talawas blog

Chuyên mục:

Jutta Scherrer – Đánh mất cái Tôi

05/08/2009 | 1:15 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Jutta Scherrer – Đánh mất cái Tôi

Tác giả: Dũng Vũ

Category: Lịch sử, Tư tưởng
Thẻ: > >

Dũng Vũ dịch

Tại nước Nga trong một phần ba cuối cùng của thế kỷ 19, khi khái niệm “trí thức” xuất hiện, nó chẳng bao giờ trùng hợp với sự hiểu biết của chúng ta về một giai cấp có học. Thực ra nó thể hiện một cộng đồng nhân sĩ tự cảm thấy mình có trách nhiệm đối với quần chúng thiếu học và thụ động, hoặc phải cải cách toàn diện chế độ độc tài Nga, hoặc phải lật đổ nó bằng cách mạng.

Sự hiện đại hóa nước Nga – cũng từ đó mà số nghề nghiệp trí óc tăng theo – đã tạo nên một giới xã hội trí thức ngày càng thiếu đồng nhất. Dẫu vậy, đối với nhiều giai cấp, những ý tưởng phê phán luân lý xã hội từ phía trí thức cấp tiến đã có tác dụng tới dư luận quần chúng. Khi những đảng phái chính trị đầu tiên mới ra đời, lớp trí thức là cái loa của nó, trong Đảng Dân chủ Xã hội của công nhân, trong Đảng Cách mạng Xã hội của nông dân, trong Đảng Dân chủ Lập hiến của tầng lớp trung lưu. Lenin gọi dân trí thức Đảng Bolshevik của ông ta là “những nhà cách mạng chuyên nghiệp”.

Suốt một thời gian dài, sử liệu Tây phương vẫn hiểu cuộc Cách mạng tháng Mười đại để là sản phẩm của giới trí thức cách mạng cấp tiến. Nhưng thực ra, kể từ sau cách mạng 1905 [1] trở đi, không khí đổi mới đã thỏa mãn xã hội: Văn nghệ sĩ, triết gia đã chuyển tải kỳ vọng của mình vào ngôn ngữ khải hoàn, cứu rỗi. Hầu như ai cũng mong sự sụp đổ trật tự cũ sẽ xảy ra và xem đó là điều kiện cho một thời đại mới: sự ra đời của một nước Nga mới. Cho nên cuộc Cách mạng tháng Hai [2] đã được giới trí thức khắp nơi chào đón.

Ðối với người hoạt động văn hóa, điều đó có nghĩa là quyền tự do không giới hạn và chủ nghĩa cá nhân. Nhưng cả giới trí thức khoa học kỹ thuật trung hòa lẫn đại diện ngành nghề cũng đồng loạt chào đón sự giải phóng khỏi cái nề nếp của một nhà nước độc tài đáng ghét. Ý tưởng và hy vọng đã trào ra như một dòng nham thạch trên đất nước cách mạng Nga. “Trong sáng như ánh mắt ban đầu của tình yêu”, nữ thi sĩ trường phái lãng mạn Zinaida Gippius đã mô tả những ngày đầu cách mạng tháng 2 như thế. Còn thi sĩ Vladimir Mayakovsky thì hoan hỉ: “Chúng ta sẽ kiến tạo một cuộc sống mới – xuống tới cái cúc áo cuối cùng của chiếc áo veston”. Triết gia Nikolai đã chào đón “trường hợp đế quốc Nga linh thiêng”. Bây giờ mọi thứ xem ra đều được cả.

Ngược lại, cuộc cướp chính quyền của Bolshevik tám tháng sau đối với phần đông trí thức có nghĩa là sự mất mát tự do vừa giành được trong Cách mạng tháng Hai. Nó thể hiện sự tàn phá man rợ và hủy hoại địa vị xã hội người trí thức qua cái đói, bệnh thương hàn và thiếu chất đốt trong mùa đông lạnh giá của nước Nga.

