talawas blog

Chuyên mục:

Phan Xuân Sinh – Một giai đoạn ngậm ngùi (1)

26/07/2009 | 1:15 sáng | 9 Comments

Tác giả: Phan Xuân Sinh

Category: Chiến tranh Việt Nam, Tạp văn
Thẻ: >

Hồi ký

Phần I

Cũng như phần đông các sĩ quan miền Nam, sau 75, tôi cũng phải đi trình diện, mặc dù tôi đã bị thương (mất một bàn chân phải trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 tại Quảng Nam). Bởi vì tôi cứ kéo dài tình trạng tại ngũ để được ăn lương, không chịu ra hội đồng giải ngũ sớm. Mỗi khi chuẩn bị đưa tôi ra hội đồng, tôi lại khai còn đau chỗ nầy, đau chỗ nọ nên nằm mãi tại Trung tâm I Hồi lực, được 29 ngày tái khám. Tính trạng kéo dài năm nầy qua năm khác… Đến khi tôi vào Sài Gòn mới chuyển qua Trung tâm III Quản trị, chờ ngày ra Hội đồng để lượng định mức độ tàn phế thì quá muộn. Quân Giải phóng đã cận kề Sài Gòn. Như vậy sau 30 tháng 4, trên danh nghĩa tôi vẫn còn tại ngũ, nhưng trên thực tế tôi là một phế binh.

Khi trình diện tại trường trung học kỹ thuật Don Bosco (Gò Vấp), tôi bỏ chân giả ở nhà, đi bằng nạng gỗ đến trình diện Ủy ban Quân quản. Cuối ngày họ gọi tôi lên cấp cho một cái giấy chứng nhận có trình diện, cho về lại địa phương quản lý (vì phế binh), khi nào có lệnh gọi đích danh tôi mới đi cải tạo. Như vậy, họ thấy tôi trở ngại quá cho việc tập trung cải tạo, nên đựơc cho về là vì vậy.

Yên tâm về chuyện không đi cải tạo, lúc bấy giờ tôi mới lo đến chuyện kiếm cơm sống qua ngày. Tôi và hai thằng bạn khác ra ngoài chợ trời Trương Minh Ký (Trương Minh Giảng nối dài), thuê một chỗ kê một cái bàn nhỏ, mua bán các các đồ vật dụng cũ mà khách hàng chính lúc đó là các lính bộ đội miền Bắc mới vào Sài Gòn còn rất ngu ngơ, chưa biết đường đi nước bước. Một cái đồng hồ không người lái, một cửa sổ trị giá 30 đồng bán ra gấp ba, bốn lần (lâu quá không còn nhớ giá cả lúc ấy), hàng bán như tôm tươi: Radio, quạt máy, bàn ủi điện, đồng hồ, máy may, v.v… không có món gì mà ế ẩm hết. Tốt, xấu, cũ, mới, mang ra là bán được ngay lập tức. Tiền lúc ấy vô dễ quá mà đầu ra cũng dễ như vậy.

Bạn bè của ba đứa tôi, từ miền Trung chạy vào thất tha thất thểu, đói lên đói xuống, tứ cố vô thân, gặp nhau giữa cái đất Sài Gòn phải giúp nhau thôi. Chết thì chết chùm chứ không thể bỏ được. Ban ngày tản mác đi khắp nơi, đến 12 giờ trưa tập trung lại chừng hai chục thằng khố rách áo ôm. Mỗi thằng đến tiệm cơm bình dân gần đó lãnh một dĩa cơm sườn, một điếu thuốc, một ly trà đá, (thật tình tụi tôi thấy bạn bè đói rách quá tự nguyện làm chuyện nầy). Đến chiều tối trước khi dọn dẹp ra về, tôi mang tiền qua trả cho chủ tiệm cơm bình dân ấy. Cầm cự được vài tháng như vậy thì hết vốn, tiền lời không đủ nuôi chừng đó miệng ăn, hơn nữa lúc sau không còn bán đắt hàng như lúc trước. Thêm vào đó, công an áo vàng đuổi không cho tập trung buôn bán bên lề  đường nữa (lần đầu chúng tôi mới thấy bộ đồ vàng của công an), đành dẹp tiệm. Bạn bè tản mác, mỗi thằng phải tự lo thân, không dựa vào nhau được.

