Phạm Quang Tuấn – Về Trịnh Hữu Tuệ và sự im lặng
26/07/2009 | 4:43 chiều | 13 Comments
Category: Chính trị - Xã hội
Thẻ: Trần Hữu Dũng > Vai trò của trí thức
Tôi ngần ngại không biết có nên viết dài dòng về bài của Trịnh Hữu Tuệ không, vì tôi nghĩ rằng những khuyết điểm của nó đã quá rõ không cần phải nói thêm: bài chứa nhiều lỗi lầm sơ đẳng về suy luận đến nỗi tôi ngạc nhiên khi thấy đăng trên talawas, mà nhiều người gọi là “diễn đàn của trí thức”. Nhất là, tác giả lại ở trong ban quản lý talawas, đáng lẽ phải cẩn trọng hơn! Nếu viết bằng tiếng Anh, với trình độ suy luận ấy sẽ không có báo Anh Mỹ nào thuộc loại “middle brow” (trí thức nửa mùa) trở lên chịu đăng. Tuy nhiên, vì ông Tuệ phản-phản hồi rằng “cuối cùng, tôi thấy rằng không ai phủ định những mệnh đề chính mà tôi đưa ra” nên tôi thấy cần phải nói quan điểm của tôi.
Trong phần đầu tôi sẽ nói về những fallacies trong bài của ông Trịnh Hữu Tuệ. Phần sau xin trả lời về câu hỏi của ông: tại sao nhiều trí thức đại học ở hải ngoại hay giữ im lặng về chính trị.
Người có học ở các nước Tây phương được tập tranh luận từ nhỏ nên họ biết tránh một số thủ thuật ngụy biện (fallacies) căn bản. Rất nhiều sách vở nói về những fallacies này, và trên web cũng có nhiều tài liệu như http://en.wikipedia.org/wiki/Fallacy, http://www.infidels.org/library/modern/mathew/logic.html, http://www.logicalfallacies.info/, v.v. Trong bài này, tôi sẽ trích dẫn về ngụy biện từ Wikipedia vì đây là kiến thức tổng quát, các sách đều nói tương tự.
1. Trịnh Hữu Tuệ: … khi Trần Hữu Dũng bàn về dân chủ, khả năng một xã hội đa nguyên cho Việt Nam hoàn toàn không được ông đề cập tới một cách hiển ngôn. Trái lại, ông phàn nàn rằng dân Việt Nam trong và ngoài nước “cứ tối ngày ngồi than Việt Nam không có dân chủ.”[1]
Thử xem Trần Hữu Dũng [1] nói gì: Sở trường của tôi là đọc nhiều trào lưu kinh tế văn hoá. Tờ Thời Đại Mới của chúng tôi viết khoa học cho dân đọc, những vùng trống có thể làm được. Nếu không thử, sẽ không tìm ra cách. Ở ngoài nước, cứ tối ngày ngồi than Việt Nam thiếu dân chủ, nhưng có nhiều vấn đề ích lợi học thuật sao không làm. Không ai thử, chỉ ngồi than. Tiếp xúc trong nước tôi cũng thấy vậy, 2/3 câu chuyện là than phiền.
Ta thấy là Trịnh Hữu Tuệ đã lấy một vài chữ (chưa phải là một câu) của Trần Hữu Dũng từ một đoạn dài, rồi thổi lên thành ý chính. Ý ông Dũng đâu phải là chê việc “than Việt Nam thiếu dân chủ”, mà là chê những người chỉ biết than mà không làm gì thực tế. Fallacy này là quoting out of context (trích dẫn mà cắt bỏ ngữ cảnh khiến cho ý tưởng của người viết bị bóp méo).
2. Trịnh Hữu Tuệ viết: Ông đưa ra kết luận không lấy gì làm đáng ngạc nhiên rằng “liên hệ giữa phát triển kinh tế và thể chế chính trị (cụ thể là dân chủ) … vẫn chưa rõ ràng và … sẽ không thể rõ ràng, vì có quá nhiều thông số,” và tuyên bố rằng “để thẩm định tác động kinh tế của dân chủ, ta phải nhìn xa hơn chế độ đương thời, xét cả đến kỳ vọng của dân chúng (thậm chí của cả giới đầu tư nước ngoài) về sự ổn định của chế độ ấy.” Sau đó Trịnh Hữu Tuệ suy ra rằng Trần Hữu Dũng ủng hộ “các cơ quan tuyên truyền chính thống” của nhà nước trong việc đồng hóa dân chủ với mất ổn định, và do đó gây sự sợ hãi dân chủ nơi dân chúng, kể cả thanh niên.
Sự suy diễn này quá hấp tấp. Trần Hữu Dũng đứng trên quan điểm một nhà khoa học nói lên những sự kiện tổng quát. Nhận xét đúng vấn đề mới có thể tìm ra lối giải quyết đúng. Nếu biết rằng dân chúng sợ dân chủ làm mất ổn định thì những người tranh đấu cho dân chủ phải làm sao để dân chúng yên tâm hơn? Hoặc làm sao để dân chúng và nhất là giới trẻ đánh giá dân chủ cao hơn ổn định? Giữ ổn định theo kiểu này thì trong tương lai 10 năm, 20 năm, 50 năm Việt Nam sẽ đi tới đâu? Đó là những vấn đề chúng ta cần suy nghĩ và bàn cãi hơn là chụp mũ người viết.
Fallacies: 1/ Hasty generalization (vội vã nhảy tới kết luận từ bằng cớ mơ hồ), 2/ Appeal to consequences (nhận xét của Trần Hữu Dũng có thể đưa tới hậu quả không tốt nên câu đó sai, hoặc không nên nói ra), 3/ Appeal to motive (bác bỏ luận cứ vì tác giả có ý đồ không tốt).
3. Trịnh Hữu Tuệ: Trong tranh luận về tham nhũng, Trần Hữu Dũng cũng cho thấy rằng ông bám lề đường bên phải một cách tinh tế nhưng có lẽ là hăng hái hơn ông chịu công nhận. Tất cả những giải pháp ông đưa ra để giải quyết vấn đề khủng khiếp nhất hiện nay trong xã hội Việt Nam đều có xuất phát điểm là chính quyền nước này có thể cải thiện được. Ví dụ, ông nói rằng để giảm động lực tham nhũng, “cấp lãnh đạo” cần phải “thanh liêm và trong sạch.” Nhưng cái khả năng – kể cả về mặt lý thuyết – rằng “cấp lãnh đạo” không thể trở nên thanh liêm và trong sạch được nữa hoàn toàn không được ông nhắc tới.