Alexander Blok thuộc số ít những thi sĩ tiêu biểu, trong Cách mạng tháng Mười, đã hoan hô sự bứng gốc thế giới cũ và ngày tàn của “bãi chiến trường Âu châu”. Trong bài viết “Trí thức và cách mạng”, ông tuyên bố, cho tới nay người trí thức mới đóng vai nữ tiên tri của cuộc cách mạng – còn bây giờ thì phải chấp nhận nó. Còn trong bài thơ “Mười Hai” nổi tiếng của Blok: Chúa đã bước qua hàng Vệ binh Ðỏ, như thể muốn biến cách mạng thành Nước Chúa dưới trần gian vậy.

Các thi sĩ trường phái lãng mạn như Andrei Bely hoặc Valery Bryusov cũng hiểu cuộc cách mạng là biểu hiện chuyển đổi luân lý và tôn giáo sang một xã hội mới mang tính xã hội chủ nghĩa. Trong bài thơ “Chúa sống lại” của Bely vào tháng 5.1918, sự phục sinh và cứu rỗi đã gắn liền với Cách mạng tháng Mười: Nga là một quốc gia được tuyển lựa, bởi nơi đây đã thỏa tính huyền bí của địa cầu. Ngoài ra động lực cách mạng cũng gợi cho nghệ thuật tạo hình phái tiền vệ những chủ đề phục sinh.

Pierre Pascal, cựu tùy viên quân sự phái bộ Pháp tại Petrograd, sau này là giáo sư chuyên ngành dân tộc học Slavistics thuộc Đại học Sorbonne, đã mô tả trong nhật ký của mình: trong những tháng sau tháng Mười, sự mong đợi Chúa cứu thế khải hoàn và lòng tin vào sự bình đẳng cộng sản lẫn tình anh em đã gắn bó với giới trí thức và người dân như thế nào: “Nhân dân là cách mạng bởi họ là con Thiên Chúa – tương lai sẽ lôi cuốn nước Nga thánh thiện mà không cần nghĩ ngợi”. Khúc quanh lìa bỏ quan niệm trước nay về tài sản, tổ quốc, xã hội và văn hóa được chấp nhận, vì chúng đã gắn bó với sự kỳ vọng vào cách mạng. Cả dân trí thức đứng bên bờ vực chính kiến đối nghịch cũng gắn hình ảnh cứu rỗi thần bí với Cách mạng tháng Mười: Họ nhìn thấy trong đó có kẻ phản đạo và một bi kịch tôn giáo. Ðối với những nhà văn “biểu tượng” như Dmitry Merezhkovsy, nó (cách mạng) là tội tông truyền: “Sự phục sinh nước Nga chỉ đến sau ngày tàn Bolshevik”, ông tin là vậy. Trong một tuyển tập, dân triết học như Nikolai Berdyaev đã đổ trách nhiệm cho chủ nghĩa vô chính phủ của giới trí thức về cuộc Cách mạng tháng Mười.

Ngược lại, giới vị lai chủ nghĩa và tạo dựng đòi hỏi sự chia tay truyền thống văn hóa dân tộc. Ðối với họ cuộc cách mạng có nghĩa là sự hoàn toàn tự trị của nghệ thuật, sự giải thoát khỏi mọi giáo điều. Ðối với họ, cuộc đảo chính tháng Mười mang ý nghĩa cách mạng nghệ thuật của họ hơn là cách mạng chính trị của Lenin. Ðối với họ, nghệ thuật là phương tiện biến đổi hoàn toàn cuộc sống.

Vô số nghệ sĩ đã hiến thân cho chế độ mới, chẳng hạn, Anatoly Lunacharsky xin giữ chức vụ ủy viên nhân dân đặc trách giáo dục [3]: Nghệ thuật phải phục vụ “sản phẩm mới của con người”. Bằng nghệ thuật quần chúng trong quá khứ, nghệ thuật mới phải đột phá. Osip Brik, một người bạn của Vladimir Mayakovsky và lý thuyết gia của chủ nghĩa vị lai đã đòi hỏi vậy, “Nghệ thuật sẽ trở thành vô sản hay sẽ chẳng bao giờ có nghệ thuật”.

