôi hy vọng mỗi người đọc, trước hết, hãy tự đối chiếu với bản thân và tự xét mình; sau đó, có thể căn cứ trên cơ sở đạo đức đó để đánh giá những hành vi của những người trí thức thuộc mọi quốc gia, mọi thời đại. Chẳng hạn, không cần phải là người Tây Tạng sống ở Tây Tạng, chúng ta vẫn có thể nói một cách đúng đắn rằng “những người trí thức Tây Tạng nào đã chứng kiến cảnh Trung Quốc đàn áp dã man người dân Tây Tạng, nhưng không chịu lên tiếng tố cáo trước dư luận, mà vẫn im lặng hợp tác với chính quyền Trung Quốc, thì đó chính là những người trí thức chịu thua, hèn nhát, thiếu lương tâm, đồng lõa, phản bội.”

Ông Dương Danh Huy lại đẩy vấn đề sang cái hướng khác để lý luận xem ai có tư cách gì và đứng chỗ nào mà chê người khác. Đồng thời ông gạt hết những ý về sự đồng lõa, chịu thua, thiếu lương tâm và phản bội. Ông chỉ nhắm vào sự “hèn nhát” và ngược lại là “can đảm”, rồi ông giới hạn vấn đề trong vòng người Việt Nam và phân định xem ai có tư cách để chê ai.

Trước hết, để tiện cho việc lý luận về sự “hèn nhát” và “can đảm”, ông Dương Danh Huy đã chia người Việt Nam ra làm 4 loại. Trong đó, 2 loại đầu là người Việt Nam ở trong nước, và 2 loại sau là người Việt Nam ở nước ngoài:

1. Một người trong nước phê phán chính quyền nặng nề, nói chung là người can đảm. Tôi không nói phê phán chính quyền nặng nề là đúng hay sai, nhưng nói chung đó là can đảm, vì có thể có hệ quả.

2. Một người trong nước không phê phán chính quyền nặng nề, không vì thế mà là hèn nhát.

3. Một người ở nước ngoài, dùng hay không dùng tên giả, phê phán chính quyền nặng nề, không vì thế mà là người can đảm, vì hầu như không có hệ quả nào làm cho người đó rụng cọng lông nào.

4. Một người ở nước ngoài không phê phán chính quyền nặng nề, không vì thế mà là hèn nhát, vì có phê phán cũng không rụng cọng lông nào.

Ông cho rằng loại người 1 (tức là người ở “trong nước” mà dám “phê phán chính quyền nặng nề”) thì “nói chung là người can đảm” (sao lại “nói chung”? chắc chắn là can đảm chứ!), vì “có thể có hệ quả” (sao lại chỉ “có thể có hệ quả”? chắc chắn là bị trừng phạt chứ! hãy xem hàng loạt người bất đồng chính kiến bị bắt gần đây). Sau đó ông cho rằng vì thế nên loại người 1 có thể chê hai loại người 3 và 4 là “hèn nhát (vì đã bỏ chạy)”.

Theo ông, người Việt Nam thuộc loại 3 và 4 thì không nên chê ai là hèn nhát, vì:

Thứ nhất cả hai đều đã bỏ chạy. Thứ nhì, cả hai, nếu phê phán chính quyền thì cũng không rụng cọng lông nào, thì làm sao có sự can đảm hay hèn nhát ở đây? Thứ ba, nếu không có sự can đảm (do phê phán chính quyền) thì lấy tư cách gì mà chê người khác là hèn nhát?

Ai bỏ chạy?

Người Việt Nam ở nước ngoài đã ra đi vì nhiều nguyên nhân khác nhau và bằng nhiều cách khác nhau:

– Có những người ra nước ngoài để du học hay làm việc (như học sinh, cán bộ, chuyên gia, công nhân…) rồi ở lại vì nhiều lý do (để được tự do, để có điều kiện sống tốt hơn…). Trong số đó, có cả những người vừa hưởng tự do và điều kiện sống tốt ở nước ngoài, vừa tiếp tục ủng hộ chế độ kềm kẹp tự do ở Việt Nam.

– Có những người ra nước ngoài để đoàn tụ với gia đình.

– Có những người đã ra nước ngoài để tránh cộng sản trong thời điểm miền Nam thất thủ 30/4/1975.

– Có những người (sĩ quan cao cấp VNCH), sau hàng chục năm bị giam cầm trong các trại tù CSVN, đã được chính phủ Mỹ bảo trợ theo diện H.O. để sang Mỹ làm lại cuộc sống.

– Nhưng đại đa số người Việt Nam ở nước ngoài chính là hàng triệu người đã liều chết, vượt đại dương trên những con thuyền mong manh để đi tìm tự do.

Thưa ông Dương Danh Huy,

Trong hàng triệu người vượt biển ra đi sau 1975, có hàng trăm ngàn người đã bỏ mình dưới đáy biển. Hàng triệu người ấy đã ra đi, không sợ chết, vì họ không thể nào chấp nhận cuộc sống không tự do, bị đối xử như súc vật, bị chà đạp nhân quyền, bị tước đoạt nhà cửa và tài sản, bị xua lên vùng “kinh tế mới”, bị cầm tù vô thời hạn, bị đánh đập, bắt bớ, tra tấn bất kỳ lúc nào. Đối với họ, sống như vậy không còn một ý nghĩa nào nữa. Vì thế, họ bất chấp mọi hiểm nguy, dấn mình vào một cuộc đi mà có thể 99%, nhiều khi 100%, là chết. Nhiều người đã vượt biển ngay giữa mùa đông đầy dông bão. Nhiều người đã ra đi, thất bại, bị bắt, bị cầm tù, rồi vượt ngục, ra đi, nhiều lần như thế thì mới đến nước ngoài. Nhiều người khi đến đất liền thì bị đưa vào nhốt trong các “closed camps” suốt nhiều năm, không có thân nhân bảo lãnh sang nước thứ ba, đành phải sống mỏi mòn chờ đợi một ân huệ mơ hồ, rồi tuyệt vọng, tự treo cổ, mổ bụng hay tự thiêu, để chết.