Dựa trên việc Trần Hữu Dũng không nói một điều mà Trịnh Hữu Tuệ mong ông nói, Trịnh Hữu Tuệ kết luận rằng Trần Hữu Dũng bám lề bên phải một cách hăng hái. Đây là kiểu suy diễn thời đấu tố hay NVGP: tôi không thấy hắn đả đảo thực dân hay tư bản bao giờ, chắc hắn là Việt gian!
Fallacy: Argument from silence (Suy luận từ không nói: Trần Hữu Dũng không nói về chuyện X, do đó Trần Hữu Dũng cho là không có chuyện X!)
4. Trịnh Hữu Tuệ: Thậm chí, ông còn khuyên mọi người “nên thông cảm” với các nhà lãnh đạo, vì họ “dù có đánh giá cao các nghiên cứu kinh tế, cũng bị ràng buộc bởi những vấn đề khác, có những mục tiêu khác ngoài kinh tế, mà nhà kinh tế thuần tuý không nghĩ đến.”[3] Cấp lãnh đạo sẽ hoan nghênh sự “thông cảm” này.
Thử đọc toàn văn của Trần Hữu Dũng: Dù có những nghiên cứu thâm sâu về Việt Nam cũng không bảo đảm là chính sách kinh tế của ta sẽ tốt hơn. “Chất lượng” tối hậu của chính sách là tuỳ thuộc vào các nhà lãnh đạo mà, cũng nên thông cảm với họ, dù có đánh giá cao các nghiên cứu kinh tế, cũng bị ràng buộc bởi những vấn đề khác, có những mục tiêu khác ngoài kinh tế, mà nhà kinh tế thuần tuý không nghĩ đến.
Ở đây, Trần Hữu Dũng chỉ nói một sự thật hiển nhiên ở mọi nước, là chính sách kinh tế không phải chỉ dựa vào những mục tiêu kinh tế mà còn dựa vào các mục tiêu khác như chính trị, xã hội, quốc phòng v.v. Sáu chữ “cũng nên thông cảm với họ”, vốn là “throwaway line” (chêm vào) chẳng có ý nghĩa gì quan trọng, được thổi lên là “ông còn khuyên mọi người ‘nên thông cảm’ với các nhà lãnh đạo”.
Fallacy: “cắt bỏ ngữ cảnh”, đã nói ở trên.
5. Trịnh Hữu Tuệ viết: Cấp lãnh đạo sẽ hoan nghênh sự “thông cảm” này, và họ cũng sẽ hoan nghênh lời cảnh báo mà Trần Hữu Dũng đưa ra trong bài ‘Tham nhũng và tăng trưởng kinh tế’, rằng tham nhũng là một “hiểm họa quan trọng đặc biệt cho chế độ,” rằng phải coi chừng “sự bất bình của người dân đối với một chế độ xã hội chủ nghĩa… bị tham nhũng đục khoét.”
Một lần nữa, Trịnh Hữu Tuệ lấy một nhận xét của Trần Hữu Dũng để suy diễn hơi xa. Trần Hữu Dũng viết: “không giống những quốc gia tư bản mà sự công bằng xã hội không là một mục tiêu hàng đầu, bản chất của xã hội chủ nghĩa chính là sự công bằng đó. Như vậy, sự bất bình của người dân đối với một chế độ xã hội chủ nghĩa (do chính họ đã đóng góp xương máu để xây dựng) bị tham nhũng đục khoét sẽ gấp nhiều lần hơn sự bất bình trong những chế độ khác với cùng một mức độ tham nhũng“. Đó là một nhận xét khách quan, từ đó muốn suy diễn ra sao thì tùy người đọc. Chẳng hạn, Trịnh Hữu Tuệ cho rằng cấp lãnh đạo “không thể từ bỏ tham nhũng” được, mà sự tham nhũng đó thì lại là “hiểm họa quan trọng đặc biệt cho chế độ [XHCN]”, như vậy thì tức là, theo tam đoạn luận, Trịnh Hữu Tuệ có thể suy ra rằng ngày tàn của chế độ đã chắc chắn, và sẽ vui mừng hơn cấp lãnh đạo Việt Nam chứ!
6. Trịnh Hữu Tuệ: Như đã nói, Trần Hữu Dũng là một giáo sư có biên chế tại một trường đại học của nước Mỹ. Trong bối cảnh thế giới hiện tại, vị thế này khiến ông trở thành chuẩn mực cao nhất của tự do ngôn luận. Ông có điều kiện phát biểu những ý kiến mà rất nhiều người không bao giờ dám phát biểu, và phải nói rằng ảnh hưởng của ông đối với giới trí thức trẻ là rất lớn. Chính vì lý do đó, sự im lặng của ông về những khả năng chính trị rõ ràng là đang cần được tranh luận một cách cởi mở sẽ trở thành thông điệp mạnh mẽ về giới hạn của cái được nói, về những gì “đến giáo sư Mỹ còn chẳng dám bàn.” Bằng cách né tránh chủ đề đấu tranh dân chủ cho Việt Nam, ông đã vô tình giúp sức biến nó thành một chủ đề cấm kỵ, và đây là cách đấu tranh chống dân chủ một cách hiệu quả nhất.
Từ sự việc Trần Hữu Dũng không nói một số vấn đề gì đó, Trịnh Hữu Tuệ suy ra rằng Trần Hữu Dũng đang “đấu tranh chống dân chủ một cách hiệu quả nhất”! Cũng may chứ nếu Trịnh Hữu Tuệ và Trần Hữu Dũng sống ở Bắc Việt thời đấu tố-NVGP thì chắc ông Dũng không chết cũng tù mọt gông.
Fallacies: 1/ Argument from silence (đã nói ở trên), 2/ False dichotomy: cho rằng chỉ có hai lựa chọn (nói là tranh đấu cho dân chủ, không nói là tranh đấu chống dân chủ) trong khi sự thực có nhiều đường lối khác nhau.
7. Trịnh Hữu Tuệ: Tệ hại hơn nữa, sự né tránh của ông để lại cho người đọc ấn tượng về một nỗi sợ hãi, âm thầm và sâu sắc.
Đó là ấn tượng của Trịnh Hữu Tuệ. Không thể tổng quát hóa ấn tượng này cho mọi người đọc: nhiều khi (cũng như trong đầu óc nghi kị tới độ bệnh hoạn của công an cộng sản, nhìn đâu cũng thấy “địch”), ấn tượng nảy sinh từ đầu óc của người đọc chứ không phải từ cái mà họ đọc. Thực ra, không nói có thể vì nhiều lý do chứ không phải chỉ “sợ hãi, âm thầm và sâu sắc”.