Họa sĩ Kazimir Malevich, thi sĩ Mayakovsky, các đạo diễn Vsevolod Meyerhold và Sergei Eisenstein – tất cả đều thể hiện cuộc thí nghiệm cách mạng. Thuộc về đó là những cảnh dàn dựng vĩ đại tại các quảng trường Petrograd, Mạc Tư Khoa; kịch tuyên vận, sự vinh danh người vô sản, thơ cổ động lãng mạn, biểu ngữ, thiết kế tuyên truyền, đoàn văn công; tất cả các thứ trong thời nội chiến đã được đẩy ra ngoài mặt trận để cổ vũ Hồng quân đánh thắng Bạch quân. Một không khí vô cùng sôi nổi đã chụp lấy nhiều nghệ sĩ. Một Mayakovsky để được quần chúng hâm mộ, phải nhờ đến thi sĩ nông dân Sergei Yesenin, là người đã đi theo cách mạng với hy vọng được cứu rỗi. Ðối với Yesenin, cuộc cách mạng trước hết có nghĩa là sự chiến thắng của nông dân. Sau khi nhà thơ quá thất vọng, ông đã tự kết liễu đời mình vào năm 1925 [4].

Suốt khoảng thời gian nội chiến khủng khiếp nhất từ 1918 đến 1920, nhóm tiền vệ đã cùng cách mạng bước vào một cõi cộng sinh đầy hiệu quả. Những thí nghiệm ca ngợi cách mạng chỉ nẩy mầm như thế từ mặt đất. Cho dù chết đói, bệnh thương hàn, khủng bố tràn ngập giữa cuộc chiến khốc liệt, những ảo tưởng liều lĩnh nhất vẫn nảy sinh. Wassily Kandinsky [5] kêu mời kiến trúc sư khắp thế giới cùng tác tạo một tòa nhà mà ông muốn đặt tên là “Ảo tưởng vĩ đại”. Biết bao giấc mơ về một thế giới đẹp đẽ hơn trông có vẻ chính đáng nhờ cái chân lý cao độ của cách mạng. Nó cũng có giá trị cho lĩnh vực lý thuyết xã hội – lúc chủ nghĩa Marx chưa bị đông cứng thành giáo điều.

Theo kế hoạch cơ sở Đảng Cộng sản vào tháng 3.1919, hai nhà kinh tế trẻ tuổi giữa giai đoạn “Cộng sản thời chiến” là Nikolai Bukharin [6] và Yevgeny Preobrazhensky đã đồng soạn cuốn Chủ nghĩa cộng sản ABC. Cuốn sách giáo khoa căn bản về chủ nghĩa cộng sản có nhiệm vụ “chuẩn bị ngày phục sinh của nhân loại”. Một triệu cuốn vừa xuất bản đã bán sạch. Ðắm chìm trong tinh thần huyền ảo lúc đó, hai tác giả tiên đoán những cơ quan thống kê sẽ nhanh chóng điều hành mọi việc nhà nước và nắm giữ vị thế chuyên chính vô sản. Cuối thập niên 30, Stalin ra lệnh hành quyết cả hai.

Bởi người Bolshevik không có một tưởng tượng rõ ràng về văn hóa sau cách mạng, cho nên họ mới thí nghiệm nhiều mô hình văn hóa và viễn tượng vĩ cuồng trong những năm đầu sau 1917. Cái mơ mộng và ảo tưởng đã cố sức kiến tạo cho bằng được một thế giới mới và con người mới. “Bức tường giữa nghệ thuật và sản xuất sẽ đổ”, Leon Trotsky – kẻ thù của Stalin sau này – đã đoán trước như vậy vào năm 1923, và: “Ðồng thời bức tường giữa nghệ thuật và thiên nhiên cũng đổ… Cuối cùng con người phải xây dựng trái đất lại từ đầu, nếu không đúng theo hình bóng của mình thì cũng đúng theo khẩu vị”.

Một trong những dự án giáo dục lớn nhất dành cho Con người Mới do phong trào hợp tác cấp tiến “văn hóa vô sản” giới thiệu được gọi là: vinh danh người vô sản. Bài bản này, Alexander Bogdanov – một thành viên Bolshevik – đã đẻ ra sau Cách mạng 1905. Mùa hè 1917, nó được thực hiện với sự cộng tác của tác giả. Năm 1921, tổ chức vinh danh người vô sản đạt được nhiều thành viên gần bằng Đảng Cộng sản (và đã là lý do khiến Lenin ra lệnh cấm nó hoạt động). Theo Bogdanov, văn hóa là dạng thể cao cấp nhất của loài người, bởi trong đó, “cái Tôi” không còn được kể đến mà chỉ còn tập thể.