Hàng triệu người Việt Nam đã vượt biển ra đi trong những thập niên 70 và 80, và hàng chục triệu người khác đã muốn ra đi mà ra đi không được, vì không có cơ hội, không có điều kiện, hay ngay cả không có đủ sức khoẻ hay can đảm để bước lên một chiếc thuyền mong manh vượt qua đại dương. Nhiều gia đình đành chịu cảnh ly tán, người đi, kẻ ở, mong chờ ngày đoàn tụ. Hàng chục triệu người khác đã ra đi nhưng thất bại, bị bắt giam, và sau khi ra khỏi nhà tù thì không còn điều kiện và cơ hội nào để ra đi nữa, đành ở lại trong nước.

Trong số hàng triệu người đã ra đi, sống sót và tìm được tự do ở nước ngoài, có những người đã bị hải tặc tấn công, hãm hiếp, cướp bóc, có những người đã phải chứng kiến các thân nhân của mình bị hải tặc giết và vất xác xuống biển, có những người khi đến nước định cư thì trở nên điên loạn và bị khủng hoảng suốt đời còn lại.

Trong số hàng triệu người sống sót ấy cũng có biết bao nhiêu người dũng cảm vượt qua những ám ảnh đau thương để xây dựng một cuộc sống mới từ hai bàn tay trắng, và họ đã trở thành những con người thành đạt trên quê hương thứ hai, nhưng vẫn không quên quê hương thứ nhất của mình. Bằng nhiều cách khác nhau, vật chất hay tinh thần, họ đã không ngừng đóng góp to lớn cho tổ quốc và đồng bào Việt Nam của họ.

Ông Dương Danh Huy nói nếu người bất đồng chính kiến trong nước chê người Việt lưu vong là hèn nhát (vì đã bỏ chạy), thì “có thể thông cảm được”. Thế nhưng, đó chỉ là cái giả thiết phi thực do chính ông Dương Danh Huy sáng tác ra. Tất nhiên, nhà cầm quyền CSVN cũng khát khao trông thấy những người đấu tranh ở trong nước khinh thường những người lưu vong đấu tranh là những kẻ bỏ chạy, những kẻ hèn nhát, vì như thế thì cuộc đấu tranh trong và ngoài nước sẽ không kết hợp với nhau, sức mạnh đấu tranh chung bị phân tán vì sự mâu thuẫn giữa hai phía trong và ngoài. Tuy nhiên cái giả thiết đó cũng như cái khát khao đó thì hoàn toàn vô ích, vì chính trong hàng ngũ những người đấu tranh ở trong nước, cũng có nhiều người trước kia đã từng muốn vượt thoát nhưng thất bại. Và sự thật là từ trước đến nay những người đấu tranh ở trong nước không bao giờ xem đồng bào tỵ nạn ở nước ngoài là những kẻ bỏ chạy, bởi họ biết rất rõ vì sao đồng bào của mình đã bất chấp ngục tù, bất chấp cái chết, để vượt thoát. Những người đấu tranh ở trong nước và ngoài nước vẫn luôn luôn tìm cách liên lạc với nhau để yểm trợ và kết hợp với nhau trong cuộc đấu tranh chung cho tương lai của đất nước Việt Nam.

Trong những thập niên 70 và 80, chính nhà cầm quyền CSVN đã gọi hàng triệu người vượt biển tỵ nạn là những kẻ bỏ chạy. Những ai vượt biển bất thành, bị công an bắt giam, thì bị ghép vào thành phần “chạy theo ôm chân đế quốc, phản bội tổ quốc”. Những ai chết trên biển, xác trôi vào bờ, thì bị để phơi nắng nhiều ngày cho sình thối như chó chết, vì đó là xác của những kẻ bỏ chạy.

Tôi hoàn toàn hiểu tại sao chính quyền CSVN đã dùng những lời lẽ ấy để thoá mạ chính những nạn nhân của họ. Tôi cũng hoàn toàn hiểu tại sao từ thập niên 90 đến nay, chính quyền CSVN lại thay đổi cách nói, và âu yếm gọi những người Việt tỵ nạn ở nước ngoài là “kiều bào”, là “khúc ruột ngàn dặm”, là “bộ phận không thể tách rời trong đại khối dân tộc”.

Nhưng tôi không thể hiểu vì lý do gì cho đến hôm nay mà một người trí thức gốc Việt sống ở nước ngoài lại gọi các đồng bào ly hương của mình (trong đó đại đa số là những người vượt biển) là những người bỏ chạy!

Ngay trong bài viết, Dương Danh Huy đã cho biết rằng ông là “một người lớn lên ở Anh”. Tôi không hiểu ông đã rời Việt Nam sang sống ở Anh từ khi nào và bằng cách nào mà ông lại có suy nghĩ như thế về những đồng bào Việt Nam vượt biển tỵ nạn, những người đã vượt qua mọi thử thách, đã sống sót và vẫn tiếp tục đấu tranh cho tự do của tổ quốc.

