talawas blog

Chuyên mục:

Lâm Hoàng Mạnh – Tôi có lỗi gì?

30/07/2009 | 3:00 chiều | 18 Comments

Tác giả: Lâm Hoàng Mạnh

Category: Chính trị - Xã hội, Quan hệ Việt – Trung
Thẻ:

Tất nhiên việc một quan điểm đưa ra có người đồng tình và có người phản đối, kể cả gay gắt, thiếu tế nhị, là lẽ thường tình ở một nước tự do thật sự. Nhưng nói đi thì cũng phải nói lại. Nếu ở vào địa vị của tôi thì anh chị nghĩ sao?

Trong hai bài trước về người Việt gốc Hoa chúng tôi, tôi chỉ nói sơ qua vài nét về mình. Nay (không khảo) nhưng cũng kể qua một vài chuyện riêng (không phải để thanh minh) mà gia đình tôi đã bị đối xử tàn nhẫn.

Người đầu tiên chịu tai bay vạ gió, đó là vợ tôi, người Việt xịn 100%, người hết lòng vì chồng con, chính vì tôi mà đã thật khổ sở, bỏ cha bỏ mẹ, anh em họ mạc quê hưong làm người viễn xứ.

Chỉ xin kể 3 chuyện thật của gia đình tôi:

1.

Ngày 15/4/1979, bí thư đảng uỷ kiêm phó giám đốc bệnh viện cùng các bậu sậu là trưởng phòng tổ chức nghiệp vụ, trưởng phòng hành chính (những Xâu, Chuỗi, Rễ và cựu cán bộ Cải cách Ruộng đất) mời vợ tôi (một y tá đã 14 năm trong nghề, nhiều kinh nghiệm) lên văn phòng đảng uỷ. Thay mặt cơ quan và đoàn thể, trưởng phòng tổ chức nói nguyên văn như sau:

“Chị là người Việt, cho nên nếu muốn ở lại làm việc thì chị phải làm đơn xin ly dị anh ấy và trả các con cho anh ta.”

Hổ cũng không ăn thịt con, vợ có thể bỏ chồng chứ bỏ con thì tôi chắc 99,999% phụ nữ Việt Nam hay các dân tộc khác đều nói Không! Sao họ ác thế, dám mở mồm nói những điều thất đức và ngu xuẩn đến thế được!

2.

Năm 1982, chính quyền Thành phố Hải Phòng thông báo (trên báo Hải Phòng và đài phát thanh Hải Phòng) di chuyển nghĩa địa người Hoa ở Kiến An, cho hạn sau 8 tuần không có thân nhân đến nhận sẽ được chính quyền gom nhặt đưa về khu mới. (Người Hoa sống đoàn kết cho nên chết cũng muốn được nằm gần nhau.)

Trời cao đất dày ơi! Chúng tôi, những kẻ đi tị nạn nước ngoài, cuộc sống còn bấp bênh, làm sao có tiền mà lo chuyện tày đình và cũng chưa được nhập tịch, làm sao về được trong hạn 8 tuần lễ? Mộ các cụ tôi thế là đã bị xoá sạch, vì con cháu bất hiếu bỏ các cụ chạy (mất dép) để thoát thân một mình! (Cụ bà nằm ở Phi Liệt nên còn nguyên.)

Tập đoàn Lê Duẩn thực hiện đúng lời của Thái sư Trần Thủ Độ sau khi cướp ngôi nhà Lý (Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng): Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc! Tống cổ bọn người Hoa ra nước ngoài (đường bộ và đường biển) thì mồ mả ông cha chúng phải dọn cho sạch, cho khỏi ngứa mắt! Chỉ còn kém vua nhà Nguyễn đào mả nhà Tây Sơn đốt thành tro trộn vào thuốc súng bắn ra Biển Đông mà thôi! (Xin lỗi không biết tôi nhớ lịch sử Việt Nam có đúng không?)

3.

Sau gần 10 năm tha phương (1988), vợ tôi phải về chịu tang, đến sân bay Nội Bài, 2 chiếc va-li được nhân viên hải quan cất (hay giấu?) vào văn phòng. Tìm vàng mắt không thấy ở băng dây chuyền, mọi người đã ra hết, còn lại một mình trên sân bay, đành hỏi một nhân viên hải quan. Anh ta tủm tỉm cười, rồi dẫn vợ tôi vào văn phòng, chỉ vào 2 chiếc va-li, hỏi:

“Có phải của chị không?”

“Sao lại ở đây?”

“Chúng tôi quan tâm cất hộ vì sợ bị thất lạc, chị không cám ơn mà lại còn hỏi.”

Tức lộn ruột, nhà tôi buông một câu:

“Cám… ơn…!”

(Hồi ấy Vịt Cừu về Việt Nam ít lắm, danh sách chắc đã được báo trước nên mới có chuyện này. Cả chuyến bay qua ngả Tiệp Khắc có mỗi vợ tôi từ Anh quốc.)

Kéo hàng lý ra khu kiểm tra, (vì quên) không kẹp tờ 20 Dollar (chẳng có đồ gì phạm pháp hay quá quy định mà phải đút lót), được nhân viên kiểm tra hỏi vu vơ:

“Bồi dưỡng cho anh em để cà-phê chứ.”

Bực mình và tức đến nổ ruột vì hơn tiếng đồng hồ tìm hành lý, nhà tôi nói:

“Các anh thông cảm, về chịu tang nên không kịp mua  quà!”

Con mẹ này láo, sẽ biết tay chúng ông! Đúng thật, sau 4 tuần hết hạn, nhà tôi ra sân bay Nội Bài làm thủ tục xuất cảnh. Nhà tôi nộp đủ 3 tờ khai cho nhân viên hải quan mà lần trước đã gặp. Nhìn hộ chiếu, nhìn trừng trừng như thể (có đúng con mẹ này không?), nhà tôi cũng không vừa, cũng chằm chằm nhìn lại (3 nhân viên hải quan). Tay nhận giấy nói:

“Chị thiếu giấy chứng nhận tạm trú. Chúng tôi phạt chị. 1 ngày 10 đô, 28 ngày cứ thế mà nhân lên.”

Nói xong, y thủng thẳng đứng lên đi bách bộ xung quanh quay kiểm tra.

Nhà tôi cũng đáo để (cán bộ công đoàn cũ mà) nói to:

“Tôi nộp đủ 3 tờ giấy cho anh. Anh giấu đi đâu bây giờ định phạt vạ tôi. Xin lỗi nhé, tôi chả có đồng xu dính túi nào mà cho các anh. Tôi nói thật, chuyến máy bay này thiếu tôi cũng không thể bay được. Cho tôi gặp người lãnh đạo sân bay.”