Cách mạng chính trị và kinh tế phải được bổ sung thêm phần cách mạng văn hóa vô sản. Ðối với Bogdanov, cái văn hóa vô sản cần tạo dựng mới là “cái thực sự ra đời của chủ nghĩa xã hội”. Một nền văn chương vô sản, một nền khoa học vô sản, một nền triết học vô sản, chỉ những gì đi ra từ kinh nghiệm lao động tập thể và thế giới sinh hoạt của giai cấp vô sản mới là điều kiện tiên quyết để bảo vệ thành quả cách mạng một cách lâu dài, chứ đừng giao phó cho (đảng) trí thức. Nhờ Bogdanov, năm 1919, Ðại học Vô sản đầu tiên đã ra đời.

Nhân vật triệt để nhất và được mến mộ nhất thuộc nhóm ủng hộ sự vinh danh người vô sản là thi sĩ kiêm kỹ sư Aleksei Gastev. Ðối với ông, cái văn hóa vô sản từ máy móc hóa thế giới lao động trong nhà máy cho tới sự máy móc hóa động tác lao động của công nhân là một “cách mạng toàn diện của khuôn mẫu thẩm mỹ”. Năm 1920, với sự đồng ý của Lenin, Gastev thành lập một Viện Lao động trực thuộc trung ương đảm trách việc hợp lý hóa và tổ chức khoa học khâu lao động, qua đó, ông đã đem phương pháp dây chuyền Taylor của tư bản áp dụng cho phương cách sản xuất xã hội chủ nghĩa. Vô số công nhân làm khoán của cái gọi là phong trào Stakhanov đã phải làm việc không nghỉ giải lao theo bài bản của Gastev, trước khi Stalin cho xử bắn ông vào năm 1939.

Cũng thuộc vô số những phác họa vô tưởng nhằm kiến tạo “Con người Mới” trong thập niên 20 là những thí nghiệm xã hội do nhà giáo Anton Makarenko thực hiện đối với người phạm pháp vị thành niên và tù nhân khổ sai. Tương tự vậy, một ý thức hệ mới về văn hóa con người phải góp phần hoàn thiện đạo đức và giáo dục tình cảm xã hội – tất cả đều đi chung với giáo dục quân sự. Sự kiến tạo con người mới còn bao gồm những thí nghiệm về sự di truyền “gien” người vô sản; có một phòng di truyền học chuyên lo việc này. Bà Alexandra Kollontai – con gái một vị tướng thời Sa hoàng – là ủy viên nhân dân của Lenin đặc trách việc chăm lo xã hội, đã tuyên truyền về một nền “đạo đức tình dục mới của giai cấp vô sản”; nó phải kết hợp bài bản “đời sống tình dục vì tập thể” với sáng tạo tình dục theo ngẫu hứng tự nhiên của người lao động.

Sự phát triển bất bình thường của xã hội mới từ những ý tưởng và viễn tưởng hão huyền đã bị Yevgeny Zamyatin chế nhạo trong tác phẩm châm biếm xã hội My (“Chúng ta”) của mình vào năm 1920, song vì sự suy đồi của xã hội cộng sản đã được đoán trước mà hồi đó nó không được phép lưu hành tại Liên bang Xô-viết. Zamyatin đã để cái ảo tưởng tiêu cực của mình diễn ra trong một “nhà nước đại đồng” tương lai, khi bộ máy nhà nước đã chiếm hết vị trí cá nhân. Mọi thứ đều được máy móc hóa và tiêu chuẩn hóa. Con người không còn tên gọi ngoài những ký hiệu bằng số và chữ cái (nguyên âm dành cho đàn bà, phụ âm dành cho đàn ông). Zamyatin suýt chết vì một chiến dịch được chỉ thị tấn công ông nếu không nhờ sự can thiệp của Maxim Gorky vào năm 1931 cho phép ông tị nạn sang nước khác. Mãi đến năm 1988, My mới được phổ biến tại Liên bang Xô-viết.