Ai hèn nhát?

Song song với những đóng góp to lớn cho quê nhà, đại đa số người Việt tỵ nạn ở nước ngoài không bao giờ quên rằng họ đã ra đi vì họ không thể sống thiếu tự do và không thể thoả hiệp với cái chế độ độc tài đã cướp đoạt sự tự do của họ. Đã từng sống nhiều năm dưới chế độ ấy và đã hiểu thế nào là cuộc sống vô nghĩa như một bầy sinh vật không có tự do, đại đa số những người ra đi luôn đau đáu trong lòng cái khát vọng to lớn về một cuộc sống tự do thật sự cho đồng bào của mình ở quê nhà. Chính vì thế, dù thuộc thành phần trí thức hay thường dân, đại đa số những người ra đi không ngừng kêu đòi tự do cho đất nước, và không ngừng lên tiếng tố cáo những hành động đàn áp nhân quyền, huỷ diệt tự do vẫn đang tiếp tục diễn ra ở quê nhà.

Trước khi họ ra đi tìm tự do, họ đã chấp nhận tất cả những gì nguy hiểm nhất xảy ra cho họ. Từ khi tổ chức chuyến đi (hội họp lén lút để bàn bạc kế hoạch, tìm người cùng góp vốn mua ghe, tích trữ xăng dầu, chôn giấu nước uống, lương thực…) họ đã chấp nhận nếu bị phát hiện thì sẽ bị giam cầm, hành hạ. Khi bước chân lên chiếc ghe mong manh, họ đã chấp nhận mọi hiểm nguy: nếu gặp tàu công an biên phòng thì sẽ bị bắt giam nhiều năm hay bị bắn chết ngay tại chỗ; nếu máy ghe bị hỏng giữa biển thì sẽ trôi dạt lênh đênh, chết đói, chết khát; nếu gặp dông bão thì nhất định sẽ phải bỏ xác trong lòng biển. Sẵn sàng trả giá bằng chính sinh mạng của mình, cuộc ra đi của họ là một hành động mang tính phê phán triệt để. Họ ra đi như đối diện một bản án tử hình, với một niềm tin mãnh liệt vào tự do, và một hy vọng vô cùng mơ hồ rằng mình sẽ sống sót. Nói thẳng ra, những người đang dũng cảm đấu tranh ở trong nước hôm nay cũng không phải đối diện với những nguy hiểm to lớn đến như vậy. Vì thế, cái niềm tin về tự do, cái thông điệp về tự do của những người vượt biển đã được bảo chứng bằng lòng dũng cảm của họ từ khi họ chưa rời khỏi Việt Nam, và đã được thử thách bằng ngục tù và cái chết. Cho đến hôm nay, sau khi đã vượt qua hết những thử thách đó, may mắn sống sót và định cư ở một nước tự do, nếu những người vượt biển vẫn giữ vững niềm tin đó, thông điệp đó, thì những phát ngôn của họ về tự do vẫn còn nguyên vẹn ý nghĩa cho đến chừng nào đời sống của nhân dân Việt Nam trong nước có tự do thật sự.

Dương Danh Huy nói: “Một người ở nước ngoài, dùng hay không dùng tên giả, phê phán chính quyền nặng nề, không vì thế mà là người can đảm, vì hầu như không có hệ quả nào làm cho người đó rụng cọng lông nào.”

Chỉ những ai hoàn toàn vô cảm, vô tâm, và không hề nghe, không hề biết đến những cái giá khủng khiếp mà những người vượt biển đã đánh đổi để tìm tự do, thì mới có thể cho rằng lời phê phán của những người vượt biển đối với chính sách đàn áp tự do của chế độ độc tài CSVN là những lời nói dễ dàng, không cần can đảm, của những kẻ thảnh thơi sống ở nước ngoài, không ai làm rụng một cọng lông!

Xin thưa rằng: Đại đa số những người Việt Nam sống ở nước ngoài đã không đi nhẹ nhàng bằng máy bay từ Việt Nam. Trái lại, đại đa số họ đã trải qua những thử thách của ngục tù và cái chết để giữ lấy niềm tin về tự do, thông điệp về tự do của mình. Hàng trăm ngàn người đã vĩnh viễn mang theo niềm tin ấy, thông điệp ấy vào lòng biển cả. Nói đơn giản hơn: Đừng cho rằng vì họ đang sống ở nước ngoài, chính quyền CSVN trong nước không thể trừng phạt họ, nên họ mặc sức mà phê phán! Nên nhớ rằng: niềm tin về tự do của họ đã được bảo chứng bằng sự dũng cảm đương đầu trước ngục tù và cái chết.

Ở nước ngoài, có những người dùng tên thật của mình để phê phán chính quyền CSVN. Có những người phải dùng bút danh, vì nếu không thì thân nhân của họ còn ở quê nhà sẽ chịu đựng sự trừng phạt của chính quyền ấy, hoặc bản thân họ sẽ có thể không bao giờ còn cơ hội quay về để nhìn mặt những người thân yêu của mình nữa.

Ở điểm này, việc ông Dương Danh Huy đặt ra vấn đề người Việt ở nước ngoài dùng tên thật hay “tên giả“ để “phê phán chính quyền nặng nề“ càng chứng tỏ sự vô cảm của ông trước những kinh nghiệm và thử thách khủng khiếp mà đồng bào tỵ nạn đã dũng cảm đương đầu và vượt qua.