Rồi nhà tôi làm ầm lên, bao nhiêu người xúm lại xem. Gặp con mẹ tai quái này không khéo thua trắng bụng! Cho nên y giả vờ cúi xuống:

“Đây rồi, giấy của chị rơi xuống sàn!”

Còn nhiều chuyện đau lòng lắm, không kể thêm mất thì giờ bạn đọc. Sự nghèo đói, đau khổ của nhiều người ở Việt Nam, tôi đâu có liên quan gì? Có trách nhiệm gì? Tôi có lỗi gì? Tôi là cái thá gì mà chịu trách nhiệm? Từ người đi ăn xin (những năm tháng đầu tiên lĩnh tiền trợ cấp) đã tự đứng để khẳng định như ngày hôm nay lại là  có tội với người nghèo ở Việt Nam ư? Các con tôi thành đạt là do tất cả chúng tôi đã hết sức vươn lên và tôi đã phải hy sinh đời bố để củng cố đời con. Nhiều người định cư ở Vương quốc Anh sớm hơn tôi, nếu không bằng chúng tôi sao không cố gắng phấn đấu? Có rất nhiều thanh niên và nhiều gia đình ở Anh quốc này rất thành đạt (cả chất xám và chất xanh). Thời trai trẻ, tôi có bao giờ dám nằm mơ được sống ở Anh đâu và càng không nghĩ con mình được du học (kể cả ở nước Cuba nghèo khó).

Vợ tôi, gia đình vợ tôi, các gia đình thông gia tôi là người Việt, nếu tôi ghét người Việt là tôi tự chặt tay tôi à?

Nhưng cho tôi hỏi: Nếu anh chị là tôi (như vừa kể sơ qua vài chuyện đau lòng), anh chị có quan tâm sâu sắc đến Hoàng Sa, Trường Sa… không (một cách chính xác, trung thực)? Mà quan tâm thì tôi phải làm gì?

Chúng tôi đến được Vương quốc Anh này phải trả bằng nước mắt và máu chứ không được như nhiều người sang Anh bằng con đường du lịch, du học, thăm viếng thân nhân, đi làm hợp đồng ở hotel được đi bằng máy bay… rồi trốn ở lại bằng nhiều đường như: lấy chồng, lấy vợ kể cả hôn nhân giả, hoặc ở lại bất hợp pháp rồi làm chui lậu thuế trong các cửa hàng Nails, nhà hàng Việt và trồng cần sa. Chuyện trồng cần sa đang là chuyện nóng bỏng mà tội phạm người Việt (rơm) thực hiện, không chỉ ở Anh mà còn ở nhiều nước trên thế giới: Mỹ, Canada, Đức, Hungaria, Ukraina… làm đau đầu chính phủ nước sở tại và đầy tai tiếng cho người Việt chân chính.

Những năm 1975 đến 1990, trên các phương tiện truyền thông, chính phủ CHXHCNVN gọi những người vượt biển là bọn phản động, bọn lưu vong… với tất cả những từ ngữ xấu xa nhất. Ngày nay, chính phủ CHXHCNVN gọi tất người Việt (kể cả các sĩ quan hay nghị sĩ, lãnh đạo của VNCH cũ) đều là Việt kiều yêu nước và khúc ruột ngàn dặm. Nhà nước đã và đang trải thảm đỏ đón chào (nồng nhiệt) những người con xa tổ quốc mang chất xám và chất xanh trở về!

Miệng quan trôn trẻ mà! Các cụ nói cấm sai!

Rất nhiều người Việt (trốn đi bằng được) nay về đầu tư xây dựng nước nhà, kể cả cựu phó Tổng thống VNCH Nguyễn Cao Kỳ và nhạc sĩ vĩ đại Phạm Duy đã hồi hương.

__________

Ghi thêm

Sau khi biết tôi gửi 2 bài cho talawas, vợ tôi (đàn bà vốn ưa chuộng hòa bình), nói với tôi:

“Thôi tôi xin ông, van ông, đừng có kể chuyện cũ, đau lòng, đau lòng lắm, ông ơi! Các cậu các dì ở Việt Nam không khéo bị vạ lây. Sao ông chóng quên thế? Sau khi nhà mình đi Hong Kong các cụ đã bị xã gọi lên chỉ mặt chụp cho mũ phản động: Con gái con rể vượt biên theo địch! Gia đình này là gia đình phản động, có người theo đế quốc! Các cậu và các dì chả bị đuổi khỏi cơ quan là gì. Làm nông dân cày sâu cuốc bẫm 30 năm, có dám ho he gì đâu, bây giờ nhà đất của tổ tiên từ ngàn đời để lại (Hà Đông cũ) đang bị lấy để giao cho các doanh nghiệp nước ngoài, mình chả giúp được gì, nay lại ‘khoáy chuyện này’, lại làm khổ các cậu các dì thấp cổ bé họng. Họ biết sống bằng gì?

Hơn bốn mươi năm làm bạn với ông, ông ra sao tôi biết. Tôi chẳng cần ai hiểu ông. Vợ con, cháu chắt hiểu tấm lòng của ông là đủ. Tôi van ông. Thời gian còn lại ông làm thơ, viết truyện vui cho con cháu như mọi khi có hơn không!”

Đây là lời khuyên của vợ tôi, một người mà tôi chịu ơn rất nhiều nên tôi viết lên đây để mọi người hiểu. Những bài viết trước tôi viết ra chẳng phải thanh minh hay tìm lòng thương (của người đời) mà để vạch mặt, tố cáo những thủ đoạn đểu giả của những chính trị gia cả hai phía: cộng sản Việt Nam và Trung Quốc.

Cám ơn.

© 2009 Lâm Hoàng Mạnh

© 2009 talawas blog

Bình luận

18 Comments (bài “Lâm Hoàng Mạnh – Tôi có lỗi gì?”)

  1. Nhỏ Thanh viết:

    Mấy bác người Hoa cứ nói thế thôi. Các bác có bị “bài”, thì cũng chỉ là trong một thời gian rất ngắn. Ai cũng biết là tình hình của các bác, đến hôm nay đã được cải thiện rất nhiều…, rất nhiều… rồi.