Mặc dù sự hạn chế chính trị gia tăng, nhưng động lực sáng tạo từ lúc gọi là giai đoạn “anh hùng” sơ khai của cách mạng cho tới thập niên 20 vẫn không ngừng nghỉ: Nghệ thuật tạo hình, kịch nghệ, điện ảnh, văn học vẫn thề trung thành với những thử nghiệm cách mạng. Một nền văn hóa cách mạng đã hình thành; nó thu hút dân trí thức đến độ không sợ hội viên mình biến thành thuộc hạ mù quáng của Bolshevik. Ðối với nghệ sĩ, cách mạng có nghĩa là tiến bộ, nó nâng cao sức tưởng tượng của mình. Hơn nữa thời hậu cách mạng đang cần cái “nghệ thuật thường ngày” của họ.

Nghệ sĩ, kiến trúc sư, họa sĩ, điêu khắc gia được kêu gọi làm sao cho xã hội thấy thông điệp cách mạng. Ðể thể hiện ý tưởng này, nhiều đài tưởng niệm, cung điện công nhân, cơ sở công cộng được dựng nên, cả tem, dấu cũng có thiết kế mới. Nhiều trường mỹ thuật mới đã mọc lên ở Petrograd, Mạc Tư Khoa, Vitebsk. Những khuôn thước mới lạ đã được đưa vào ngành ấn loát, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu ngữ, nghề sành sứ. Bàn ghế, chén bát, quần áo cũng đều theo những dạng thức chưa từng thấy.

Thời gian đầu hậu cách mạng đã sản sinh nhiều tác phẩm tiền phong, như Ngọn tháp Quốc tế thứ Ba của Vladimir Tatlin 1920. Dẫu chưa từng được phép triển lãm, nhưng nó đã trở thành một biểu tượng cho chủ nghĩa tiền vệ cách mạng đối với phái tạo dựng Nga cũng như Bauhaus Ðức. Tác phẩm Hình vuông Ðen Trắng siêu marxist của Kazimir Malevich cũng được kể đến; Thiết kế kỹ nghệ và nhiếp ảnh cách mạng của Alexander Rodchenko; bích chương Ðánh Bạch quân bằng búa rìu Ðỏ của El Lissitzky; đồ vải với thiết kế cách mạng của Lyubov Popova; kiến trúc theo nhánh tạo dựng của Konstantin Melnikov.

Khó hơn nữa là phim ảnh mà Lenin xem là nghệ thuật: “cái quan trọng nhất đối với chúng ta”. Cuộc nội chiến đã tàn phá kỹ nghệ điện ảnh cách mạng Nga gần như hoàn toàn, đến độ từ năm 1918 cho tới năm 1920 chỉ còn có thể quay phim thời sự và phim tài liệu. Mãi đến khi “Chính sách Kinh tế Mới” được ban hành vào năm 1921, cho phép nền kinh tế tư nhân hoạt động lại và được trả công, những phim truyện cách mạng lớn đầu tiên mới được khuyến khích, chẳng hạn Cuộc đình công (1924), Tuần dương hạm Potemkin (1925) của Eisenstein; tiếp theo sau là những phim tiền phong khác cuối thập niên 20.

Sinh hoạt văn chương lúc này cũng gặt hái nhiều thành tựu đáng kể. Nhiều nhà xuất bản, tòa báo, nhóm văn học đã cạnh tranh nhau. Nhánh văn xuôi đã đẻ ra nhiều tên tuổi như Isaak Babel, Michail Bulgakov hoặc Boris Pasternak.

Ilya Ehrenburg gọi giai đoạn 1919-1921 là “thời kỳ vĩ đại cho những dự án tạo dựng một cuộc sống giữa thiên đàng hạ giới. Bản thân nhà văn Varlam Shalamov, một người sau năm 1937 đã tốn phần lớn cuộc đời mình trong trại Gulag, sau 30 năm vẫn còn nhớ đến cái nhiệt tình được khắc sâu từ những ngày tháng ấy. Rồi cái “cách mạng từ bên trên” của Stalin cuối thập niên 20 và thể chế nghệ thuật nhà nước đã chấm dứt tự do sáng tạo, tiêu diệt gần hết người trí thức còn giữ tinh thần độc lập cho đến giờ phút chót.

Bằng cách đó, cách mạng đã tiêu diệt người vận động cho nó. Cuộc công nghiệp hóa đất nước bằng bạo lực và hệ thống quan liêu xã hội đã trọng dụng giới “nửa”-trí thức kỹ thuật-hành chính đang dần dần đẩy lùi giới trí thức cũ có học và có tinh thần phê phán.