Sáng nào ba thằng bán chợ trời chung, cũng gặp nhau ở tiệm cà phê, bàn tính chuyện làm ăn khác. Nhưng bí, không tìm ra phương cách sống, tiền thì không còn. May cho tôi, ba tôi từ Đà Nẵng vào tìm vì không biết tin tức của tôi sống chết ra sao. Ba tôi bảo phải về Đà Nẵng sống với gia đình. Vì hơn ai hết, ba tôi biết tôi là một phế nhân, không thể đi cày, đạp xích lô, đi lao động được. Về với gia đình đùm bọc lẫn nhau, có mắm ăn mắm, có muối ăn muối, nhưng tôi không chịu, với lý do đơn giản là ngoài đó khó sống, những người thắng trận quá sắt máu, dìm những thành phần thuộc diện sĩ quan như tụi tôi đến chết, bắt tụi tôi tay không đi gỡ mìn đủ toi mạng rồi (bao nhiêu đứa bạn không chết trong chiến tranh, nhưng đã chết vì đi gỡ mìn trong lúc hòa bình).  Dù sao thì ở Sài Gòn cũng dễ thở hơn. Những đêm nằm ngủ với tôi, ba tôi nhận thấy điều tôi trình bày chí lý.

Một buổi sáng ông dậy sớm, pha trà rồi gọi tôi dậy để cha con nói chuyện, trước khi ông về lại quê nhà. Ông trao cho tôi một cái đãy nhỏ trong đó chứa ba lượng vàng, đây là số vàng dành dụm suốt một đời đi dạy học của ông. Tôi đưa ba tôi ra xe đò, lòng tôi trĩu nặng. Lúc đó tôi mới thấy thương ông, với số tuổi đã cao mà không còn nghĩ tới bản thân vẫn lo lắng cho con dù con đã lớn rồi. Xe đò rời khỏi bến, nhìn theo ba, tôi rưng rưng nuớc mắt, đến khi xe chạy khuất, tôi mới đạp xe trở về.

Hồi đó hàng tiêu dùng đã bắt đầu khan hiếm, bao nhiêu hàng hóa trong Nam đều chở ra Bắc, tạo nên một lỗ hổng to lớn. Không biết ai gợi ý, tụi tôi bắt đầu làm xà bông bột. Ba thằng đều thuộc loại có vấn đề với chế độ mới, là cựu sĩ quan “ngụy quân”, giấy tờ tùy thân không có, hộ khẩu không có, phải tìm một thằng có lý lịch “cách mạng” để đứng mũi chịu sào. Người đó là bạn của một người bạn tôi, trước năm 75 cũng làm xà bông nhưng sạt nghiệp, có một lý lịch tuyệt vời là trốn quân dịch, cha tập kết. Đúng với mong ước của tụi tôi. Mỗi đưa hùn vốn ba cây vàng. Anh Hùng (người bạn mới)  không có tiền, nhưng có bộ khuôn in bản hiệu trên bao nylon đựng bột giặt hiệu Bạch Long, xem như góp vốn. Anh Hùng đứng ra xin giấy phép sản xuất tại số 212 Bạch Đằng, Phường 24, quận Bình Thạnh (Căn nhà nầy lúc đầu thuê, sau tụi tôi mua luôn).

Chúng tôi xem như làm một canh bạc lớn trong đời. Tôi có biết sơ qua cách làm bột giặt vì có học của một người bạn, nhưng chỉ có ý niệm sơ sơ thôi. Thế nhưng khi bốn thằng họp nhau lần cuối để quyết định, để các bạn tin tưởng, tôi quả quyết là tôi làm được bột giặt. Chính lời hứa ngu xuẩn nầy làm cho tôi mất ăn mất ngủ mấy tháng trời. Tôi cũng đi mua hóa chất về làm y như người bạn chỉ dạy trước đây, thế nhưng bột giặt của tôi làm ra như một thứ cháo đặc, không phóng thích nước ra được. Tôi mò mẫm đêm nầy qua đêm khác, đi hỏi những người chuyên môn về hóa chất, lượm lặt ý kiến mỗi người mỗi ít.