    Đáng kêu ca phàn nàn, phải nói là nhân dân Việt Nam. Họ đã bị đàn áp, bị bài xích, bị khủng bố bởi chính phủ của họ từ rất lâu và rất lâu rồi. Ai cũng thấy cách nhìn nhận và những chính sách của giới lãnh đạo VN với chính nhân dân của họ càng ngày tồi tệ hơn. Các vụ bắt bớ, khủng bố những cá nhân hoặc tập thể “bất đồng chính kiến” càng ngày lại càng trắng trợn hơn…

  2. Trương Nhân Tuấn viết:

    Thưa anh Trần Vũ, anh đưa vào hai tiếng « học giả » làm tôi rất áy náy. Nếu anh gọi tôi như thế thì sắp tới, nếu có trao đổi với nhau trên đây tôi sẽ gọi lại anh là « nhà văn lớn ». Talawas gọi anh là « một trong những nhà văn viết tiếng Việt quan trọng nhất hiện sống tại hải ngoại », tôi thấy xứng đáng vô cùng.

    Cám ơn anh đã góp ý.

    Cũng sẵn đây cám ơn nhà văn họ Tưởng. GS Trần Gia Phụng thì tôi có quen. Nếu kéo được anh Phụng vô đây thì chắc vui lắm hả anh Tiến?

  3. Lê Quốc Trinh viết:

    Chào bà Vũ Quỳnh Châu,

    Đọc bài bà chị viết tôi thấy vui vui, bà chị tố khổ tôi không ngớt lời và cũng trich dẫn phân tích khá chi tiết. Nhưng bà chị hiểu lầm tôi rồi, tôi muốn đề nghị ông Lâm Hoàng Mạnh dịch ba bài viết ông đăng trên Talawas ra tiếng TQ chính là để trình bày cho họ thấy một khía cạnh khác của tấn thảm kịch “bài Hoa” mà cuộc chiến biên giới Tây Bắc 1979 đã để lại nhiều vết thương đau lòng và vết nhơ lịch sử khó rửa sạch.

    Ba bài viết đó bằng tiếng Hoa nếu đến tận tay những người lao động TQ đang làm việc trong các công trường xây dựng khắp VN (trong tình trạng bất hợp lệ) thì họ sẽ khắc hiểu rằng họ đang trở thành một lá bài chính trị hay một cái bung xung để TQ dùng làm áp lực trên tình hình nội bộ VN. Nếu bà chị theo dõi sát sao những cuộc tranh luận trong Quốc hội hồi tháng trước về những vấn đề gai góc trong đó tình trạng nhân công lao động phổ thông TQ đang chiếm dần vị trí ưu tiên làm cho nhiều người phải bức bối. Tình hình này nếu cứ để tiếp tục căng mãi và chính phủ VN không tìm cách giải quyết thì sớm muộn thế nào cũng có đụng chạm. Tôi e ngại khủng hoảng kinh tế thúc đẩy và kích động thêm những vụ đụng chạm như vậy để rồi đến lúc không thể kìm hãm được thì vở kịch “bài Hoa 1979” lại tái diễn trở lại. Đừng để nước ngập tới cổ rồi mới chạy thì không kịp nữa đâu. Đó là vì lòng tốt của tôi muốn tránh cho cộng đồng người Việt gốc Hoa một tình cảnh bi đát: bị kẹt giữa hai giới tuyến.

    Tôi có nhắc đến trận chiến tranh biên giới giữa Nga Sô và Georgia hồi tháng Tám năm 2008, hy vọng mọi nguời mau cảnh giác đừng để lịch sử cứ tái diễn hoài trên mảnh đất quê hương thân yêu của chúng ta.

    Chào thân ái,

    Lê Quốc Trinh

  4. Vũ Quỳnh Châu viết:

    Thưa ông Lê Quốc Trinh, ông khuyên (xui) ông Lâm Hoàng Mạnh nên chuyển ngữ sang tiếng Trung để có những điều lợi:

    a- Đồng hương của ông LHM hiểu;

    b- Lao động phổ thông Trung Quốc không có giấy phép đang ở VN hiểu;

    c- Tránh được sự bài Hoa trong tương lai.

    Kể ra ông Lê Quốc Trinh khéo bỡn người thật. Có nghĩa là ông muốn ông LHM lắp lại đúng lịch sử:

    1- Ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản.

    Xua đuổi người ta cũng chưa hả cơn hận thù, nên đến cả mồ mả ông cha người ta cũng bị chính quyền cộng sản VN đào lên rồi vất (đống rác hay… ai biết?), nay lại viết bài đăng để người đồng hương… rõ vấn đề. Xin lỗi, tất cả người Hoa ở VN quá rõ, chẳng cần ai chỉ bảo.

    Xin lỗi ông L.Q.Trinh cao kiến, cho tôi hỏi, nếu mồ mả tổ tiên ông cha của ông bị người ta đào lên thì ông nghĩ sao?

    Người phụ nữ VN, khi cãi chửi nhau thì lời chửi rủa cay độc nhất là: Đào mả ông mả cha nhà mày… Ây thế mà tập đoàn Lê Duẩn đào mả ông cha người ta thật chứ chẳng phải một tay chống nạnh, một tay xỉa xói (như mấy bà đanh đá) chửi suông đâu!

    2- Ý ông muốn ông LHM trở thành

    “Anh hùng như thể khúc lươn
    Khi cuộn thì ngắn khi vươn thì dài”

    (Trích: “Hillary Clinton mềm hay cứng” của Ng. Bảo Tư, D.C.V)

    3- Sao ông không “quân sư” cho ông LHM đến ngay đại sứ quán VN xin nhập lại quốc tịch VN, kẻo quá hạn? Rồi cả nhà ông ta bồng bế nhau (đánh xe hơi) xin hồi hương để được khoác áo gấm Việt kiều Yêu nước?

    Chào ông!

  5. hanh dao viết:

    Tôi hiểu được hoàn cảnh & cảm giác của bác LHM. Nhưng xin góp ý những điều sau:

    1- Cả hai nhà cầm quyền TQ lẫn VN đều ngược đãi “con ruột” của họ, không chỉ con nuôi. Chính sách bài Hoa của nhà nước chỉ là một trong những chính sách, khẩu hiệu khi cần (hợp thức hóa sự ăn cướp – từ tài sản, tự do, thậm chí, cả nhân phẩm), với những người con ruột, Việt 100% đã, đang & sẽ có những chính sách, khẩu hiệu khác. Tận cùng, “gốc” gì không phải là nguyên nhân thực sự của sự ngược đãi, kỳ thị.