Nhưng chính trong số nghệ sĩ đứng ra phục vụ cách mạng, như nhà văn Maxim Gorky, thậm thí xem Lenin như bạn, ngay từ đầu đã có lời than phiền. Trong tạp chí Novaya Zhizn (Cuộc sống mới) tự phát hành từ đầu năm 1917 của mình, Gorky đã công kích kịch liệt cái phát triển quái đản của thể chế độc tài Lenin như sự “quay về thời Trung cổ”. Lenin và người lãnh tụ cách mạng quân sự, Trotsky, là những kẻ “đốt nhà, đã làm thí nghiệm man rợ đối với dân tộc Nga, không có một chút hiểu biết gì về tự do”. Lenin thiếu đạo đức.

Trong mắt Gorky, không phải giới vô sản, không phải giới nông dân, mà là chỉ một mình giới trí thức – “cái lớn nhất, đã sáng tạo ra nước Nga suốt quá trình lịch sử vô cùng khó khăn và xấu xí, cái bộ não và trái tim đất nước ta” – mới có thể giáo dục được đám quần chúng bị bỏ rơi, chứ chẳng phải cái, chẳng hạn như chính trị.

Chẳng lạ gì, Lenin đã ra lệnh cấm tạp chí của Gorky. Dẫu sao chăng nữa, ông vẫn có thể dùng sức ảnh hưởng của mình nhờ người đồng ý hướng cũ là Lunacharsky, ủy viên nhân dân đặc trách giáo dục, giúp đỡ những người trí thức đương thời bị coi là thù địch. Tòa soạn Văn chương thế giới do ông thành lập đã giới thiệu việc làm cho những nhà văn túng quẫn. Năm 1919 Goryi thành lập một ban cứu trợ dành cho thân nhân trí thức.

Năm 1921, ít tuần sau khi Alexander Blok chết vì đói và vỡ mộng, cộng thêm một thi sĩ được mình giúp đỡ là Nikolay Gumilyov bị xử bắn vì bị kết tội phản cách mạng, Gorky đã bỏ xứ ra đi. Sau vài lần về thăm nhà ngắn ngủi vào năm 1928, 1929, ông đã hồi hương hẳn vào năm 1931 – để rồi kể từ đây được Stalin tấn phong thành biểu tượng đầu tàu của nền văn chương Xô-viết. Theo tinh thần thời đại mới, bây giờ Gorky lại khẳng định, bản thân ông đã sai lầm trong vai trò lịch sử của giới trí thức – kể cả tác phẩm tiểu thuyết viết dở dang của mình vào thập niên 20 (Cuộc đời của Klim Samgin) nói về một gia đình trí thức.

Cuộc đời Gorky trong những năm sau cùng tại Liên bang Xô-viết và cái chết vào năm 1936 cho tới giờ vẫn chưa có lời giải thích, vẫn là một điều bí ẩn lớn. Năm 1928, đúng kỳ sinh nhật 60 tuổi, ông được chào đón nồng nhiệt tại quê hương; từ năm 1932, hàng lớp người mến mộ đã tỏ bày sự kính trọng ông. Trong ngày sáng lập Hội Nhà văn Xô-viết năm 1934, lý thuyết văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa của ông đã được tuyên bố là tính thẩm mỹ ắt có của nền văn học Xô-viết.

Ðiều Stalin cần Gorky cho việc xây dựng nền văn hóa Xô-viết để gìn giữ cái vỏ bề ngoài của sự nối tiếp nền văn hóa Nga thời tiền cách mạng thì đã rõ. Nhưng cái gì đã khiến Gorky như bị đòn đến độ mù quáng phải chấp nhận chế độ Stalin? Làm sao ông có thể hoàn tất một chuyến thăm cái “trại dành cho những sử dụng đặc biệt” của Stalin trên quần đảo Solovetsky một cách công khai và vui vẻ như một buổi đi dạo mà không thấy cái dã man của kẻ thống trị ở đó?