Chí ít, về việc sử dụng “tên giả”, chắc chắn ông cũng thừa biết là có bao nhiêu những nhà tranh đấu, những nhà cách mạng đã sử dụng bí danh, thậm chí có người đã sử dụng hàng chục bí danh, tùy theo những trạng huống khác nhau, nhưng hoàn toàn không phải vì họ không can đảm.

Còn cái việc “phê phán chính quyền nặng nề“, thì đối với những tội ác và sự sai lầm của chính quyền ấy, phải phê phán như thế nào để không “nặng nề”?

Thưa ông Dương Danh Huy,

Ông lý luận về sự can đảm và sự hèn nhát. Vậy thì theo ông, ai can đảm và ai hèn nhát? Những kẻ sử dụng vũ khí và bạo lực để đàn áp cuộc sống, cướp đoạt tài sản, tiêu diệt tự do của người dân, là những kẻ can đảm hay hèn nhát? Những nạn nhân tuyệt vọng, không một tấc sắt trong tay, nhưng không chấp nhận sống nhục nhã đau đớn như một bầy sinh vật bị giam cầm trong chuồng, nên đã bất chấp cái chết để vượt biển đi tìm tự do, và để một ngày nào sẽ trở về xây dựng lại quê hương, là những kẻ can đảm hay hèn nhát? Những người vượt biển thoát chết, sống đời lưu vong nhưng không ngừng tranh đấu cho tự do của nhân dân Việt Nam, là những kẻ can đảm hay hèn nhát? Những người thoải mái được phép đi máy bay ra nước ngoài, học hành thành đạt, rồi ở lại nước ngoài để hưởng tự do, sống sung sướng, nhưng vẫn ủng hộ và bênh vực cho chế độ độc tài ở Việt Nam, và không hề lên tiếng khi thấy đồng bào trong nước bị tước đoạt tự do và quyền làm người, là những kẻ can đảm hay hèn nhát?

© 2009 Vương Thế Lan

© 2009 talawas blog

Bình luận

47 Comments (bài “Vương Thế Lan – Ai bỏ chạy? Ai hèn nhát?”)

  1. Trương Nhân Tuấn viết:

    Đã có (nhiều) người trên đây nói rằng ông Phạm Quang Tuấn chỉ ăn vỏ chứ không bao giờ ăn bánh. Tôi có kiểm lại, thật vậy, các bài viết và các góp ý của ông trên Talawas đều bàn về «vỏ», cãi cọ trên một vài chi tiết (vỏ) của một bài nào đó, chứ không hề nói về chủ đề (bánh) mà trong bài chủ tác giả đã nói. Có người thách thức ông PQ Tuấn nên viết một bài cho ra hồn. Đến nay dài cổ người ta chưa thấy ông PQ Tuấn có bài nào!

    Trong góp ý này cũng thế, ông PQ Tuấn chỉ ăn vỏ.

    Ở đây, các bài chủ của các tác giả Dương Danh Duy và Vương Thế Lan nói về «trí thức, hèn nhát và can đảm». Góp ý vừa qua của tôi nói về một trường hợp điển hình về can đảm. (Và sẽ nói trường hợp điển hình về sự hèn nhát trong góp ý tới.)

    Trường hợp ông Dương Danh Huy, dám công khai phản đối (hay có lập trường khác) với lập trường của Việt Nam về Biển Đông là một hành động can đảm. Ông Huy là một người (rất) can đảm.

    Riêng về bố ông là Dương Danh Dy, ông này cũng rất can đảm, dám bật mí các bí mật chết người của Đảng CSVN (vừa qua trên RFA) mà từ trước đến nay không ai dám nói.

    Hai cha con vị này (Dương Danh Dy và Dương Danh Huy) đều là các gương mặt của công chúng. Hai ông đã có các tuyên bố trước công chúng, mọi người đều có quyền phê bình các tuyên bố (trước công chúng) của hai ông này.

    Rõ ràng tôi đang «ăn bánh». Nhưng theo thói quen ông PQ Tuấn chỉ ăn vỏ.

    Tôi có lời khuyên Ông PQ Tuấn: nếu không phản biện được thì nên im lặng. Trên võ đài, đánh không lại thì xin thua, đó là can đảm. Thái độ «mách bu» (nhiều lần) lên ban BBT Talawas của ông chỉ cho mọi người thấy thái độ nông nổi, con nít của ông mà thôi.

    Làm người lớn đi ông Phạm Quang Tuấn.

  2. Hoà Nguyễn viết:

    “Tôi nghĩ ông Dương Danh Huy có lý khi gọi (đại đa số) người vượt biên là “bỏ chạy”.” (Nguyễn Thi).

    Tôi nghĩ ông Dương Danh Huy không có nhiều lý lẽ khi nói như thế, và đây là cách nhục mạ của một số người đối với những người VN đào thoát ra khỏi VN năm 1975, hay đã vượt biên sau đó, và làm đơn tự nguyện qua Mỹ sống sau khi bị tù cải tạo từ ba đến trên 10 năm. Sở dĩ họ bỏ nước, bao gồm bỏ người thân (có khi là vợ con), nhà cửa, tài sản, sự nghiệp, để ra đi là vì họ không muốn sống dưới kiềm kẹp của chế độ cực kỳ độc đoán, với cách điều hành kinh tế, đời sống cực kỳ ngu muội, và không biết chút gì về giá trị của cuộc sống văn minh, đồng thời sẵn sàng chà đạp nhân phẩm con người.