    2- Bác có tự do & quyền chọn làm người Việt, TQ, hoặc Anh, & chọn quan tâm hay không đến tình hình đất nước. Bác không nhận, cũng không ai ép được. Hơn nữa nếu những người Việt gốc Hoa thấy khó xử vì ở giữa những ân oán Việt – Trung, chọn đứng ngoài là điều có thể hiểu được, dù sự khó xử của bác là vì hận, không phải vì tình. Tuy nhiên vô Talawas, để đọc & viết dù để phân trần & biện hộ cho sự chọn lựa không quan tâm, có gì như – thấy thẹn với lòng, đã là có lòng quan tâm. Thực tế, số người không quan tâm (ngay cả trong nước) không ít, thêm một người cũng không nhiều, mấy ai nhọc công giải thích?

    3- Bác đang đánh đồng nhà cầm quyền, & chính sách của họ với đất nước & dân tộc, giống như nhà cầm quyền (VN & TQ) đã & đang làm. Chính quyền là tạm thời, nhưng đất nước & dân tộc là vĩnh cửu.

    4- Trong những hồi ức của bác về Việt Nam, ngoài nỗi cay đắng với chính quyền (không oan chút nào), không biết bác có chút, dù là chút xíu hồi ức, kỷ niệm đẹp với đất nước & người Việt?

    5- Ranh giới áp đặt của nhà nước, chính sách không có nghĩa là ranh giới tự vẽ trong lòng mỗi người. Bác phân định ranh giới với chính quyền (VN & TQ) là điều dễ hiểu (và không chỉ có bác), nhưng có nên chăng ném theo cả một quốc gia, dân tộc (mà bác được sinh ra, lớn lên, ràng buột không ít ân tình – đại diện là “thiếm”) về bên kia chiến tuyến?

  6. Trần Vũ viết:

    Cám ơn học giả Trương Nhân Tuấn đã nhắc lại nghiên cứu “Tìm hiểu về Ải Nam Quan qua một vài tài liệu”. Tôi vừa vào xem và nhớ ra ngay đây là khảo cứu công phu mà mình đã xem khi vừa đăng trên Talawas bộ cũ. Nhớ, vì giống một hành trình khảo cổ kỳ thú về quá khứ. Và cũng vì tác giả Trương Nhân Tuấn đã nhắc đến sứ mệnh Gallieni mà khi đó còn là đại tá, mà tôi được đọc qua hồi ký “Gallieni ở xứ Bắc kỳ”. Xin lỗi tác giả .

    Trong chiến tranh Việt-Pháp, cho đến 1950, các đơn vị tác chiến của quân đoàn viễn chinh Đông Dương đóng rất sát biên giới và thường xuyên hành quân, viễn thám, truy lùng hoặc ngăn chận. Nếu các hồi ký của các sĩ quan Lê Dương không giá trị pháp lý, khi đọc, chúng ta thấy họ tuần tiễu, vượt biên giới quan sát các trại Việt Minh trên đất Trung Hoa, hay dàn quân chận quân Tưởng Giới Thạch để tước vũ khí năm 1949, khi quân Tưởng chạy sang Việt Nam. Có nghĩa các sĩ quan này phải biết rất rõ phạm vi ranh giới Hoa-Việt và tiêu lệnh tước vũ khí 40.000 quân Tàu dọc biên giới phải xảy ra ở đâu, trên tuyến nào, đường ranh nào, ở cột mốc nào… Văn khố quân đội Pháp về Khu Biên Thùy Đông Bắc (ZFNE), với các mệnh lệnh, phóng đồ hành quân và vùng trách nhiệm « bình định », có lẽ cũng sẽ đem đến thêm dữ liệu cho các nhà nghiên cứu.

    Bên cạnh Trung đoàn 3 Lê Dương (3è REI), còn có Trung đoàn 2 Lê Dương (2è REI) và Trung đoàn 5 Lê Dương (5è REI) trấn nhiệm trước 1945.

    Và kể từ 1947 đến 1950 :

    Trung đoàn Bộ chiến Thuộc địa Marốc (RICM)
    Trung đoàn 21 Bộ binh Thuộc địa (21è RIC)
    Trung đoàn 3 Tán binh Algérie (3è RTA)
    Trung đoàn 69 Pháo binh (69è RA)
    Tiểu đoàn 6 Kỵ binh Marốc (6è Spahis)
    Tiểu đoàn 73 Công binh (73è BG)
    Tiểu đoàn 69 Công binh (69è BG)
    Liên đoàn Sơn cước Marốc (GTM)
    Phi đoàn “Béarn”
    Phi đoàn “Tonkin”,
    Phi đoàn “Franche Comté” (do thiếu tá Nguyễn Văn Hinh chỉ huy năm 1947)

    Với đông đảo các đơn vị như vậy, trải dọc đường số 4, bộ chỉ huy Bắc Phần của tướng Alessandri, và bộ chỉ huy của đại tá Simon rồi đại tá Constans tại Cao Bằng và Lạng Sơn phải nắm vững vùng hành quân của từng đơn vị. Đặc biệt bên phía Pháo binh và Không quân, trên xạ bảng họ phải biết rõ pháo đến đâu, oanh kích đến đâu mà không rơi vào đất Trung Hoa. Dường như các tài liệu quân sự của quân đội Pháp giai đoạn 1945-1950 chưa được người Việt tiếp cận nhiều? Chúng có thể mang dấu vết đây đất của nhà Nguyễn đã giao cho Pháp “bảo hộ”.

    Do không biết gì về địa dư, vì đọc duy nhất sách chiến tranh, nên một lần nữa, cám ơn ông Trương Nhân Tuấn mà các khảo cứu cùng các tranh luận biển Đông giúp tôi hiểu nhiều hơn về biên cương của đất nước.

  7. Lê Tuấn Huy viết:

    Thật xin lỗi là tôi không đọc hết và kỹ ba bài của Lâm Hoàng Mạnh, nhưng cũng xin nêu vài ý:

    1. Ý kiến của Trần Vũ thật sự xác đáng.

    2. Tôi không rõ nơi quê hương mới, tác giả có bị người Việt “bài Hoa” hay không, có bị người Việt đòi hỏi phải quan tâm đến Hoàng Sa, Trường Sa hay không. Nếu có, họ đã hoàn toàn sai. Nếu không, tác giả sai ngay khi nêu vấn đề.