Tôi không dám làm thí nghiệm ban ngày vì sợ mấy thằng hùn vốn thấy tôi quờ quạng, nên chờ khi chúng nó về nhà, tối tối tôi mới mang đồ ra làm. Sáng nào tôi cũng thấy tụi nó mặt mày méo xẹo, tuyệt vọng, xem như chín cây vàng đi đời, mong gì gỡ gạc lại cho nổi. Thế nhưng trời thương hại kẻ khù khờ,  tôi đã thành công cách phóng thích được nước, bột giặt khô ráo, nở phồng (cám ơn Trời Phật, cám ơn ý kiến mỗi người một ít giúp tôi). Đêm đó một mình tôi bỏ hóa chất vào máy trộn đến sáng, một tấn bột giặt. Sáng ngày mấy thằng bạn tới, mở cửa thấy bột giặt chất cao tràn ngập, thằng nào cũng mừng chảy nước mắt. Tụi nó dẫn tôi ra tiệm hủ tiếu thưởng cho một tô, bù lại mấy tháng chỉ ăn cơm với nước mắm. Nên nhớ lúc đó giá thành một đồng, bán ra mười đồng (Lâu quá không nhớ chính xác giá cả, nhưng khoảng chừng vốn một, lời mười).

Nguồn vốn khởi đầu 9 cây vàng, vừa hóa chất vừa máy móc. Sau 4 tháng nguồn vốn lên 400 cây vàng. Chỉ có anh Hùng có vợ con, còn ba đứa còn lại độc thân, mới 26 tuổi, sống trên đống bạc, bấy giờ là lúc tiêu tiền cho biết mặt. Chẳng có thằng nào biết dành dụm, cất giấu. Tiền dư đi mua thêm đồ về tiếp tục làm, càng nhiều càng tốt, thuê một kho hàng chất đồ. Lúc đó cả nước đói khổ, đi toàn xe đạp. Tụi tôi mỗi thằng chơi một chiếc xe hơi. Chính cái cách chơi trội nầy, đã giết tụi tôi trong tức tửi sau nầy.

Tụi tôi thường mang sản phẩm đi kiểm nghiệm. Phòng Kiểm nghiệm của thành phố lúc đó có một người kỹ sư hóa học ở Cộng hòa Dân chủ Đức về, người đó trạc tuổi cỡ chúng tôi nhưng phách lối và hợm hĩnh, coi trời bằng vung. Ông mặc áo blue trắng, bên ngoài đeo súng như một tay cao bồi. Dưới quyền của ông nầy là vài giáo sư đại học Sài Gòn, các kỹ sư của miền Nam, thuộc diện khoa học kỹ thuật.  Buổi sáng mọi người xếp hàng để cho ông ấy điểm danh (ở hải ngoại chắc cũng còn một vài vị làm việc tại Cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Thành phố HCM lúc 75-76, còn nhớ chuyện nầy). Thân phận của kẻ bại trận thật nhục nhã, thật tồi tệ.

Nhớ có lần tôi có hỏi ông kỹ sư nầy, trong phòng toàn những người trí thức, chân yếu, tay mềm, ông mang súng làm gì? Ông trả lời một cách xấc xược: “Nếu chúng nó không nghe lời, thì nỏ vào đầu chúng nó”. Thế đó, tư cách của một người trí thức thắng trận rất phách lối, chà đạp nhân phẩm, hiu hiu tự đắc, không chịu được. Những người cô thế như các vị khoa bảng miền Nam bị thất trận, đành cúi đầu nhẫn nhục.

Mỗi buổi sáng, người đứng xếp hàng mua bột giặt dài thườn thượt ngoài đường. Mỗi người được năm ký lô, đem ra chợ bán lại có được một ngày đi chợ mua thức ăn đơn giản, đạm bạc cho gia đình. Còn các bạn bè của chúng tôi thì được 50 ký lô giao ở cửa sau, trong số đó có gia đình anh Tường Linh (nhà thơ), và ông Vũ Hạnh (nhà văn) còn sống ở Việt Nam. Không biết các ông còn nhớ giai đoạn khó khăn nầy không? Tôi nhớ anh Tường Linh mang bà Vũ Hạnh tới chỗ sản xuất bột giặt Bạch Long gặp tôi. Đây là cơ hội giúp đỡ bạn bè và người thân. Lấy hàng đi bán, chiều thu tiền mang lại trả. Có khi bị công an hốt sạch thì xí xóa, lấy cái khác đi bỏ mối. Giai đoạn nầy cả nước khốn khổ. Thú thật, người ta để yên cho tụi tôi sản xuất thì phải chi từ trên xuống dưới, ăn nhậu, đút lót, quà cáp,… người đứng ra làm chuyện nầy là anh Hùng, vì có cái mác gia đình cách mạng.  Chi cho công việc cũng nhiều, mà chi cho riêng ảnh cũng nhiều. Thế nhưng tiền kiếm được cũng khá nên lờ đi mấy cái chuyện lẻ tẻ nầy.