    Không phải vì bị Mỹ cấm vận mà chính phủ VN lúc đó đánh phá những người có tiền của , chiếm đoạt nhà cửa, đất đai, phương tiện làm ăn của họ, rồi đẩy họ đi vào những vùng đất khô cằn, đầm lầy, phèn chua, mà trước đó không trồng trọt được gì, không có trường học, bệnh viện hay tiện nghi văn minh nào. Dùng dao mác chém lại cán bộ cưỡng bức họ lúc đó, tôi có nghe nói một trường hợp. Nhưng ai cũng biết đó là việc làm chỉ gây thiệt thân (tất nhiên bị xử tử), thân nhân càng bị trù giập, mà không đem lại ích lợi gì.

    Cho nên vượt biển bỏ đi là để chứng tỏ họ không chấp nhận chế độ đó, không hèn đến đổi chịu khuất nhục sống chung với những kẻ đàn áp, cướp đoạt họ khi còn có thể chọn cách sống khác. Nhất là bằng sự phản kháng quyết liệt nhất mà không gây tai hại nhiều nhất cho bản thân, họ tố cáo trước thề giới bên ngoài về bộ mặt thật của chế độ đó. Và sự tố cáo này tỏ ra có hiệu quả, khiến nhiều kẻ gọi là phản chiến, nhiều nước từng ủng hộ CSVN trước kia đã thay dổi thái độ. VN càng bị cô lập, suy yếu, và sau cùng bắt buộc phải tự thay đổi nhiều mặt. Chắc có một phần sự thật khi nói có lẽ nhờ vậy mà VN có được bộ mặt như ngày nay; chẳng hạn riêng quà cáp, thuốc men, tiền bạc họ gửi về đã nuôi sống được hàng triệu người trong nhiều năm và giúp vốn thân nhân đề bắt đầu lại sư nghiệp đã mất ( nên dễ thấy miền Nam nơi vượt biên nhiều đã thay đổi nhiều hơn và trước miền Bắc). Chính vì vậy, những người VN tỵ nạn đến bây giờ vẫn còn có vẻ bị thù ghét, ít ra là “không ưa”.

    Nhưng không phải là nói vơ vào để bao gồm nhiều người cũng sống ở ngoài này, mà thuộc vào trường hợp khác. Có những người du học trước 1975, rồi ở lại không về, và sau đó bảo lãnh gia đình, bà con xa gần ra nước ngoài. Họ có cái nhìn khác về VN và đất nước họ đang sống. Đương nhiên họ không có gì để bị gọi là can đảm hay hèn nhát. Họ không can dự vào chiến tranh ở VN, nên tay không vấy máu, không bị bôi bẩn gì (chả phải là cộng, cũng chả là ngụy). Và cũng dễ hiểu khi họ cho những người tỵ nạn chính trị bằng cách vượt biên là “bỏ chạy”, hèn nhát, hay cũng chẳng có gì là can đảm. Thật ra, chắc không ai trong những người vượt biên tự nhận mình là can đảm, chỉ một số người (ngoại quốc)bên ngoài nhìn họ mà nói thế thôi. Chỉ thấy họ làm được những điều nhiều người khác không làm được (để có đời sống tốt hơn).

  3. Đỗ Kh. viết:

    Không rõ là Nữ hoàng Anh có phát biểu gì về sự dũng cảm của một phụ nữ thuyền nhân như ông Trần Văn Tích phong thanh. Có lẽ đây là ông nghe về sự dũng cảm của cô Trần Huệ Huệ, người sống sót duy nhất trên một chuyến tàu vượt biên mắc cạn ở một hải đảo và đã được Đại tá Peter Townsend thuật lại trong “The girl in the white ship” (Người thiếu nữ trên con tàu trắng), 1981.

    http://www.alibris.com/search/books/isbn/0002167263

    http://www.amazon.fr/s/ref=nb_ss_w?__mk_fr_FR=%C5M%C5Z%D5%D1&url=search-alias%3Daps&field-keywords=La+rescapee+du+bateau+blanc+%2F+histoire+de+tran+hue+hue+dans+la+tragedie+des+boat-people+vietnamiens+&x=0&y=0

    Đại tá (Group Captain) Townsend là anh hùng của Không lực Anh thời Thế chiến thứ 2 và liên hệ của ông với Hoàng gia là cuộc tình trắc trở và hôn nhân bất thành của ông với Công chúa Margaret là em của Nữ hoàng Elizabeth Đệ nhị.

    Cô Trần Huệ Huệ không rõ là về sau định cư ở đâu?

  4. Tôn Nguyễn viết:

    Là những người sống ở miền Nam trước 75 sau đó gia đình tôi cũng ráng trụ lại hơn chục năm sau với hy vọng cuộc sống sẽ bằng hay tốt hơn trước…

    Nhưng rồi thất vọng vì đói khổ, vì ngăn sông cấm chợ, vì cuộc sống bấp bênh, bị rình rập, xăm soi từng li từng tí. Ngu dốt lên nhanh từng bước, đạo đức xuống cấp từng ngày. Điều đáng buồn hơn là mình bị chính những người cùng huyết thống lúc nào cũng xem mình như kẻ thù không đội trời chung, con cái bị kỳ thị muốn học hành đàng hoàng cũng không xong…

    Biết làm sao hơn, thôi thì ai muốn nói gì thì nói gia đình đành khăn gói ra đi, đành làm những kẻ “bỏ chạy” đến những xứ sở xa lạ, ít nhất nơi đó người ta không xem mình là kẻ thù, có công ăn việc làm không cần lý lịch chính trị, con cái được học hành thoải mái đến nơi đến chốn…

  5. Phạm Quang Tuấn viết:

    Tại sao lợi dụng một chuyện không dính dáng gì để lôi chuyện Biển Đông với tên họ người khác ra nói? Bác Trương Nhân Tuấn này thấy nhỏ mọn và hèn quá. Coi bộ talawas chịu thua chuyện giữ trình độ rồi. Viết kiểu TNT không những không “trí thức” mà còn kém mức trung bình xã hội rất xa.