    Quan tâm đến Hoàng Sa, Trường Sa thực chất cũng chỉ là loại quan tâm đạo lý, trách nhiệm đạo lý. Ngay cả con dân Việt trong nước đây, quan tâm hay không quan tâm cũng là quyền của mỗi người, không ai có thể bắt buộc, huống hồ là một người Việt gốc Hoa ở nước ngoài. Thiển nghĩ, nếu không bị ép buộc phải quan tâm, việc phân trần có lẽ không cần thiết cho lắm.

    3. Sau năm 1979, trên đất Việt, đã không còn ghi nhận chuyện bài Hoa. Ngược lại, trên đất Hoa, đã 30 năm qua, những người con trở về với đất mẹ, dù cố gắng hòa nhập, vẫn bị đối xử như công dân hạng n (tôi không dám chắc là công dân hạng 2 hay dưới 2 nên gọi thế). Đó là xuất phát điểm, mà nội dung được loan tải ở bản dịch trên BBC Việt ngữ, khiến tác giả đưa ra loạt ba bài này. Như vậy, hợp lý hơn chăng nếu câu hỏi “chúng tôi là ai?” được gửi đến phía bên kia?

    4. Khái niệm bài Hoa (hay bài cái gì khác) khi đã đặt ra như một vấn đề xã hội, CẦN ĐƯỢC HIỂU THEO NGHĨA ĐƯỢC CHỦ TRƯƠNG VÀ THỰC HIỆN MỘT CÁCH CÓ HỆ THỐNG, CÓ TỔ CHỨC của một nhóm xã hội hay của giới có thẩm quyền, không thể hiểu như những việc làm bột phát, nhất thời của các cá nhân đơn lẻ.

    Có điều lạ là khi người Việt vì bức xúc trước sự chèn ép của Trung Hoa về lãnh thổ và chủ quyền mà chửi rủa, điều đáng ra là không mấy giá trị với người suy nghĩ nghiêm túc và chín chắn, thì một số người vội la lên “bài Hoa”; nhưng khi thông tin bài Hoa gốc Việt gốc Hoa theo kiểu có hệ thống và tổ chức như vậy được đưa ra, rõ ràng và khả tín, thì không thấy những tiếng la đó lên tiếng.

    5. Dễ hiểu và cảm thông với nỗi uất ức về quá khứ mà tác giả nêu ra. Trong cuộc sống, có những nỗi niềm khiến người ta xa lánh những gì liên quan đến nó. Tác giả nhân dịp này, từ quê hương thứ ba, bày tỏ sự bực dọc với quá khứ nơi quê hương thứ hai (chứ không với quê hương thứ nhất), chứng tỏ trong lòng người, quê hương thứ hai vẫn là nơi có thể giải bày hơn, vẫn là nơi quan trọng hơn. Đó là điều đáng trân trọng. Nhưng nếu không phải vậy, mà là để góp tếng nói phê phán “bài Hoa”, thì tôi e rằng hành động đó đang vô tình góp phần giúp cho quê hương thứ nhất (lại) nhe nanh, nhe vuốt ra với quê hương thứ hai!

  8. Trương Nhân Tuấn viết:

    Anh Trần Vũ viết : « Còn nhiều lĩnh vực khác, mà không thấy các học giả VN tham khảo: Nhật ký hành quân và quân lệnh của các đơn vị Lê Dương dọc biên giới Hoa Việt. Tìm hiểu vùng trách nhiệm trong khu vực Ải Nam Quan và thác Bản Giốc của các đơn vị này, sẽ giúp biết rõ biên giới Hoa Việt ngưng ở đâu dưới quyền bảo hộ Pháp. Việc quân Lê Dương đánh chiếm lại Ải Nam Quan trong tay Tàu thường xuyên được binh chủng này nhắc đến như một chiến tích. »
    Thưa anh Trần Vũ, tôi có đọc và góp nhặt một số tài liệu như anh đã nói trên ở các thư viện và văn khố Pháp. Dựa trên các tài liệu này tôi có cho ra mắt một cuốn sách nhỏ năm 2005 tên là « Biên Giới Việt Trung 1885-2000 – Lịch Sử Thành Hình và Những Tranh Chấp ». Tôi cũng có một vài bài viết về Nam Quan và Bản Giốc, có đăng trên Talawas (bộ cũ). Xin đưa link :
    http://talawas.org/talaDB/suche.php?res=14530&rb=0202
    http://talawas.org/talaDB/suche.php?res=14450&rb=0202
    Xin mời anh đọc và có thể xin cho biết ý kiến để tôi bổ túc các thiếu sót của mình.
    Rất cám ơn anh đã góp ý vào chủ đề Việt-Hoa nhạy cảm này.

  9. Trần Quốc Việt viết:

    Thưa anh Lâm Hoàng Mạnh,
    Hôm nay trong giờ ăn trưa, tôi đọc một mạch ba bài viết của anh trong tâm trạng bồi hồi và xúc động. Cảm ơn anh rất nhiều!
    Cách hành xử của chính phủ cộng sản Việt Nam đối với anh cùng gia đình và biết bao người Việt gốc Hoa khác làm tôi xấu hổ mình là người Việt dù tôi không dự phần trong sự tụt lùi về thời tiền sử về mặt đạo đức của họ ở Việt Nam. Di dời nghĩa trang trong tám ngày hay lời nói cuối cùng của người công an khi cắt dây cho thuyền anh ra khơi. Đất nước nơi tôi chào đời chưa bao giờ tàn tệ đến như vậy. Lịch sử chung thì xa xăm, mơ hồ, nhưng lịch sử riêng của từng số phận như anh lại làm đau lòng người nghe kể lại. Tôi không mất quê hương, nhưng quê hương đi về trong lòng mỗi ngày là nỗi trăn trở cho bao số phận của nhứng người đang đứng bên lề của xã hội. Đó là lý do sau vụ bắt Lê Công Định tôi học tiếng Việt trở lại để viết hay dịch những gì mà tôi thích và nghĩ có lợi cho phong trào dân chủ ở Việt Nam.
    Tôi có bài thơ mới viết ra gần đây nay chép lại để san sẻ với anh về quê hương hiện tại:

    Quê hương là gì hở mẹ.
    Mà cô giáo dạy cố yêu.
    Quê hương là gì hở mẹ.
    Ai đi xa muốn quên nhiều.

    Quê hương là chùm khế ngọt.
    Cho ai trèo hái mỗi ngày.
    Quê hương là đường đi học.
    Con về nặng tập trên vai.

    Quê hương là con diều biếc.
    Tuổi thơ con ngó thèm thuồng.
    Quê hương là con đò nhỏ.
    Làm chìm bao trẻ qua sông.