Fallacy: Psychologist’s fallacy, tức là “suy bụng ta ra bụng người”.
8. Trịnh Hữu Tuệ trích dẫn Trần Hữu Dũng khen báo Công an Nhân dân “có mục văn hóa khá” và bảo câu đó chứng tỏ “nỗi sợ hãi… điều khiển suy nghĩ và lời nói của “nhà khoa học” một cách tàn nhẫn”. Nhưng thử nhìn lại context của câu đó:
Trần Hữu Dũng: Tôi không coi đó là tờ báo, chỉ thu thập những bài vở có nhiều người thích như tôi để chia sẻ với bạn bè. Tôi đọc không phân biệt. Bài hay ở nguồn nào cũng đăng. Tờ Công An Nhân Dân có mục văn hoá khá.
Tại sao Trần Hữu Dũng lại nói về CAND mà không nói về những báo khác mà ông hay trích? Dễ hiểu: Trần Hữu Dũng muốn nói ngay cả tờ báo thường được coi là lá cải, cơ quan của CA, mà cũng có những bài hay”. Tức là Trần Hữu Dũng muốn dùng CAND để nhấn mạnh cái ý “đọc không phân biệt” của mình. Vậy mà…
Fallacy: trích dẫn thiếu ngữ cảnh, đã nói ở trên.
9. Trịnh Hữu Tuệ: Về những cái không được “khá” cho lắm của tờ báo [CAND] này, ông không có phát biểu gì chính thức.
Fallacy: Argument from silence, đã nói ở trên.
10. Trịnh Hữu Tuệ: Nỗi sợ hãi của ông còn xuất hiện trong những chi tiết nhỏ khác, ví dụ như trong đoạn đầu bài “Ta cần biết ta hơn nữa,” khi ông nói “có người (như nhà kinh tế nổi tiếng Jagdish Bhagwati, nguyên cố vấn cho Tổng thư ký WTO) khẳng định rằng vài nước (ông có nêu tên, nhưng người viết bài này không dám lặp lại vì hơi… nhạy cảm!) đã gia nhập WTO khá dễ dàng chỉ vì họ hạ bút ưng thuận soàn soạt mọi điều kiện mà đối tác đặt ra.”
Trần Hữu Dũng viết bài này cho một tờ báo trong nước (Thời báo Kinh tế Sài Gòn) nên ông không nêu ra chữ “Việt Nam” mà chỉ nói (theo tôi, một cách hài hước) là “không dám lặp lại vì hơi… nhạy cảm”. Sự thực, ông có gì mà sợ? Cùng lắm là sợ đoạn này bị cắt sửa. Mặc dầu vậy, cách “nói chữ” của ông nó rõ ràng đến nỗi không thể gọi là bóng gió được. Suy diễn rằng câu đó biểu hiện sự sợ hãi thì thật vô lý.
Fallacy: Non sequitur (“it does not follow”): kết luận không ăn nhậu với tiền đề.
Tổng kết, fallacies nhiều nhất trong bài của Trịnh Hữu Tuệ là “trích dẫn thiếu ngữ cảnh” và “suy luận từ sự không nói”.
*
Sang phần hai, tôi xin nói về việc tại sao nhiều trí thức đại học ở hải ngoại hay giữ im lặng về chính trị. Đây là cái nhìn riêng của tôi, dựa theo sự quan sát nhiều người trong giới này kể cả vài người được réo tên gần đây.
Ông Trịnh Hữu Tuệ cho rằng đó là vì họ sợ. Điều đó đều có thể có ở một số ít nhưng không phải là lý do chính. Những người đã lớn tuổi, có công việc, chức vị vững vàng ở hải ngoại, thậm chí nổi tiếng và được đồng nghiệp kính trọng, không có lý do gì để sợ chính quyền Việt Nam. Những trường hợp như Nguyễn Hưng Quốc bị chặn ở phi trường phải nói là rất ít. Trái lại, những người to mồm chống cộng ở hải ngoại được về nước đi lại tự do không phải là hiếm.
Có người cho rằng họ im lặng vì hy vọng được làm một quyền cao chức trọng gì đó ở Việt Nam. Chuyện đó hoàn toàn vô lý. Thử hỏi đã bao nhiêu người trí thức đại học được quyền cao chức trọng như vậy? Những người mà tôi biết đã trở về Việt Nam làm việc dài hạn hay vĩnh viễn, là do ý nguyện đóng góp cho đồng bào và họ phải hy sinh rất lớn.
Một lý do quan trọng ở nhiều người là họ đang giúp đỡ, cộng tác với các đại học hay cơ quan khác trong nước một vấn đề chuyên môn gì đó, có thể là coi một luận án, cộng tác một dự án nghiên cứu, hay phổ biến thông tin, nói tóm lại là đóng góp cái gì thực tế. Giống như những người làm việc từ thiện thực sự (không phải để “lấy điểm”, quảng cáo, tuyên ngôn), họ không muốn dự án bị trở ngại hay cộng tác viên trong nước của họ bị phiền phức. Gọi là “sợ” cũng được, nhưng không phải là sợ cho bản thân họ, và bất cứ ai cố vấn hay làm từ thiện trong nước cũng phải vậy thôi. Trường hợp của bác sĩ Nguyễn Văn Tuấn là một ví dụ: ông đã cộng tác và giúp đỡ rất nhiều cho Việt Nam về y tế và giáo dục, và không ngại lên tiếng về những yếu kém hay bê bối trong những địa hạt này. Ông chẳng có lý do gì để “sợ” cho bản thân cả, nhưng nếu gặp phiền phức chính trị thì chỉ những sinh viên, giáo sư, bác sĩ và thường dân ở nhà đang được ông giúp đỡ bị thiệt thòi. Về Trần Hữu Dũng, tôi đoán ông có quan điểm thông thường của một giáo sư đại học: tương lai Việt Nam ở trong tay giới trẻ Việt Nam, và cách giúp đỡ tốt nhất là đóng góp thông tin mọi chiều để giúp họ tự suy nghĩ và tìm ra con đường thích đáng, dù rằng có thể không phải là con đường mà ông (hay người khác) nghĩ là tốt nhất. Một ví dụ tương tự là ông Dương Danh Huy khi ông này giải thích rằng ông muốn phổ biến kiến thức về chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông và Hoàng Sa-Trường Sa cho thanh niên trong nước, nên phải dè dặt trong việc chỉ trích chính quyền. Ông Huy cũng thường được tặng nón cối.