Sau đó thì đến giai đoạn đổi tiền, anh em tôi phải vác hai “bao tạ” tiền đi đổi (loại bao bố tời đựng 100 kg gạo hồi ấy); hai nhân viên đếm tiền riêng cho tụi tôi mất một ngày, rồi tụi tôi lãnh 500 đồng tiền mới (lúc ấy mỗi gia đình được 200 đồng. Cơ sở sản xuất được 500 đồng). Tụi tôi mất vố nầy khá đậm. (Anh bạn thân hay đến chỗ chúng tôi chơi, hiện đang sống tại Canada là TCN, biết rất rõ về tụi tôi trong giai đoạn tranh tối, tranh sang nầy nhất. Anh là độc giả của talawas, chắc anh sẽ đọc hồi ký nầy.)

Tôi cũng xin nói qua về khung cảnh xã hội Sài Gòn lúc đó. Tất cả đều tê liệt, cán bộ đến từng nhà kêu gọi đi kinh tế mới bằng mọi thủ đoạn như dọa nạt cũng có mà năn nỉ cũng có, nhất là đối với các gia đình quân nhân, công chức của chế độ cũ. Rồi bắt ép mọi người mua công khố phiếu, gửi tiền tiết kiệm, đi thanh niên xung phong, làm thủy lợi.  Một ông cụ bên nhà tôi, hưởng ứng gửi tiền tiết kiệm, nghe những cám dỗ đường mật lọt tai. Trong nhà có gì vơ vét hết, bán đồ trong nhà để có tiền gửi lấy lời sống qua ngày. Sau hai năm số tiền lớn ông gửi vào ngân hàng, lời đâu không thấy, khi lấy ra cả vốn lẫn lời không đủ tiền mua một bao gạo, gia đình ông khóc hết nước mắt.

Cái dễ sợ nhất và tàn nhẫn nhất là “Đánh tư sản mại bản”. Toàn dân miền Nam từ giàu tới nghèo như ngồi trên đống lửa, không biết nhà nước giở trò gì đây, mà trò gì cũng từ chết tới bị thương. Không biết lúc nào người ta đóng chốt nhà mình để kiểm tra. Khi kiểm tra nhà nào là nội bất xuất, ngoại bất nhập. Họ đào xới không chừa một chỗ nào, không thể giấu đâu được với họ. Rồi tống những gia đình nầy đi kinh tế mới, lấy nhà giao cho cán bộ. Nhà lớn thì giao cho cấp lớn, nhà nhỏ thì giao cho cấp nhỏ. Một cuộc cướp bóc trắng trợn và bất nhân. Người dân nuốt hận ê chề và cũng chính lúc nầy phong trào vượt biên bắt đầu lớn mạnh, họ bất kể sống chết, bất kể tới đích hay không. Phải trốn thoát khỏi một chế độ kinh người. Rất nhiều gia đình treo cổ tự tử lúc đó vì uất hận.

Ông Bảy Quân (phó chủ tịch quận Bình Thạnh), trong một buổi họp công thương nghiệp, nói về chuyện tự tử của dân chúng. “So với sự hy sinh của cách mạng quá to lớn trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, thì cái chết lẻ tẻ của những gia đình tư sản nầy chỉ là giọt nước trong biển cả. Họ chết thì cứ chết, ta cứ tiến lên.” Dễ sợ và khát máu chưa?  Người dân không có gạo, ăn bo bo. Con nít tối nào cũng tập trung hát hò ca tụng Bác Hồ, người lớn đi họp để nghe rao giảng sự đẹp đẽ của chế độ, do những cán bộ từ trong rừng ra chủ trì, ba hoa lớn lối, trình độ học vấn chẳng có bao nhiêu, người dân cứ ngủ gà ngủ gật.