    Quê hương là cầu tre nhỏ.
    Gập ghềnh bao dáng em thơ.
    Quê hương là đêm trăng tỏ.
    Búp non run rẩy ngoài thềm.

    Quê hương là vòng tay lạnh.
    Bơ vơ bao kẻ bên lề.
    Quê hương là ngày mưa lớn.
    Con thương cha mẹ trên đường.

    Quê hương là bến nước lạ.
    Phận gái trôi giạt trời xa.
    Quê hương là luồng cá bạc.
    Máu rơi thấm đẫm khoang thuyền.

    Quê hương nếu con im lặng.
    Trằn trọc giấc ngủ đêm khuya.
    Quê hương nếu con lên tiếng.
    Sẽ không thoát khỏi lao tù.

    Quê hương nếu con hờ hững.
    Tủi lòng lịch sử ngàn xưa…

    Trần Quốc Việt
    (Phỏng theo thơ của Đỗ Trung Quân)

  10. Tưởng Năng Tiến viết:

    Tôi xin phép được tiếp lời anh Trương Nhân Tuấn bằng cách trích dẫn thêm đôi dòng của anh Trần Gia Phụng, cho rộng đường dư luận:
    “Nhóm người thứ ba đến Quảng Nam là con cháu của những người Trung Hoa buôn bán bằng đường biển, đến Quảng Nam lập nghiệp và nhất là những thần dân nhà Minh vượt biên, bỏ nước ra đi vì người Kim từ miền Bắc xuống lật đổ nhà Minh năm 1644, lập vương triều Mãn Thanh. Nhóm người Trung Hoa can đảm không kém những lưu dân Việt. Họ là những tinh hoa ái quốc Trung Hoa thuộc tầng lớp sĩ phu hay kinh doanh giàu có, rất nhiều kinh nghiệm tổ chức v”à làm ăn. Họ đến Quảng Nam và chọn nơi này làm quê hương với tinh thần xây dựng quê hương mới, chứ không phải là nguời khách trú buôn bán kiếm lời rồi bỏ đi. Họ đã đóng góp không ít cho sự thịnh vượng Việt Nam nói chung và Quảng Nam nói riêng. Lúc đầu họ tập họp thành những làng Minh Hương, rồi dần về sau hoàn toàn hoà nhập vào xã hội Việt Nam.” [Trần Gia Phụng, Quảng Nam Trong Lịch Sử (Toronto: Non Nước, 2000), 68].
    Cá nhân tôi thì tin rằng một nhóm người “Ba Tầu” khác, theo chân họ Mạc đến Hà Tiên, vào cùng thời điểm trên, cũng có đầy đủ những đức tính đáng qúi và “đã đóng góp không ít cho sự thịnh vượng Việt Nam” – không khác gì những người Minh Hương ở Quảng Nam.
    Rồi trong cơn quốc biến, tai họa đã là “cơ hội đồng đều” cho mọi người dân sống ở Việt Nam – không phân biệt tuổi tác, phái tính, tôn giáo, hay sắc tộc… Người Việt gốc Hoa đã bị đối xử tàn tệ ra sao là chuyện mà cả thế giới đã có lúc phải chau mày.

  11. Trần Vũ viết:

    Lâm Hoàng Mạnh viết:
    “cho tôi hỏi: Nếu anh chị là tôi (như vừa kể sơ qua vài chuyện đau lòng), anh chị có quan tâm sâu sắc đến Hoàng Sa, Trường Sa… không (một cách chính xác, trung thực)? Mà quan tâm thì tôi phải làm gì?”

    Với cá nhân tôi, câu trả lời là Có. Tôi quan tâm đến Hoàng Sa và Trường Sa của đất nước mình. Tuy dòng họ tôi gốc Hoa và sang VN lập nghiệp vừa trăm năm, chưa thật lâu như những người Minh Hương. Tuy gia đình tôi cũng bị đánh tư sản, mất hết của cải, rồi ly tán, và các chú, bác, cũng người Hoa, đi lính Cộng Hòa cải tạo nhiều năm khi trở về xác xơ như thây ma, tôi vẫn yêu nước Việt của mình. Và cho dù tôi nhập tịch Pháp, tôi vẫn là người Việt. Vì tôi sinh ra trên đất này, lớn lên ở đây, nói tiếng Việt, sống với người Việt, đọc tiểu thuyết Việt, yêu người đàn bà Việt, và được những người thầy Việt dạy học. Việc người Hoa bị đối xử tàn nhẫn những năm 78, 79, thì không chỉ người Hoa mà chính người Việt cũng bị người Việt đối xử tàn nhẫn. Sinh sống trên một vùng đất nào, thì số phận gia đình mình thăng trầm theo vùng đất ấy. Người Việt gặp nguy biến, Hoa kiều sẽ gặp nguy biến, người Việt thất thu, Hoa kiều sẽ thất thu, người Việt mất đất, là Hoa kiều mất đất. Đất làm ăn, hay đất hương hỏa, hay đất chôn mồ mả, đều là đất. Đất để sống, để chết, để về.

    Không chỉ có những chuyện tàn nhẫn. Năm 79, chiến tranh biên giới bùng nổ, trong trường phổ thông tôi theo học, ban giám hiệu bắt khai lý lịch và nhấn mạnh các học sinh gốc Hoa khai rõ gốc gác. Tôi khai thật. Gốc Quảng Đông. Giờ ra chơi, thầy chủ nhiệm gặp riêng bảo: “Em nên khai lại, học vấn sẽ khó khăn về sau vì trên bộ có chính sách.” Rồi thầy dặn đừng cho ai biết. Tôi khai lại, gốc… Sơn Tây, quê mẹ. Chừng tháng sau, tôi qua trường Bùi Thị Xuân chơi với bạn cũ, đám bạn cũ cho hay thầy Chung Hỷ Sinh dạy Vật Lý bị đuổi dạy vì thầy Tàu… rặc. Còn thầy Lâm Ngọc Oánh, mà tôi theo học phụ đạo môn toán, khi vượt biên tôi đến chào thầy, tôi không dám nói Em vượt biên, chỉ nói Em đến thăm thầy, khi tiễn ra cửa, thầy hiểu tôi sắp đi, vì khi ấy phong trào vượt biên rầm rộ, lớp vắng dần. Ra cửa, thầy dặn: “Em phải biết giữ danh dự của bản thân, gia đình và quốc gia.” Thầy không nói Nơi xứ người. Nhưng tôi hiểu. Và tôi hứa: “Em sẽ cố.”