Còn một lý do quan trọng nữa cần phải nói ra. Sống trong giới đại học hay nghiên cứu, người trí thức thấm nhuần lối suy nghĩ cẩn trọng, duy lý trí, tôn trọng sự thật cũng như tinh thần tự do của giới đại học Tây phương và do đó họ không có cảm tình gì với chế độ độc tài, tham nhũng, bất công, tham quyền cố vị, bóp nghẹt tự do tư tưởng ở Việt Nam. Giữa một đám với nhau, họ có thể và thậm chí thường xuyên công kích chế độ một cách nặng nề chẳng kém gì nhóm nào khác. Nhưng, cũng vì thấm nhuần những giá trị trí thức vừa nói, họ vô cùng phản cảm với cách hành xử của những nhóm chống cộng cực đoan: những lời lẽ mù quáng, suy nghĩ bầy đoàn, những thủ đoạn gian dối, bịa đặt, chụp mũ, phỉ báng, ngụy biện v.v. mà ta vẫn thấy tràn ngập ở hải ngoại (tôi có thể nghĩ tới một vài ví dụ gần đây ở ngay trên talawas). Xin nhấn mạnh là không phải người chống cộng nào cũng như vậy, nhưng số người hành xử như trên thường là ồn ào nhất và được coi là hình ảnh tiêu biểu.
Với trí thức, sự khả tín (credibility) vô cùng quan trọng nên họ rất “sợ” bị đánh đồng với những nhóm chống cộng theo kiểu “anything goes” đó – chữ “sợ” đây không phải là fear mà là distaste. Và do đó, họ rất dè dặt. Mỗi khi có tin gì về những việc xấu xa trong nước, họ muốn kiểm chứng và ngần ngại lên tiếng vì e lại chỉ là chuyện bịa đặt hay phóng đại từ một nhóm hải ngoại, hoặc nếu không có thì giờ hay phương tiện kiểm chứng thì để đó đã. Nếu lên tiếng, họ muốn tiếng nói của mình phải hoàn toàn tách biệt khỏi tiếng nói của các thành phần cực đoan, mà chuyện đó nhiều khi không dễ. Kiến nghị về bauxite, nhờ khởi sự từ trong nước chứ không phải từ hải ngoại, nên đã nhanh chóng được sự hưởng ứng của họ. Vụ Biển Đông cũng có thể có tác dụng tương tự, vì có phản ứng ngay từ trong nước. Hy vọng sẽ tiếp tục có những dịp khác để trí thức hải ngoại ủng hộ người trong nước tương tự như những vụ này.
Bình luận
13 Comments (bài “Phạm Quang Tuấn – Về Trịnh Hữu Tuệ và sự im lặng”)
Tôi thấy bài viết dài dùng tu từ học của Ông Phạm Quang Tuấn để phân tích và đả kích bài gốc của Trịnh Hữu Tuệ, và sau đó Thanh Châu đã có bài vạch rõ những lỗi “ngụy biện” của chính Phạm Quang Tuấn, chứng tỏ chuyện hành không đi đôi với học.
Phạm Quang Tuấn liệt kê những nguồn tham khảo về “fallacy – ngụy biện”, thường được gọi là những lỗi lý luận (logical fallacies ~ errors of reasoning), để rồi phạm ngay những lỗi ấy trong chính phần phản bác của mình! Học mà không hành, không biết áp dụng thì sự biết đó vô cùng nguy hiểm (a little knowledge is a dangerous thing!)
Có một lối thảo luận mà tôi dị ứng nhất là khi nào khó hoặc không thể trình bày rõ ràng, khúc chiết quan điểm của mình, nhiều người dùng ngay từ “biện chứng.” Tôi nôm na hiểu rằng “biện chứng” chỉ là chứng minh bằng ngụy biện mà thôi!
Vấn đề thảo luận sẽ sáng tỏ hơn nếu ta chia những người được đi học ra 4 thành phần: khoa bảng, chuyên gia, trí thức và sĩ phu.
Nhà khoa bảng chưa hẳn là chuyên gia nếu môi trường đào tạo và thi cử thiếu chuẩn hay không phấn đấu tiến tu sau khi lãnh bằng.
Chuyên gia không hẳn là trí thức nếu kiến thức, quan điểm, suy nghĩ, khám phá chân thật của mình về nhân quần xã hội không được trao đổi với các chuyên gia khác và được đa số chấp nhận.
Trí thức không là sĩ phu nếu không can đảm thẳng thắn phát biểu công khai những quan điểm về xã hội đã được đa số các nhà trí thức chấp nhận và sau đó vận động hay góp công trong công tác cải cách xã hội, dân sinh, bất kể khó khăn nguy hiểm.
Rất tiếc tiến trình lột xác để thăng hoa của những người đi học Việt Nam bị ngăn trở rất nhiều vì tình trạng thiếu tự do và kỳ thị (Xem Nguyễn Thanh Giang, 1997, “Cần chấm dứt chính sách kỳ thị”).
Vai trò của trí thức đã được thảo luận rất nhiều trong thập niên 90 thế kỷ trước trên các diễn đàn hải ngoại. Rất nản lòng khi thấy hơn mười năm đã qua trí thức hải ngoại vẫn còn mãi băn khoăn với “im lặng”, “lên tiếng”, “đối kháng”, “hoà hợp”, “kiên định”, “hợp tác”…
Tôi nghĩ Việt Nam có thể thay đổi nhanh để tiến bộ, bắt kịp lân bang nếu nhà nước cộng sản tạo thêm điều kiện cho nhiều người đã được đi học trở nên những sĩ phu nước Việt hơn. Khi ước mơ này thành hiện thực, chúng ta sẽ không còn thấy những ẩn sĩ than thầm “hà sĩ phu?” (Ai là sĩ phu đây?).
Cảm ơn ông Phạm Quang Tuấn về bài viết minh bạch, hữu ích, và mực thước. Tôi nghĩ thế là đã quá đủ. Chúng ta, dù đồng ý hay vẫn còn bất đồng, nên tìm một tranh luận lý thú và bổ ích khác nhé.
Tôi xin cám ơn những người đã phản hồi và cáo lỗi là sẽ không tiếp tục tranh luận trừ phi có ý kiến gì thực sự mới. Riêng ý kiến của ông T. Phan Binh An, về chuyện viết bài về phương pháp lập luận, tranh cãi, tôi xin tiếp nhận và cố gắng.