Tôi nhớ một lần ở cư xá Thanh Đa, trong đêm  trao trả quyền công dân cho những “ngụy quân, ngụy quyền” trong đó có tôi. Khi gọi tôi ra trình diện trước dân chúng, một người hàng xóm không quen biết có ý kiến về tôi: “Anh nầy là người tốt, hay giúp đỡ bà con chòm xóm. Tôi đề nghị trả quyền công dân cho ảnh để đi bầu cử”. Đồng bào bên dưới vỗ tay rần rần. Khi ra về, tôi tìm tới ông nầy để nói lời cảm ơn. Ông nầy nói nhỏ vào tai tôi: “Khi anh lên, không có ai biết anh là ai, nên không có ý kiến. Thấy vậy tôi đứng lên nói cho xong chuyện để về nhà ngủ sớm còn mai phải đi làm. Chứ để cù cưa cú cứa biết khi nào xong”. Đúng, dân Sài Gòn phần đông họ rộng lượng với những người thuộc chế độ cũ. Quả thật dân chúng quá ngán ngẩm những buổi họp như thế nầy, cắn răng chịu đựng. Sống trong sự giả dối, ăn nói giả dối, làm việc giả dối v.v… từ cán bộ cho tới dân chúng ai cũng biết như vậy, nhưng răm rắp tuân theo như thật.

(Còn tiếp)

© 2009 Phan Xuân Sinh

© 2009 talawas blog

Bình luận

9 Comments (bài “Phan Xuân Sinh – Một giai đoạn ngậm ngùi (1)”)

  1. Trần Văn Tích viết:

    Ông Nguyễn Mai Sơn bảo rằng ông đang ở VN nhưng không nghe nói đến chuyện XHCN = xấu hơn cả ngụy. Tôi có bảo rằng tất cả người ở VN đều nghe chuyện đó đâu! Hơn nữa tôi kể chuyện sau 1975 đến 1984, nghĩa là ít nhất cũng hai mươi lăm năm rồi, chứ tôi có kể chuyện ngày nay đâu. Chẳng rõ ông NMS có nghe các chuyện khác tương tự không, ví dụ XHCN = xếp hàng cả ngày, XHCN = xuống hố cả nước. Chứ tôi thì có nghe trước 1984.

    Về chuyện nhị vị họ Trần tôi đã có bài gửi talawas, hy vọng sẽ được đăng nay mai.

    Ông NMS có một số thông tin về ông Giáo sư Wulff từ bạn hữu bên Đức thì tôi cũng có những thông tin từ những người Đức làm ở Toà Đại sứ Tây Đức (gần rạp Quốc Thanh) và Viện Goethe cũ (ở đường Phan Đình Phùng) vào năm 1963. Họ đều theo dõi thời sự VN và đều có nhận định về ông Wulff. Ông NMS cứ tin các bạn hữu của ông hiện nay ở Đức, còn tôi cũng cứ tin những bạn hữu người Đức của tôi thời 1963 (mà có người mới mất tháng Bảy này, thọ 90 tuổi). Ngoài ra tôi cũng có một số thông tin từ các sinh viên theo học ông Wulff ở Huế, nay họ là bác sĩ và đang ở ngoài nước.

    Tôi đã kể trên talawas là nhà văn Chế Lan Viên cho biết ông Wulff từng bảo rằng nền tâm thần học VN tiến bộ nhất thế giới. Vào thời điểm đó, tôi còn ở VN. Tôi không tìm đọc được ở thư viện cuốn giáo trình tâm thần học nào cả, trong khi sách Nội Khoa Đăng Văn Chung hay Sinh Lý Học Nguyễn Tấn Gi Trọng-Trịnh Bỉnh Di khá phổ biến.

    Mặt khác, cơ sở của bệnh lý và trị liệu tâm thần học là sinh lý học hệ thần kinh. Cũng vào thời gian 1980-1984, sách y khoa Việt ngữ chỉ dạy cho sinh viên có học thuyết Pavlov nhằm giải thích hoạt động của hệ thần kinh trung ương. Như vậy làm sao tâm thần học VN vào lúc bấy giờ lại có thể tiến bộ nhất thế giới được, theo như đánh giá của ông Wulff mà nhà văn Chế Lan Viên ghi lại trên giấy trắng mực đen? Và ngay cả năm 2009 này, trong lúc ông NMS đang ở VN, dẫu rằng không biết ông có ở trong ngành y khoa hay không, nhưng liệu ông có dám nói chắc như đinh đóng cột giống ông Wulff là tâm thần học VN tiến bộ nhất hoàn cầu không?