    “Còn quan tâm sâu sắc?” Tôi không rõ thế nào là “sâu sắc”, tôi tìm đọc những cuốn sách Tây nhắc đến Hoàng Sa, Trường Sa. Thỏa ước Pháp-Nhật ký tháng 7-1940, giữa đô đốc Darlan, đại diện chính quyền Vichy và đại sứ Nhật, cho phép quân Nhật vào Đông Dương. Phía Pháp thuận cung cấp lúa gạo nuôi quân Nhật trên khắp Thái Bình dương, nạn đói Ất Dậu bắt nguồn từ thỏa ước này. Ngược lại, Nhật Bản công nhận quyền bảo hộ Pháp trên toàn cõi Đông Dương, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa. Pháp bảo hộ giùm triều Nguyền, tức Hoàng Sa và Trường Sa thuộc triều đình Huế. Còn nhiều lĩnh vực khác, mà không thấy các học giả VN tham khảo: Nhật ký hành quân và quân lệnh của các đơn vị Lê Dương dọc biên giới Hoa Việt. Tìm hiểu vùng trách nhiệm trong khu vực Ải Nam Quan và thác Bản Giốc của các đơn vị này, sẽ giúp biết rõ biên giới Hoa Việt ngưng ở đâu dưới quyền bảo hộ Pháp. Việc quân Lê Dương đánh chiếm lại Ải Nam Quan trong tay Tàu thường xuyên được binh chủng này nhắc đến như một chiến tích. Hay tài liệu của công binh Pháp đã xây đường thuộc địa số 4 và các đồn bót dọc Cao Bằng-Lạng Sơn, hoặc Hải quân Pháp tại Đông Dương với các hàng không mẫu hạm La Fayette, Arromanches và Bois Belleau đã xem Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong hải phận phải canh chừng hay không? Không thấy ai truy lục, chắc vì không có giá trị pháp lý.

    Còn “Quan tâm thì phải làm gì?” Dân Việt đang bất lực. Nhưng bất lực không có nghĩa là không giận dữ và đau đớn khi đất đai bị mất.

  12. Lê Quốc Trinh viết:

    Cám ơn ông Lâm Hoàng Mạnh đã thổ lộ tâm tình trình bày hết cả sự thật cay đắng của gia đình ông trong một bối cảnh nhiễu nhương đất nước.

    Bây giờ thì ông đã biết, đã ý thức được sự thật, cách giãi bày của ông trên Mạng cũng là một phương pháp góp phần lột trần bộ mặt thật của hai đảng cộng sản TQ và VN.

    Nhưng để rút tỉa kinh nghiệm cay đắng này tôi tự hỏi ông Mạnh có thể dịch ba bài viết này ra tiếng TQ để cho những người đồng hương của ông (người Việt gốc Hoa) hiểu rõ vấn đề, và nhất là với những người lao động phổ thông TQ (không giấy phép) hiện đang làm việc trong các công trường xây dựng tại VN. Ít nhiều gì thì họ cũng đang bị lợi dụng làm tấm bia đỡ đạn cho thế lực siêu cường TQ, và theo giòng lịch sử tái diễn, có lẽ họ cũng sẽ bị rơi vào tấn thảm kịch giống như ông Mạnh.

    Làm được như vậy, ông Mạnh đã đóng góp một phần để tránh được hiếm họa “bài Hoa”, một ván bài mà ĐCS TQ rất muốn tái sử dụng ở VN. Người dân lao động VN không bao giờ muốn gây xích mích với người Hoa, nhưng vì miếng cơm manh áo mà họ sẽ phải bảo vệ gia đình vợ con đành phải lên tiếng, mong ông Mạnh hiểu cho.

    Mến chào ông,

  13. trieu viết:

    Phải nói rằng ông bà Việt Nam ta khi xưa (trước khi cộng sản thâm nhập) ăn ở rất có đức và tiếp nhận rất nhiều người Hoa chạy loạn từ Trung Hoa sang. So với khả năng một nước nhỏ và nghèo như Việt Nam thời đó mà có kế hoạch định cư rất nhiều người Hoa qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau thì tài năng và đức độ của ông bà Việt Nam để lại cho con cháu rất to lớn. Nhưng, tiếc thay, công đức cha ông để lại cho con cháu dẫu nhiều nhưng mong manh như là sương buổi sớm mai làm tươi thắm đời người mỗi sáng để có sức sống qua một ngày Việt Nam nhiệt đới nóng bức cho nên con cháu phải biết trân trọng quý mến vì nó không như mưa rào sông rộng biển sâu rừng rậm mà trời đất hay Thượng Đế ban cho. Rất tiếc là có nhiều người mang những bình minh đầy lửa đỏ của những chủ thuyết tư duy đấu tranh giai cấp kỳ thị hiếu sát vào quê hương đất nước làm tan biến nhanh chóng làn sương trắng mỏng mỗi ngày và theo đó công đức ông cha để lại từ bao đời bị tiêu pha sạch sành sanh qua các chuyện kể như chuyện đời anh Hoàng Mạnh và Nhân Tuấn.
    Thôi thì Việt và Hoa tị nạn cộng sản đừng hiểu lầm nhau vì cả hai bây giờ đa số đều là người Tàu (Boat people) như nhau thôi vì
    “…Theo Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, năm 1679 (năm Kỹ Mùi ), quần thần còn sót lại của nhà Minh, như Dương Ngạn Địch, Trần Thuợng Xuyên… cùng hơn 3000 sĩ tốt, bị quân Thanh đánh đuổi đến đường cùng mà không chấp nhận đầu hàng, nên đã từ Long Môn (nơi đây là biên giới của VN ngày xưa) đổ thuyền đi về Việt Nam…”

    Tôi tin rằng “Thuận Thiên” sẽ tồn tại và “nghịch Thiên” sẽ tiêu vong. Những gì đặt nền trên tàn ác dã man tham lam thù hận bạo lực dễ thành công trong đoản kỳ thôi, về lâu dài sẽ tiêu vong. Thí dụ như đế quốc La Mã ra sức diệt đạo Thiên Chúa nhưng đạo còn đến ngày nay còn đế quốc La Mã tàn lụi từ lâu. Chỉ mong các nhà lãnh đạo cộng sản suy nghĩ và thay đổi cách trị dân càng sớm càng tốt mà thôi.