Alexander Solzhenitsyn đã lên án lối “cư xử ta thán” của Gorky trong tác phẩm Gulag Archipelago [7]. Phải chăng vì lý do cá nhân và gia đình, người nghệ sĩ đã chủ tâm thỏa hiệp? Hay ông bị cưỡng ép? Nhưng chắc chắn một điều, càng ngày mật thám càng cô lập Gorgy với môi trường sống của ông. Chỉ trong những trường hợp hiếm hoi, ông mới bênh vực cho những nhà văn bị án tử hình đe dọa như Mikhail Bulgakov. Ở nước Nga ngày nay, nhà thơ ấy gần như đã đi vào quên lãng.

Theo góc nhìn của nhiều người khác thì những trại tập trung đã có từ đầu thập niên 20. Chúng được đặt cho một cái tên mỹ miều là “trại học tập cải tạo”. Sử gia, triết gia, văn sĩ, khoa học gia đã bị giam cầm trên quần đảo Solovetsky của vùng biển Bạch Hải gần Bắc cực. Sự đàn áp thành phần trí thức lãnh đạo các đảng phái như Kadets, Cách mạng Xã hội, Menshevik đã xảy ra từ năm 1918.

Mùa Thu 1922, hai chiếc tàu thủy Ðức “Oberbürgermeister Haken” và “Preußen” đã đón 43 triết gia, văn sĩ,  khoa học gia nổi tiếng của Nga rời bỏ Petrograd di cư tới Stettin. Những “con tàu triết gia” đã phục vụ đợt trục xuất hàng loạt đầu tiên những người làm văn hóa Nga. Theo một sắc lệnh của Lenin, tổng cộng có đến 224 người trí thức “phản cách mạng”, “chống Xô-viết” bị trục xuất khỏi nước.

Tại Berlin, Paris, Prag, Harbin và những thành phố khác, với hơn một triệu người di cư, họ đã thành lập một “nước Nga ngoài biên giới”. Nhờ con số trí thức đông lạ thường, các nơi đó vẫn bảo tồn được di sản văn hóa tiền cách mạng, trong khi tại Xô-viết nó ngày càng bị bôi nhọ. Thuộc cộng đồng văn nghệ sĩ di cư có thể kể đến các nhà văn như Ivan Bunin (người Nga đầu tiên được Giải Nobel văn chương, 1933) và Vladimir Nabokov, các họa sĩ như Marc Chagall và Wassily Kandinsky, về âm nhạc có nhạc sĩ Igor Stravinsky và ca sĩ  Feodor Chaliapin.

Cuộc cách mạng vô sản có thể dễ chối từ lời phê phán của nguời trí thức, song kiến thức chuyên môn của họ về khoa học kỹ thuật thì không thể thiếu cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Là những “chuyên gia quần chúng”, nhiều cựu sĩ quan Sa hoàng lại được đưa vào quân đội, hoặc chuyên viên, kỹ sư thì vào các cơ quan hành chính, kinh tế, kỹ nghệ làm việc – cho đến khi đám trí thức cũ này bị đám trí thức “Xô-viết” mới được tuyển nạp từ tầng lớp vô sản và nông dân giải thể. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng chuyên gia quần chúng không phải không có xung đột: Họ thường xuyên bị thợ thiếu tay nghề và cán bộ cộng sản đánh đập hoặc hành hạ cho đến chết. Những cuộc đấu tố do Stalin dàn dựng cũng nhắm vào kỹ sư, chuyên viên “cũ” đột nhiên thấy mình bị kết tội phá hoại. Vô số tên tuổi người làm văn hóa cũng trở thành nạn nhân của nhiều cuộc thanh lọc vào những năm 30. Một số ít sau cái chết của Stalin được phục hồi; số lớn còn lại mới từ từ tái hiện trong trí nhớ quần chúng sau thời kỳ “Ðổi mới”.

Số phận người trí thức suốt những năm cách mạng và sau đó thực là đa dạng. Bên cạnh nạn nhân còn có bạn đồng hành, người ủng hộ và cả thủ phạm. Nhiều văn nghệ sĩ, nhà khoa học đã góp tay xây dựng “chủ nghĩa xã hội hiện thực” với hết lòng tin để được hưởng thật nhiều đặc quyền vật chất. Cho nên lịch sử  người trí thức chẳng đơn thuần là vở bi kịch “nạn nhân – nhân tài” mà lỗi do người khác gây ra.