  6. T. Phan Binh An viết:

    Vấn đề lên tiếng của trí thức là một vấn đề rộng lớn, tuỳ thuộc và sự chọn lựa của mỗi người về đề tài, về hiệu quả mà mình mong muốn tác động vào thực tế. Ở đây không có sự tất yếu phải lên tiếng về một đề tài nào đó mà nếu im lặng thì bị kết tội một cách tổng quát là “đồng loã, thiếu lương tâm, hay phản bội”.

    Riêng trong chuyện tố cáo những chính quyền không tôn trọng tự do chính trị thì đó là thách thức của những con người phải sống dưới sự cai trị của những chính quyền ấy và can đảm hay không chỉ là chuyện của những người này. Trong hoàn cảnh đó lên tiếng mạnh mẽ về tự do (kể cả dân chủ) có thể là can đảm nhưng phát biểu nhẹ nhàng, gián tiếp chưa hẳn là hèn nhát.

    Còn đối với những người đã “bỏ chạy” đi nơi khác, sự lên tiếng về tự do có thể diễn ra với nhiều lý do, nhưng bây giờ sẽ không còn mang ý nghĩa hèn nhát hay can đảm nữa vì lẽ tất cả đã không còn là nạn nhân trực tiếp của những chính quyến ấy nữa .

    Tôi nghĩ trên đây là tất cả những gì mà Dương Danh Huy muốn trình bày nhân đọc một bài viết trên talawas.

    Hoàn toàn không đặt ra đề tài đánh giá là can đảm hay hèn nhát việc những người bỏ nước ra đi dưới nhiều hình thức, với nhiều mục đích khác nhau, để vội vã dựa vào đó tái lập những suy diễn, quy chụp ấu trĩ, dễ dãi như rất thường xảy ra bấy lâu nay trên diễn đàn này.

  7. Nguyễn Thị viết:

    Có thật đại đa số những người vượt biên là đi tìm tự do không? Nếu hồi đó đời sống kinh tế VN được như bây giờ có chừng đó người vượt biên không? Tôi ngờ lắm. Bằng chứng là bây giờ người ta không có ồ ạt vượt biên như hồi đó. Tôi nhớ hồi đó:

    – Kinh tế hậu chiến kiệt quệ

    – Việt Nam bị cấm vận (Mỹ cấm vận là trước hết)

    – Những hứa hẹn và “thiên đường” sống của Mỹ và Tây Âu mời mọc và vẫy gọi (không có mấy những người đói tự do đến một xứ sở tự do như gió trời là Thái Lan hay Indonesia…), những bức ảnh đứng bên cạnh cái xe hơi gửi về VN thiệt là nhiều.

    Tôi nghĩ ông Dương Danh Huy có lý khi gọi (đại đa số) người vượt biên là “bỏ chạy”.

  8. Trương Nhân Tuấn viết:

    Tác giả Vương Thế Lan viết bài này làm «hả hơi» nhiều người. Xin cám ơn tác giả. Nhưng cũng xin được lên tiếng bênh vực ông Dương Danh Huy.

    Nếu hiểu can đảm là dám chống (hay nói khác) chủ trương của nhà nước thì tôi cho rằng ông Dương Danh Huy là một người rất can đảm. Tôi thấy ông DD Huy có ít nhất hai lần «can đảm»:

    1/ Ông Huy chống lại chủ trương «đường cơ bản» của Việt Nam:

    Đường cơ bản ở đây là đường từ đó tính chiều rộng của lãnh hải. Đường cơ bản của Việt Nam được qui định theo Tuyên bố 1982, khẳng định lại qua Hồ sơ thềm lục địa mở rộng, nộp chung với Mã Lai, ngày 6 tháng 5 năm 2009.

    Theo ông Huy thì đường cơ bản của VN không phù hợp với Luật biển 1982. Nhiều lần ông đã lên tiếng về việc này, kể cả trên báo chí trong nước (lần chót ngày 9-6-2009).

    Lập trường của ông Huy về đường cơ bản rõ ràng trái ngược với lập trường của VN (và đi ngược với quyền lợi của VN).

    2/ Ông Huy nói khác chủ trương của nhà nước về hải phận của các đảo thuộc Hoàng Sa (và Trường Sa).

    Theo Luật Biên giới Quốc gia 2003 thì Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam. Hiện nay VN chưa có bộ Luật Biển, do đó các việc liên quan đến đảo và biển sẽ qui chiếu về các Tuyên bố của VN về biển, đảo năm 1977 và 1982.

    Về hải phận (lãnh hải và vùng kinh tế độc quyền ZEE) của các đảo HS, qua tuyên bố mới đây của ông Lê Dũng, phát ngôn nhân nhà nước trong các vụ ngư dân VN đánh cá bị Trung Quốc bắt giữ, thì ngư dân VN đánh cá trong các ngư trường của VN.

    Điều này cho thấy phía VN khẳng định chủ quyền của VN tại các đảo thuộc Hoàng Sa và vùng biển (ZEE) của nó, phù hợp với các tuyên bố trong quá khứ.