Ông Phạm Quang Tuấn viết nhiều lần bài của ông Trịnh Hữu Tuệ và những góp ý của nhiều người ở đây đồng tình ít nhiều với cách nhìn của tác giả, giống như trường hợp đã xảy ra ở miền Bắc năm 1956 (và sau đó) đối với nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, chẳng hạn như câu viết sau đây:
“Đây là kiểu suy diễn thời đấu tố hay NVGP: tôi không thấy hắn đả đảo thực dân hay tư bản bao giờ, chắc hắn là Việt gian!” (PQT)
Xin ông Tuấn dẫn chứng vài sự kiện có thật, chỉ ở trường hợp NVGP cho gần gũi, là ông Trần Hữu Dũng đã bị suy diễn như thế nào để bị tố cáo hay “kết tội” gì đó, cụ thể là so sánh ông Dũng với nhân vật nào rõ rệt trong các ông Phan Khôi, Trần Dần, Hoàng Cầm, Nguyễn Hữu Đang…
Khi tôi nghĩ ông Dũng thuộc nhóm “Việt kiều yêu nước”, hay có người cho là “trí thức thiên tả”, (và ông Tuệ cho rằng ông ấy “im lặng”), thì (chúng) tôi cho đó là những nhận xét khách quan, và có thể đúng hoặc sai, chứ không hề có ý tố cáo, buộc tội gì (không có thật). Một sự nhận diện bình thường, có thể xày ra khi đối mặt ai.
Ông Tuấn nên dẫn chứng cho rõ điều ông viết như trên để không bị rơi vào trường hợp ông gán cho lý luận của người khác là “fallacies”.
Ở chỗ khác, ông Tuấn trích câu viết của ông Tuệ: “Bằng cách né tránh chủ đề đấu tranh dân chủ cho Việt Nam, ông đã vô tình giúp sức biến nó thành một chủ đề cấm kỵ, và đây là cách đấu tranh chống dân chủ một cách hiệu quả nhất.” (THT)
Và ông Tuấn hiểu chệch ý đi để kết tội ông Tuệ:
“Từ sự việc Trần Hữu Dũng không nói một số vấn đề gì đó, Trịnh Hữu Tuệ suy ra rằng Trần Hữu Dũng đang “đấu tranh chống dân chủ một cách hiệu quả nhất”! Cũng may chứ nếu Trịnh Hữu Tuệ và Trần Hữu Dũng sống ở Bắc Việt thời đấu tố-NVGP thì chắc ông Dũng không chết cũng tù mọt gông.” (PQT)
Một người đọc ông Tuệ như tôi hiểu câu viết “… biến nó (chủ đề đấu tranh dân chủ) thành một chủ đề cấm kỵ, và đây là cách đấu tranh chống dân chủ một cách hiệu quả nhất” là một nhận xét chung về cách mà nhà cầm quyền trong nước có thể làm, hay đang làm, chứ không phải tố cáo ông Dũng có dụng ý hay đang làm điều đó, tuy rằng theo ông Tuệ thì ông Dũng có thể “vô tình giúp sức”.
Toàn bài ông Tuệ coi như sự nhận xét hay phê phán một số trí thức ngoài này (là độc giả của họ ông có quyền đó) có điều kiện để gióng lên tiếng nói ủng hộ cuộc tranh đấu cho dân chủ trong nước, nhưng họ đã chọn im lặng, và ông Dũng là một trường hợp điển hình. Tôi viết “đã chọn” vì không nghĩ là họ vô tình im lặng khi có thể và điều kiện để nói. Vì là người chủ trương trang mạng “Việt-studies” (cùng với tạp san “Thời Đại Mới”) có nhiều độc giả, ông Dũng có thể phải đón nhận những phê phán đó, dù khen hay chê, rất tự nhiên và cần thiết nữa, giống trường hợp đã xảy ra đối với tạp chí Nam Phong, với nhóm Tự Lực Văn Đoàn thời xưa (tôi hoàn toàn không có ý so sánh (bất cập) ông Trần Hữu Dũng với Phạm Quỳnh, hay Nhất Linh).
Có thể vài người cũng nghĩ như tôi khi đọc bài viết của ông Trịnh Hữu Tuệ (khi họ đồng ý ít nhiều với ông Tuệ ở đây). Sau cùng, tôi nhắc lại vì ảnh hưởng của ông Trần Hữu Dũng khá lớn căn cứ vào số người đọc ông, nên “nhận diện” ra ông Trần Hữu Dũng như thế nào là điều bình thường và nên làm, và ở đây, như bài ông Trịnh Hữu Tuệ viết, chỉ nằm trong nhận xét hạn chế về phương diện đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam. Những ai ủng hộ ông Dũng khi phê phàn bài ông Tuệ, nên làm sáng tỏ vai trò ông Dũng trong cuộc đấu tranh đó.
Tôi nghĩ là không ai có thể cấm ông Trần Hữu Dũng (THD) lựa chọn phương pháp làm việc của mình với «trong nước» và cũng không ai có thể cấm ông Trịnh Hữu Tuệ (THT) phê phán phương pháp làm việc này của ông THD. Đó là nguyên tắc cơ bản nhất của quyền tự do cá nhân. Nhưng bài phê phán của ông Phạm Quang Tuấn đã đi quá xa (như thường lệ) với những gì mà ông THT đã viết trong bài. Ở đây tôi chỉ đưa ra vài thí dụ:
1/ Trần Hữu Dũng (THD): «Sở trường của tôi là đọc nhiều trào lưu kinh tế văn hoá. Tờ Thời Đại Mới của chúng tôi viết khoa học cho dân đọc, những vùng trống có thể làm được. Nếu không thử, sẽ không tìm ra cách. Ở ngoài nước, cứ tối ngày ngồi than Việt Nam thiếu dân chủ, nhưng có nhiều vấn đề ích lợi học thuật sao không làm. Không ai thử, chỉ ngồi than. Tiếp xúc trong nước tôi cũng thấy vậy, 2/3 câu chuyện là than phiền.»
Ở điểm này ông THD nói khá rõ ràng: dân chủ chỉ là thứ yếu, đứng sau «lợi ích học thuật». Ông THD phê phán mọi người không chịu đi «làm học thuật» mà cứ ngồi đó than van (thiếu dân chủ).