  14. Trương Nhân Tuấn viết:

    Góp ý riêng với chị Mạnh. Khi ba tôi mất, tôi cũng về chịu tang, đi về cùng năm 1988 như chị.
    Mấy đứa em tôi thuơng ba tôi, sợ chôn ba tôi ở nhà quê theo ý nguyện của ổng thì không ai chăm sóc mồ mả, do đó quyết định chôn ở một nghĩa trang gần Sài Gòn.
    Tôi từ Pháp về khẩn cấp, không mang hành lý, ngay hôm sau nghe tin. Đến phi trường Tân Sơn Nhất lúc 12 giờ trưa, bị giữ ở đó, trong khi người nhà chờ ở bên ngoài. Năn nỉ hết nước miếng (và khóc ráo nước mắt), tôi nghe người thân năm nỉ dùm quan tài ba tôi đang ở ngoài nắng, chờ tôi về để hạ huyệt. Lý do tôi bị giữ lại là « để điều tra ». Tôi ra khỏi phi trường lúc 5 giờ chiều, đi xe ôm khẩn cấp đến nghĩa trang thì trời sẩm tối. Quan tài ba tôi hạ thổ có mặt của tôi, trong khoảng thời gian mà theo tục lệ thì không nên chôn người chết.
    3 hôm sau tôi trở về Pháp, từ đó tôi không về nữa.
    Tôi kể lại cho thấy tôi và chị Mạnh có cùng một hoàn cảnh, đồng hội đồng thuyền là vậy.

  15. Trương Nhân Tuấn viết:

    Tôi nghĩ rằng tranh luận như thế này hai bên sẽ càng ngày càng cách xa, đến một lúc nào đó sẽ đối đầu, mà thực ra Việt hay Hoa, hay Việt gốc Hoa, đều đồng hội đồng thuyền, đều là nạn nhân của một nhóm rất nhỏ người (Hoa và Việt). Không ai có lỗi, nhất là anh Lâm Hoàng Mạnh, không ai có lỗi cả.
    Tôi muốn đưa ra một cái nhìn như sau :
    Thực sự ra đất nước Việt Nam từ nhiều đời là vùng đất yên lành cho nhiều thế hệ người Hoa sang tị nạn. Cộng đồng người Hoa tị nạn cũng đã góp phần rất tích cực trong việc mở mang bờ cõi, làm cho văn hóa Việt Nam phong phú hơn, nhưng quan trọng nhất là giữ vai trò xương sống trong việc phát triển kinh tế quốc gia. Những người Hoa sống trên đất Việt từ nhiều đời, họ đã nhận tổ quốc Việt Nam là tổ quốc của họ, như nhiều người Việt (hay Hoa) tị nạn hiện nay, cũng đã tìm và nhận tổ quốc mới, là nơi đã dung chứa họ. Xã hội miền Nam ngày trước không hề có sự phân biệt những người đó là người Hoa hay người Việt. Nhờ vậy mà người Hoa (thực ra đã là người Việt) đã đóng góp cho nước Việt nhiều hơn cả những người tự nhận là người Việt chính gốc.
    Nhìn ngược về lịch sử, một số thí dụ cho thấy đất nước Việt Nam luôn là vùng đất hứa cho người Hoa bị truy diệt ngay trên đất nước của mình. Nhưng nó cũng cho thấy công lao mở nước của những người Hoa đó rất lớn.
    Theo Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, năm 1679 (năm Kỹ Mùi ), quần thần còn sót lại của nhà Minh, như Dương Ngạn Địch, Trần Thuợng Xuyên… cùng hơn 3000 sĩ tốt, bị quân Thanh đánh đuổi đến đường cùng mà không chấp nhận đầu hàng, nên đã từ Long Môn (nơi đây là biên giới của VN ngày xưa) đổ thuyền đi về Việt Nam, cặp bến Thuận An (Đà Nẵng), xin được làm tôi chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn rộng lòng chấp nhận, cấp đất cho ở, là vùng thuộc miền Nam bây giờ. Nhờ số người Hoa du nhập vào đây mà cả miền nam được phát triển, ngày một giàu thêm lên, chứ ngày xưa phần lớn chỉ là đất hoang vu.
    Thí dụ khác, vào hậu bán thế kỷ 19 đất nước Trung Quốc loạn lạc như Thái Bình Thiên Quốc, cuộc nổi loạn của người Hồi, hay cuộc « chinh tây » của Tả Tông Đường. Các biến cố này làm xã hội Trung Quốc bị đảo lộn. Một số tài liệu cho thấy các cuộc binh biến làm cho khoảng 50 triệu người chết. Do đó vùng đất miền bắc của Việt Nam đã trở thành vùng đất hứa cho nạn nhân của chiến cuộc này. Người Hoa (kể cả dân thiểu số) du nhập sang VN vào dịp này cũng rất đông.

    Dân tộc Việt luôn hiền hòa và hiếu khách. Trong lịch sử đất nước Việt chưa hề có một cuộc xung đột vì chủng tộc giữa Việt và Hoa. Thảm trạng chỉ đến sau khi có một thiểu số rất nhỏ người Việt, tiêm nhiễm lý thuyết và phương pháp hành động tàn độc của Mao Trạch Đông, Stalin, dành được chính quyền. Những người này, đối với đồng bào ruột thịt với họ mà họ còn giết, như các vụ cải cách ruộng đất sau 1954, cải tạo sau 1975 v.v… thì nói đến chi người Hoa, trong lúc họ có xung đột với lãnh đạo Trung Quốc.
    Tôi thấy rằng, chúng ta, Việt tị nạn hay Hoa tị nạn đều chung một giỏ, là nạn nhân của nhóm nhỏ người này. Dân tộc Việt Nam chưa bao giờ nghĩ đến tội ác chứ đừng nói đến làm điều ác. Các dân tộc khác cũng vậy thôi. Con người đôi khi bị thú hóa (do một lý thuyết phi nhân bản), mất cả tính người. Bất kỳ người Việt, Hoa, Nhật hay Đức v.v… đều có thể bị thú hóa.
    Chúng ta nên nhận diện nguyên nhân, thấy ra mới biết là mình đều là anh em, nếu không thì cũng đồng thuyền đồng hội, cùng là nạn nhân của một chế độ, một lý thuyết phi nhân. Nếu mình chỉ tranh luận việc xấu tốt, thiện ác… của người Việt hay người Hoa thì không đúng trọng tâm vấn đề. Con người nào cũng tốt, con người nào cũng có thiện tâm nếu như được sống trong một môi trường lành mạnh.

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>