    Ông Dương Danh Huy thì đề nghị phân chia Biển Đông theo «trung tuyến» và bỏ qua việc tranh chấp các đảo một bên. Đặc biệt, ông Huy chủ trương các đảo không có hiệu lực ZEE. Ông Huy có các bài về chủ trương này đăng trên các mạng trong nước (Tuần Việt Nam).

    Nếu chia theo phương pháp của ông Huy thì các ngư trường truyền thống của VN tại Hoàng Sa ở về phía Trung Quốc.

    Ở điểm này cũng vậy, lập trường của ông Huy không giống với lập trường của Việt Nam (và đi ngược lại quyền lợi của VN).

    Qua hai thí dụ trên tôi cho rằng ông Dương Danh Huy là một người rất can đảm. Can đảm vì dám nói khác nhà nước (ngay tại trong nước). Ai dám làm việc này? Hành động này cũng chứng tỏ báo chí VN có tự do đấy! Nói khác nhà nước mà có ai dám làm gì đâu?

    Đúng là «hổ phụ sinh hổ tử», cha nào thì con nấy. Bố ông Huy, ông Dương Danh Dy cũng đã rất can đảm. Ông dám «bật mí» về các bí mật của Đảng CSVN. Qua đài phát thanh RFA hôm đầu tháng 7, ông Dy cho đồng bào Việt Nam biết là Đảng CSVN đã có nhiều «hứa hẹn» với Trung Quốc về Biển Đông.

    Đúng là tin giật gân, nhưng ông Dy chỉ «bật mí» bây nhiêu và ngừng ở đó.

    Nhưng bấy nhiêu cũng đủ «chết» Đảng CSVN rồi!

    Hoan hô nhà họ Dương Danh.

  9. Dương Danh Huy viết:

    Bác Trần Văn Tích và Vương Thế Lan,

    Tôi nhớ đại khái rằng khi phong trào vượt biển xẩy ra, tôi được nghe chuyện (hình như do BBC loan truyền) một phụ nữ Việt Nam vượt biển và đến được nước Anh. Bà được nữ hoàng tiếp và khen ngợi là người phụ nữ can đảm nhất thế giới. Ông Dương Danh Huy trưởng thành ở nước Anh, như vậy ông ở Anh đã lâu, chẳng rõ ông có nghe chuyện này không?

    Trong bài “Trí thức nên im lặng hay lên tiếng”, bác VTL bảo rằng không lên tiếng là hèn nhát (among other things, nhưng có bao gồm hèn nhát).

    Vậy tôi hỏi lại 2 bác:

    Giả sử có một phụ nữ Việt Nam vượt biển như người phụ nữ bác TVT nói tới, là trí thức, và bây giờ “không lên tiếng”.

    Khi bác VTL bảo không lên tiếng là hèn nhát, thì có bao gồm người phụ nữ ấy không?

    Nếu không bao gồm thì mệnh đề “không lên tiếng là hèn nhát” là sai (ít nhất là trong trường hợp này).

    Nếu bao gồm thì bác VTL đã bảo là người phụ nữ đó là hèn nhát.

    Lưu ý là tôi đề nghị các bác dè dặt về việc gọi người khác là hèn nhát chứ tôi không ủng hộ việc gọi bất cứ ai là hèn nhát cả.

    Bác VTL và một số bác khác đọc bài của tôi, hiểu đúng thì ít mà hiểu sai thì nhiều.

    Thật ra trong bài viết tôi đã liệt kê và nói về những khía cạnh mà bác VLT đã nói tới

    •Im lặng là đồng loã
    •Im lặng là chịu thua
    •Im lặng là hèn nhát, thiếu lương tâm
    •Im lặng là phản bội

    Nhưng bác VTL đọc bài đó vẫn tưởng “Đồng thời ông gạt hết những ý về sự đồng lõa, chịu thua, thiếu lương tâm và phản bội.”

    Ngay cả tôi nói gì, không nói gì về hèn nhát/can đảm, bác VTL và một số bác khác cũng không hiểu.

    Nói đại khái, điều tôi nói là việc lên tiếng hay không lên tiếng của một người ở nước ngoài không là bằng chứng đủ để phán người ta là can đảm hay hèn nhát (như một số người trong nhóm 3 chê người trong nhóm 4 là hèn nhát).

    Và điều tôi nói là có lẽ nên dè dặt khi chê người khác hèn nhát.

    Nói đại khái, các bác có đồng ý không? Hay là các bác muốn rằng nhóm 3 nên tha hồ chê nhóm 4 là hèn nhát, không cần dè dặt?

    Đó là nói đại khái, nếu các bác còn thắc mắc thì khi bào có thì giờ tôi sẽ giải thích cặn kẽ.

  10. Vũ Quang Khải viết:

    Cái “triết lý” chung chung ấy của bác Nhỏ Thanh thì ai mà chả biết. Bác nói thì quả là đúng nhưng không khéo làm loãng vấn đề. Bàn chuyện can đảm hay hèn nhát như bác là chỉ ở cấp độ tâm lý cá nhân thôi. Tác giả Vương Thế Lan thì đưa ra vấn đề ở cấp độ khác.

  11. lephudien viết:

    Tôi thấy tác giả miêu tả những người VN tỵ nạn như những người dũng cảm nhất trần gian.

    Tôi không phủ nhận những đau thương, mất mát mà người di tản đã chịu đựng, nhưng tôi thấy khó chịu khi nhiều người viết lợi dụng điều đó để thích nói gì thì nói, và hễ người khác phê phán thì đem điều ấy ra để che đậy, cũng như những người CS trong nước đem hào quang quá khứ (nếu có thể coi nó là hào quang) của mình để biện hộ cho những sai trái của mình.