Ông Trịnh Hữu Tuệ (THT) phê bình: «khi Trần Hữu Dũng bàn về dân chủ, khả năng một xã hội đa nguyên cho Việt Nam hoàn toàn không được ông đề cập tới một cách hiển ngôn. Trái lại, ông phàn nàn rằng dân Việt Nam trong và ngoài nước “cứ tối ngày ngồi than Việt Nam không có dân chủ.”»
Theo tôi là hợp lý.
Ông PQT viết: «Ta thấy là Trịnh Hữu Tuệ đã lấy một vài chữ (chưa phải là một câu) của Trần Hữu Dũng từ một đoạn dài, rồi thổi lên thành ý chính. Ý ông Dũng đâu phải là chê việc “than Việt Nam thiếu dân chủ”, mà là chê những người chỉ biết than mà không làm gì thực tế. Fallacy này là quoting out of context (trích dẫn mà cắt bỏ ngữ cảnh khiến cho ý tưởng của người viết bị bóp méo).»
Ở đây ông Phạm Quang Tuấn (PQT) đã suy diễn rất sai về lời phê bình của THT, thậm chí sai luôn nội dung lời nói của THD.
Ý chính của THD trong câu trên là chê những người cứ than van VN không có dân chủ mà không chịu đi làm học thuật.
Ông THD phê bình như thế là sai, 2/3 người mà ông tiếp xúc than van VN thiếu dân chủ vì họ cần dân chủ. Có thể ông THD không quan tâm đến dân chủ nên không thấy nhu cầu cấp bách của người khác. Mặt khác sao ông THD biết họ không (đang) làm học thuật?
Nếu chẻ sợi tóc làm 4 thì phải là như thế. Lời phê bình của THT hoàn toàn đúng.
2/ Về tương quan giữa kinh tế và dân chủ, ở đây, để có một kết luận (hay phê phán) ai đúng ai sai, thì phải có cả một bài phân tích (khoa học). Bài của ông THD có nhiều điểm không thuyết phục, ông THT đã lên tiếng ở một số điểm chính, tôi cho rằng ông THT hợp lý.
Trong phần kết luận bài viết, ông THD viết: «Cũng nên thêm một nhận xét: dù có cho rằng dân chủ sẽ có lợi cho phát triển, lộ trình dân chủ hoá của một quốc gia không đang là dân chủ tuỳ thuộc vào bối cảnh lịch sử, xã hội, và chính trị cá biệt của quốc gia ấy.»
Đây là lý lẽ bênh vực của THD chế độ độc tài ở VN: do bối cảnh lịch sử, xã hội và chính trị.
THT phê phán «Trần Hữu Dũng bám lề đường bên phải một cách tinh tế» thì đúng quá thôi!
3/ Tranh luận về tham nhũng, có lẽ cũng cần phải có một bài nghiên cứu nghiêm túc về quan hệ giữa tham nhũng – dân chủ – phát triển.
Ông THD tin tưởng vào yếu tố con người «cấp lãnh đạo” cần phải “thanh liêm và trong sạch.”». Nhưng thực tế cho thấy chưa thấy một xứ độc tài nào trừ được nạn dân chủ. Chế độ độc tài là «mẹ đẻ» của tham nhũng. Do đó, muốn diệt tham những phải có dân chủ.
Ở điểm này ông THT cũng phê bình đúng.
Xin ngừng ở đây. Tôi nhận thấy hầu hết các phê bình của THT về THD đều có căn cứ, bằng chứng cụ thể. Tôi có góp ý lần trước với tên Duy_C, tôi vẫn giữ nguyên ý kiến trong góp ý đó.
Với một người có khả năng đưa ra những “phản biện” như ông Trần Hữu Dũng đối với “hoàn cảnh” Việt Nam hiện nay, một số người (thậm chí không ít người ở trong nước) cũng muốn ông “không im lặng”. Tuy nhiên, những phản biện (nặng-nhẹ) như thế nào là quyền của ông Trần Hữu Dũng.
Đọc hết những bài ông Dũng viết và cả những bài ông dẫn nguồn, cho thấy không phải không có những “ẩn ý” đối với cách làm của những lãnh đạo trong nước: họ cần nhìn nhận đúng hơn về vai trò, vị trí của người trí thức hải ngoại. Cái tôi của ông Dũng cũng lớn lắm chứ!
Chê “cộng sản”, phản biện “cộng sản” mà ở tầm chính xác cao thì đó là mong muốn có không ít người “cộng sản”. Còn nếu cái gì dính đến cộng sản cũng nhìn nó là thối nát; việc làm gì của cộng sản cũng xấu xa cả thì chắc ông Trần Hữu Dũng thừa bản lĩnh để không đứng vào hàng ngũ này. Đó cũng là một trong những thái độ độc lập của trí thức.
Ông Trịnh Hữu Tuệ, có thể muốn ông Trần Hữu Dũng hãy thể hiện một quan điểm (phản biện) rõ ràng hơn về vấn đề Biển Đông hay Bauxite chẳng hạn thì cũng là điều hết sức bình thường. Nhưng ông Trần Hữu Dũng có thể có những phương pháp nào đó có ích cho tình hình trong nước mà không cần phải động đến những vấn đề chưa rõ diễn biến sẽ đi đến đâu (hoặc nếu đi đến đâu đó thì cũng là một “hậu quả” hay “hệ lụy” đầy rủi may). Thời cơ có thể là thách thức, và thách thức có thể là thời cơ. Ông Trịnh Hữu Tuệ cũng có thể hỏi vì sao ông Trần Hữu Dũng im lặng, nhưng trước khi hỏi cần “định lượng” xem có bao nhiêu trí thức hải ngoại im lặng. Và “định tính” xem họ im lặng vì họ muốn tốt cho nước Việt Nam mà những người cộng sản đang nắm quyền, hay họ nghĩ nói ra sẽ “vẽ đường cho hươu chạy”, Việt Nam sẽ mạnh lên. Động cơ của việc nói (và im lặng) là rất khác nhau ở những người trí thức hải ngoại vậy. Hơn nữa, những lợi ích hỗn độn cũng có thể được núp dưới sự “đồng thuận”, “đồng thanh” (ban đầu).
Trước những sự việc “bế tắc” tại sao không chuyển hướng? Nhật, Ấn Độ, sự đoàn kết trong khối Asian (cần phải có những nhượng bộ về lợi ích chung) có nên “gần gũi” nhiều hơn nữa, đẩy mạnh quan hệ nhiều hơn nữa? (thay vì chỉ ngắm đến Mỹ). Trung Quốc rất có biệt tài “chia để trị”. Nói mãi về bauxite, về Biển Đông mà không tiến hành những bước đi thực tế thì có ích lợi gì. 100 triệu cái miệng có bằng hơn một tỷ cái miệng không?