  2. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Ông Trần Văn Tích viết: “Tôi tự xét rằng tự nhận mình là “ngụy” cũng chẳng có gì đáng trách vì ngôn ngữ bao giờ cũng có nghĩa và ý ngầm, tùy theo cung cách diễn đạt và bối cảnh diễn đạt. Với lại chính đồng bào chúng ta từ ngoài Bắc vào đã giải thích cho tôi hay rằng họ có đẳng thức “XHCN = xấu hơn cả ngụy”. “Ngụy” đặt trong ngoặc kép chắc chắn không phải là ngụy có nhiều nghĩa rồi.
    Nhưng tôi đang sinh sống ở Việt Nam mà sao hiếm thấy nói đến “đẳng thức” này. “Đồng bào” của ông Tích là ai mà nghe thiết thân và cảm động đến vậy? Nghe đến từ “đồng bào chúng ta”, tôi cứ nghĩ ông Tích đang là lãnh tụ. Nhưng cái “đẳng thức” mà ông liên hệ thì trật lất [cả về thời gian (giải thích) và con người (đồng bào)]. Vì với ông Trần Văn Tích, hình như cái tư duy bằng cách liên hệ ngược hơi bị yếu.

    Gần đầy, qua những ý kiến ngắn của ông Trần Văn Tích, tôi thấy xuất hiện những “đẳng thức” mà một số độc giả đã phát hiện ra:

    Huỳnh Phan nói:
    “Tôi không rõ ông Trần Văn Tích có ý gì khi viết “Nay mới hay là anh có con du học thành tài ở Mỹ và một vài bạn đọc trên talawas còn nói rõ hơn là con trai anh xuất dương dưới thời Việt Nam Cộng hoà.” Những câu kiểu này thường là vế đầu của lập luận mà tôi từng nghe với vế sau “mà bây giờ thì…, đúng là ‘ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản’”. Đem lập luận này áp dụng vào Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định… “du học dưới thời CHXHCV Việt Nam mà bây giờ thì…, đúng là…” chắc ai nghe cũng thấy khó thuận tai”.

    classicalmood nói:
    “Ông Tuệ phát biểu: Tôi phản đối việc ông Trần Văn Tích đem bác sĩ Trần Hữu Nghiệp vào cuộc tranh luận. Ông Dũng và bố ông là hai người khác nhau, và chúng ta nên suy ra quan điểm của ông Dũng từ những gì ông nói, không phải từ những gì bố ông nói.
    Ý kiến của tôi: Phân minh như thế này thì tôi kính phục. Hơn nữa, giả sử đó là những trích dẫn đúng, có chắc rằng chúng ta hiểu hết bác sĩ Trần Hữu Nghiệp chưa?”.

    Từ sự “phát hiện” của độc giả, tôi nhớ đến bài “LÀM THẾ NÀO ĐỂ DỰNG ĐỨNG MỘT NHÂN VẬT LỊCH SỬ? (2) – ĐẠI UÝ JAMES SCOTT, TIẾN SĨ CAO THẾ DUNG VÀ BÁC SĨ TRẦN KIM TUYẾN” của tác giả Trần Lâm và ý kiến của ông Trần Văn Tích sau khi tôi đề cập đến nhân chứng sống trong đêm ngày 8/5/1963 tại Đài Phát thanh Huế. Ông Tích nói thế này:
    “Giáo sư Erich Wulff không phải là người xa lạ đối với tôi. Ông phụ trách bộ môn tâm lý xã hội tại Đại học Y khoa Hannover. Ông sang giúp Đại học Y khoa Huế và giảng bài bằng tiếng Pháp. Ông công khai tự nhận mình là người mác xít, từng giữ chức Phó Chủ tịch Phong trào Ái hữu Á-Phi gì gì đó (tất nhiên phong trào này thiên cộng nếu không là chính cộng)”.

    Qua những ý kiến trên, tôi chợt nhận ra ông Tích thường có một “đẳng thức” (gần như những nhân vật mà ông nhận “họ hàng” có vẻ như rất thân thiết). Nhưng thực tế thì ông chẳng hiểu gì về họ cả. Nói về họ chỉ để “thỏa mãn” cái nhận định (đầy sung sướng chủ quan) của riêng ông thôi. Tôi nói vậy vì gần đây qua một số thông tin từ bạn hữu ở bên Đức, tôi nhận thấy Giáo sư Erich Wulff “không phải người xa lạ” với ông Tích, nhưng GS Erich Wulff nhân chứng trong sự kiện đẫm máu đêm 8/5/1963 (nhiều người gán tội cho cộng sản trong sự kiện này) thời điểm đó chưa hề có ý tưởng cộng sản hay “công khai tự nhận mình là người mác xít”. Sau này ông mới có khuynh hướng cộng sản. Tuy nhiên ý kiến trên của ông Tích đã đánh lạc hướng người đọc nhằm làm cho nhân chứng trở nên thiếu tính khách quan.
    Đây là một biệt tài của ông Tích. Nhưng đã bị độc giả lật tẩy.