    Tôi lấy một ví dụ khác: nếu nói về lòng can đảm thì một người trực tiếp cầm súng ra trận chống một kẻ thù mạnh hơn rất nhiều lần (ở đây tôi không bàn về chính kiến là đúng hay sai) trước kia có can đảm không? Nếu người đó bây giờ phê phán chính quyền một cách dè dặt thì theo ông Lan cũng là hèn nhát?

    Bàn về ông Dương Danh Huy, tôi thấy ý kiến của ông cũng hao hao giống ý của Chomsky khi được phỏng vấn về chuyện tại sao ông lại phê phán nhiều chính sách của chính quyền Mỹ, đại loại như sau: nếu một trí thức ở Nga phê phán phương Tây thì chẳng thiệt hại gì, cũng như một trí thức ở phương Tây phê phán Nga. Nhưng những người ở Nga phê phán chiến tranh Afghanistan thì đấy mới là dũng cảm. Và trách nhiệm của trí thức là phê phán establishment mà họ đang sống.

    Xin trở lại với ông Lan và nhiều bài viết gần đây về trí thức. Tôi thấy mọi người có vẻ quên một đặc tính rất quan trọng của trí thức là “hoài nghi”. Tôi cho rằng đấy là một điểm quan trọng, gần như là mấu chốt. Có hoài nghi về chuyện mặt trời quay quanh trái đất thì Copernicus mới tìm ra điều ngược lại.

    Tôi thấy mọi người đi sâu vào chuyện: “làm thế này thì hèn nhát, và làm thế kia thì không hèn nhát”, trong khi đấy thực là một điều không cần thiết. Tôi cho rằng một trí thức thực thụ không cần nhiều đến tiếng vỗ tay. Quan trọng là mình muốn điều gì và bằng cách nào để đạt đến điều đó. (Trong truờng hợp này là: dân trí mình được nâng cao hơn, dẫn đến quyền lợi của dân cũng được tôn trọng hơn…)

    Và tôi cũng nghĩ, một trí thức chân chính cũng phải tự biết hoài nghi về mình: mình có thành thực với mình không, những điều mình làm có thực sự là quan điểm trí thức của mình hay chỉ do quyền lợi của mình.

    Ví dụ: đối với người “phê phán ít” thì người ấy sẽ phải tự hỏi: mình “phê phán ít” thực sự vì quyền lợi của người dân VN hay là do mình còn quyền lợi ở VN,…? Đối với người “phê phán nhiều” thì người ấy sẽ phải tự hỏi: mình “phê phán nhiều” thực sự vì quyền lợi của người dân VN hay là do chỉ vì mình căm thù chính quyền. Và câu hỏi đấy nên đặt ra cho mình trước khi đi phê phán người khác.

  12. Nhỏ Thanh viết:

    Đã hèn thì dù ở lại hay bỏ chạy vẫn hèn.
    Đã can đảm thì dù ra đi hay ở lại vẫn can đảm.
    Ranh giới giữa can đảm và hèn thật mong manh. Có những người tưởng hèn nhưng rất can đảm và ngược lại có những người tưởng rất can đảm nhưng rất hèn.
    Cùng là một người nhưng có lúc rất hèn, có lúc lại rất can đảm.
    Biết vậy. Nhưng chỉ mong đừng ai hèn suốt đời. Con giun xéo lắm phải quằn mà.
    Cũng biết vậy, mà sao vẫn có người cả đời can đảm nhưng đến lúc sắp chết lại rất hèn.
    Vân vân… Ôi, cái sự can đảm và hèn, thật là khó nói lắm thay.

  13. Trần Văn Tích viết:

    Tôi nhớ đại khái rằng khi phong trào vượt biển xẩy ra, tôi được nghe chuyện (hình như do BBC loan truyền) một phụ nữ Việt Nam vượt biển và đến được nước Anh. Bà được nữ hoàng tiếp và khen ngợi là người phụ nữ can đảm nhất thế giới. Ông Dương Danh Huy trưởng thành ở nước Anh, như vậy ông ở Anh đã lâu, chẳng rõ ông có nghe chuyện này không?

  14. vantruong viết:

    Thế là quá rõ.

    Mấy bữa trước cứ thắc mắc mãi đường đường một đấng chủ tịch nước đỉnh cao trí tuệ có “nông đờ ghe” là Sáu Phong mà yếu xìu nói hổng có phong gì hết trơn ráo trọi: “Trời ơi, tôi làm vậy nó đập tôi chết!”.

    Mà hổng biết thằng nào sợ thằng này hè?

    Bá phát, bá phát. Cám ơn bác Vương Thế Lan.

  15. Hoàng Trường Sa viết:

    Góp ý của tôi cho bài này của tác giả Vương Thế Lan: Cám ơn! Cám ơn! Cám ơn!

    “Những người thoải mái được phép đi máy bay ra nước ngoài, học hành thành đạt, rồi ở lại nước ngoài để hưởng tự do, sống sung sướng, nhưng vẫn ủng hộ và bênh vực cho chế độ độc tài ở Việt Nam, và không hề lên tiếng khi thấy đồng bào trong nước bị tước đoạt tự do và quyền làm người, là những kẻ can đảm hay hèn nhát?” (trích lời tác giả Vương Thế Lan)

    Câu trả lời của tôi tạm mượn câu nói quen thuộc: “Hỏi tức là đã trả lời”.

1 2 3 4
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>