Thực tế ở Việt Nam tôi thấy đang xuất hiện sự phân hóa và chia tuyến trong vấn đề Biển Đông, bauxite Tây Nguyên. Vấn đề “bài Hoa” dù không muốn thì cũng đang xảy ra, và bị hiểu một cách lệch lạc, nguy hiểm, nhất là khi nó trở nên “phổ thông” hóa. Bên ngoài chia rẽ, bên trong cũng chia rẽ. Đó không phải là mối nguy là gì.
Tôi thích bài viết này của ông Phạm Quang Tuấn.
Theo tôi nghĩ, ông Trần Hữu Dũng không hề im lặng, né tránh gì cả. Ông ấy chỉ lên tiếng theo cái cách mà ông ấy cho là thích hợp với bản thân, phù hợp với hoàn cảnh, mang đến hậu quả cho đối tượng muốn nghe ông ấy trình bày. Tôi nghĩ ông Dũng có quyền chọn một thái độ như vậy, dù ông ấy đang sống ở đâu, ở Mỹ hay Việt Nam. Không ai có thể bắt ông ấy phải nói như thế này như thế nọ. Buộc ông ấy phải nói thế này chứ không thế nọ là xúc phạm. Nhất là khi qua chuyện viết lách này, cố ý đụng chạm tới nhân thân ông ấy.
Về phần ông Trịnh Hữu Tuệ tôi thấy cũng như vậy. Theo tôi hiểu, ông Tuệ có ý muốn ông Dũng phát biểu những vấn đề mà ông ấy đã phát biểu (ở đây nóng bỏng là vấn đề dân chủ) một cách minh bạch, công khai trực tiếp với nhà nước Việt Nam, không để thanh niên Việt Nam mơ hồ, né tránh. Tôi nghĩ ông Tuệ cũng có quyền như vậy và không ai có thể viện lý do gì để chê trách và khuyên ông Tuệ phải “im lặng”, vì đó cũng là quyền tự do của một cá nhân.
Sự việc chỉ trở nên rắc rối rồi gây tranh cãi là cái cách phát biểu, chứng minh của ông Tuệ đối với ông Dũng, đặc biệt khi ông Tuệ dựa vào một số bài ông Dũng đã viết trên viet-studies để suy luận. Và sự không ổn trong cách chứng minh và suy luận của ông Tuệ như thế nào thì nhiều người đã trình bày rồi, đầy đủ và thuyết phục nhất là bài viết có tính chất hệ thống của ông Phạm Quang Tuấn. Vấn đề rút lại chỉ có như vậy và ông Dũng không lên tiếng là dễ hiểu. Nhưng tôi nghĩ điều đáng quan tâm hơn ở đây không phải là ý kiến này nọ về ông Dũng mà là vấn đề phương pháp lập luận, tranh cãi.
Tôi muốn nhắc lại một lần nữa rằng tôi chia sẻ hoàn toàn thái độ của ông Phạm Quang Tuấn. Nhận thấy ông Tuấn nhiều lần có nói đến vấn đề này, tôi đề nghị, nếu được, ông bỏ chút thì giờ trình bày thành một bài đầy đủ, thiết tưởng điều đó sẽ có ý nghĩa với những ai từng mong muốn talawas trở nên một “diễn đàn trí thức” thật sự.
Theo tôi thông điệp quan trọng nhất trong bài của Trịnh Hữu Tuệ là: nếu những người ở vị trí
1) có một ảnh hưởng không phải là nhỏ đối với việc hình thành quan điểm và tư tưởng trong xã hội
2) có một vị trí hay hoàn cảnh cho phép mình không phải tránh né bày tỏ quan điểm của mình
mà lại chọn thái độ né tránh hay im lặng trước những câu hỏi, vấn đề chính trị nhạy cảm, thì điều đó là có hại.
Đọc những điều ông Phạm Quang Tuấn viết, tôi chưa thấy là ông Trần Hữu Dũng nằm ngoài “tiêu điểm” của Trịnh Hữu Tuệ, tức là sự phê phán của ông Tuệ với trường hợp ông Dũng vẫn chưa bị vô hiệu.
Các lý do bên trong để ông Dũng chọn thái độ không bao giờ trực tiếp bày tỏ quan điểm chính trị của ông ấy với chính quyền Việt Nam hiện tại dù là thế nào chăng nữa thì sự im lặng của ông ấy vẫn là một thông điệp. Có thông điệp của lời nói ra. Có thông điệp của sự im lặng.
Nhưng câu hỏi của tôi với ông Tuệ là:
1) Ông Dũng có quyền được im lặng như vậy không? (Theo tôi là có.)
2)Nếu quả thực ông Dũng không chống lại chế độ chính trị hiện nay của Việt Nam mà chỉ muốn góp phần mình làm cho nó được tốt hơn thì sao? Nghĩa là quả thực ông ấy tin vào sự có thể tự cải tạo của hệ thống chính trị Việt Nam thì sao? Thì sự im lặng của ông ấy là phù hợp với xác tín chính trị của ông ấy. Ông ấy có quyền làm như vậy không? (Theo tôi là có.)
Nếu ông Tuệ cũng đồng ý với tôi trong cả hai điểm này thì theo ông Tuệ, sự phê phán ông Dũng của ông có hợp lý không?
Bài này nên lấy tựa là ” Trịnh Hữu Tuệ và sự không im lặng” hoặc ” Sự không im lặng của Trịnh Hữu Tuệ”.
Cái “hở” logic kiểu “1+1=2″ lớn nhất của ông Tuệ là “không im lặng” về cái “im lặng”. Cái “im lặng” thì nó vô cùng và “mênh mông” lắm, mà nói về cái “vô cùng” thì sa vào cái “hố thẳm logic” là điều chắc chắn.
Để nói về cái “im lặng”, tốt hơn hết là dùng cách “vô ngôn” như các thiền sư vậy!
Bài viết rất hay, rất sâu sát và toàn diện. Tôi nghĩ sau bài viết này của ông Phạm Quang Tuấn chúng ta có thể kết thúc được vấn đề ông Tuệ vu oan cho ông TH Dũng.