Trong tùy bút trứ danh “Thế hệ không nước mắt” của mình, bà Nadezhda Mandelstam đã lấy ví dụ về chồng bà – nhà thơ trường phái lãng mạn Nga vĩ đại nhất của thế kỷ 19, Osip Mandelstam, để gọi sự “Ðánh mất cái Tôi” là nỗi khổ tâm thật sự của người trí thức. “Làm sao điều đó có thể xảy ra? Chúng ta đã đi xa đến độ nào?”. Bằng những câu hỏi ấy, bà đã cảnh giác trách nhiệm người trí thức.

Sau khi các nhân vật đối kháng của thập niên 70 như Andrei Sakharowv hay Alexander Solzhenitsyn kêu gọi suy nghĩ về giá trị người trí thức thời tiền cách mạng, thì tại nước Nga hậu Xô-viết đã xuất hiện một huyền thoại về trí thức “thật”, “đúng”. Ðối với nó, chỉ có dân ưu tú phi chính trị, có tinh thần và thậm chí phải có đạo mới được kể đến. Tính nhiệt tình xã hội hay cách mạng của đương sự hoàn toàn không được kể đến, hoặc không còn dính dáng gì tới khái niệm này nữa.

Tại nước Nga hôm nay, cả những lãnh tụ cách mạng cũng không được kể là trí thức. Cái trớ trêu của lịch sử đã đẩy những người đàn ông như Lenin, Trotsky, Bukharin hay Lunacharsky vào thế việt vị, cái thế dành cho một giai cấp xã hội khác hẳn mà Trotsky đã nhìn thấy trước trong năm cách mạng 1917: trên “đống rác lịch sử” [8].

Nguồn: Jutta Scherrer: Der Ich-Verlust, Spiegel Special – Geschichte, Hamburg 2007

Bản tiếng Việt © 2009 Dũng Vũ

Bản tiếng Việt © 2009 talawas blog


Chú thích (của người dịch)

Jutta Scherrer, 65 tuổi, giáo sư lịch sử Nga, giảng dạy tại Pariser Ecole des hautes études en sciences sociales.

[1] Ám chỉ sự khởi đầu một chuỗi cách mạng xảy ra suốt thời gian 1905-1907 thời Sa hoàng Nga từ những nguyên nhân nổi bật nhất là: chiến tranh Nga-Nhật và biến cố gọi là “Ngày chủ nhật đẫm máu của Petersburg”, 1905 (Petersburger Blutsonntag von 1905).

[2] Cách mạng tháng Hai năm 1917 tại Nga. Chấm dứt thể chế Sa hoàng, Nga. Nikolai II là vị Sa hoàng cuối cùng.

[3] Tương đương chức bộ trưởng.

[4] “Bây giờ vĩnh biệt / Ðừng sầu muộn vì tôi / Hãy tiết kiệm cái bắt tay và lời tán gẫu / chết chẳng có gì mới trong cuộc sống này / nhưng sống bây giờ cũng chẳng có gì mới”. Một trích đoạn từ bài thơ vĩnh biệt viết bằng máu chính mình năm 1925, lúc Yesenin tự vẫn.

[5] Wassily Kandinsky (1866-1944), họa sĩ và lý thuyết gia nghệ thuật nổi tiếng người Nga.

[6] Nikolai Bukharin (1888-1938), một người trí thức cộng sản, lý thuyết gia kinh tế, một trong những đồng chí thân cậy nhất của Lenin, thành viên ban lãnh đạo đảng Bolshevik.

[7] Tác phẩm nổi tiếng của văn hào Nga Alexander Solzhenitsyn, người đoạt Giải Nobel Văn chương 1970. Bản dịch tiếng Việt: Quần đảo ngục tù của Ngọc Thứ Lang, Ngọc Tú, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=13932&rb=08

[8] Chữ của Trotsky từ danh ngôn bất hủ: “Bọn bây là những kẻ khánh kiệt khốn nạn. Bọn bây đã thua cháy túi rồi. Hãy rẽ đường về nơi chốn của mình đi: trên đống rác lịch sử”.

Bình luận

Không có bình luận (bài “Jutta Scherrer – Đánh mất cái Tôi”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>