Tôi cũng đồng ý với lý giải về sự im lặng của ông TH Dũng. Đây cũng đơn giản là cái kinh nghiệm, cái khôn của ông cha ta, vẫn được áp dụng hàng ngày: một điều nhịn thì chín điều lành, có nhịn việc cỏn con thì mới lo được việc lớn. Vả chăng (đây chỉ là cảm giác của tôi, qua cái thế giới bé nhỏ mà tôi biết), người Việt thật sự yêu hòa bình và sự ổn định (trái lại với người Âu thường coi trọng các thứ khác như vật chất, tự do, v.v. ). Cho nên họ sẵn sàng chịu đút lót tiền để lo cho con cái mình có một chỗ làm tốt, hay chịu nộp tiền cho những công chức đi hạch sách họ, hay thường thấy nhất là nộp tiền cho công an giao thông rồi đi cho rảnh (tất nhiên trường hợp này thì họ sai từ đầu). Và thời xa xưa thì các nhóm người trong Bách Việt cứ di cư dần về Nam, theo như tôi nghĩ, cũng là vì tránh phải đao thương với người Tàu. Bản thân tôi rất khâm phục và yêu kính phẩm chất này, vì con người ta dám hy sinh rất nhiều chỉ để mua lấy chữ bình yên cho người thân và bản thân.
Theo tôi, Trịnh Hữu Tuệ không nhìn thấy khả năng thay đổi đất nước nhanh nếu như không đánh đổ được cái tâm lý “an phận” này. Giáo sư Dũng theo tôi là vật thí cho ông Tuệ, cho nên tôi không ngạc nhiên khi bài viết này không đủ sức để thuyết phục mọi người. Ở phần phản hồi ở bài viết cũ, mọi người rơi vào một cái vòng: những người có cảm tình với ông Dũng thì mổ xẻ bài viết ông Tuệ, đồng thời bào chữa cho xã hội Việt Nam; trong khi những người đứng về phe ông Tuệ thì lại chả quan tâm đến bài ông Tuệ viết, nhưng cũng rất say sưa phê phán Việt Nam. Một người không rành về các thuật ngữ chuyên môn như tôi chỉ thấy cảnh ông chẳng bà chuộc, hai bên cãi nhau mà lại đỡ hụt đòn của nhau, trong khi vẫn cứ cãi vì còn cái vế thứ hai: Việt Nam. Nhưng ngoài những phần “mạt sát” ông Dũng ra, tôi nghĩ ông Tuệ có một cái nhìn rất sắc sảo (và có lẽ công bằng) về xã hội Việt Nam (cũng bị tấn công nhưng theo tôi là không hiệu quả). Tôi mong người đọc dù bất bình thay cho ông Dũng không vì giận mà phủ nhận các giá trị khác của bài viết.
Vấn đề là: người ta có sẵn sàng vứt bỏ đi cái bản tính hiền hòa của mình đi để giận dữ giành lấy những cái mình xứng đáng được có, hay là ông Tuệ chỉ bỏ công Dã Tràng mong thay đổi bản chất của một dân tộc (mặc dù người ta vẫn hay nói con giun xéo lắm cũng quằn). Liệu người ta (thử nghĩ đến đại đa số người dân lao động) có cần tất cả những thứ quyền lợi mà những người có học mang về từ phương Tây, nơi mà con người có những giá trị khác với chúng ta.
Nhắn nhỏ với ông Anh Dũng: việc ông trích dẫn chữ “khoa học, logic” của tôi chứng tỏ ông vẫn còn rất không vui về những phản hồi trước của tôi. Tôi thấy rất buồn cười.
Thưa ông Quang Tuấn!
Một kết luận về sự ảnh hưởng xấu (e ngại đề cập đến chính trị) bởi ông GS Trần Hữu Dũng được cấu thành từ một loạt các “logic, khoa học” không thuyết phục của ông Tuệ – mà ngay cả ông Tuệ lẫn nhiều người ủng hộ ông ta cũng không bảo vệ nổi khi tôi (Anh Dũng) bác lại.
Cuối cùng, họ khuyên mọi người nên tập trung vào kết luận, ủng hộ kết luận và bỏ qua những cái “logic, khoa học” cấu thành dù cho chúng sai lầm hoặc thiếu thuyết phục đi chăng nữa.
Thế thì cũng chẳng khác gì họ bảo mọi người: Hãy tin rằng tôi đúng, hãy ủng hộ tôi, hãy tin vào thiện chí và bụng dạ lương thiện của tôi mặc dù mọi lý lẽ, bằng chứng của tôi đều sai lầm hoặc không thuyết phục!
Ông Tuệ và những người ủng hộ ông ta đang kêu gọi sự thương hại và niềm tin vô điều kiện của mọi người đấy ông Quang Tuấn ạ!
Tôi tán thành 100% bài viết của ông Phạm Quang Tuấn. Ông Tuấn đã đi thẳng vào trung tâm của vấn đề cần bàn luận về bài viết của Trịnh Hữu Tuệ. Tóm tắt, tôi thấy THT muốn nói với ông Trần Hữu Dũng như vầy: Tôi muốn ông Dũng nói về dân chủ ở Việt Nam để chứng minh rằng chế độ chính trị ở Việt Nam hiện nay là độc tài, thối nát, cần phải tố cáo thì ở vị trí của ông, ông lại nói chuyện tổng quát ở đâu đâu, nào là dân chủ và phát triển kinh tế, tham nhũng và hiệu quả kinh tế v.v… và như vậy ông không thể chối cãi rằng ông đã né tránh vấn đề dân chủ nóng bỏng của Việt Nam, sự im lặng đó có tác dụng làm lợi cho cộng sản độc tài. Và để chứng minh nhận định ấy, THT đã căn cứ vào một vài bài viết của THD trên viet-studies để biện luận, như vậy vấn đề cần tìm hiểu ở đây không có gì khác là cái cách đọc của THT với những bài viết của THD, và cách đọc ấy cần được xét xem có đạt được mục đích mong muốn hay không mà thôi. Tôi thấy ý kiến của classicalmood và của một vài người bám sát nội dung bài viết của THT, bây giờ được Phạm Quang Tuấn nói rõ thêm , đã giải quyết xong mọi chuyện rồi. Nghĩa là THT đã đọc THD một cách xuyên tạc, suy diễn, gán ghép rất liều lĩnh, không có gì gọi được là đứng đắn cả. Tôi cho rằng nên chuyển sang chuyện khác, nếu cứ dựa vào cách lập luận ấu trĩ đó của THT để nói lung tung về cá nhân ông THD một cách ngoại đề chúng ta sẽ rơi vào một cuộc bàn tán không thích hợp với sự thảo luận cần có cho một diễn đàn nghiêm túc.