  3. Trần Văn Tích viết:

    Thưa ông Trần Huy Bách,

    Xin ông đừng buồn ông Phan Xuân Sinh khi ông Sinh tỉnh bơ tự xưng mình là ngụy quân ngụy quyền. Tôi cũng nhiều lần hành động như ông Phan Xuân Sinh, ngay cả vào những dịp tiếp xúc với các cán bộ cộng sản. Có người yên lặng nhưng có người khuyên đừng dùng chữ “ngụy” nữa, mặc dầu trong khi đó báo, đài vẫn thường xuyên dùng chữ đó (xin nói rõ là tôi đề cập đến những tháng năm sau 1975 và trước 1984, vì từ 1984 đến nay tôi không còn ở Việt Nam).

    Tôi tự xét rằng tự nhận mình là “ngụy” cũng chẳng có gì đáng trách vì ngôn ngữ bao giờ cũng có nghĩa và ý ngầm, tùy theo cung cách diễn đạt và bối cảnh diễn đạt. Với lại chính đồng bào chúng ta từ ngoài Bắc vào đã giải thích cho tôi hay rằng họ có đẳng thức “XHCN = xấu hơn cả ngụy”.

  4. Hoài Quốc Việt viết:

    Tay không gỡ mìn là điều có thật ở Huế sau 75, các sĩ quan chế độ miền Nam phải làm công tác gỡ mìn bằng những cây sắt nhọn gắn vào đầu những cây sào tre. Họ dùng cây sắt nhọn này để đâm xuyên xuống đất, khi gặp vật cứng thì dùng cuốc để đào lên một cách thận trọng. Tôi đã thấy những anh tù điên tiết hết muốn sống, đợi khi có cán bộ cộng sản đứng gần thì dùng cuốc bới như điên dại xuống nơi nghi có mìn với mong sao mìn nổ, chết cả mình cả nó cho hả giận. Theo ông Giangkienphuong như vậy không phải là dùng tay dọn mìn hay sao? Đâu có thiết bị gì trợ giúp đâu? Vậy thì lao động bằng tay thì không dùng cuốc xẻng chắc? Thật ngớ ngẩn.

  5. Trần Huy Bách viết:

    Kính ông giangkienphuong và tác giả Phan Xuân Sinh.
    Chuyện “tay không gỡ mìn” là hoàn toàn có thật. Không phải chỉ ở các trại tù cải tạo ngoài Đà Nẵng như tác giả Phan Xuân Sinh đề cập, mà ở trại An Dưỡng Biên Hòa, đã có một số tù cải tạo bị chết hay mất chân, mất tay khi bị bắt đi “gỡ mìn bằng tay không” trong vòng đai phi trường quân sự Biên Hòa. Bất cứ ai từng ở trại tù này đều biết. Nhưng chuyện này cũng chẳng có gì lạ so với nhiều hành động còn dã man hơn của những người Cộng Sản.
    Tôi rất tâm đắc một số bài viết của tác giả Phan Xuân Sinh, nhưng hôm nay tôi (hơi) buồn (và bực) về ông, khi trong phần hồi đáp, ông cứ nhận mình là “ngụy quân ngụy quyền” một cách ngon ơ !
    Buồn ơi chào mi !
    Kính

  6. Hoàng Trường Sa viết:

    Để trả lời giùm tác giả Phan Xuân Sinh kính mời quý vị đọc bài dưới đây của Đặng Văn Xin đăng đã lâu trước đây trên trang Web Xứ Quảng hoặc Một Thời Phan Châu Trinh Đà Nẵng :
    http://www.greenspun.com/bboard/q-and-a-fetch-msg.tcl?msg_id=00CmiN TÔI ÐI GỠ MÌN (Đặng Văn Xin)

  7. Dinh Le viết:

    Xin thưa với giangkienphuong,
    Nói “tay không đi gỡ mìn” là cách nói hơi “cường điệu” một chút. Hồi tôi còn trong trại lao cải sau 3-4-1975, bộ đội cụ Hồ trao cho chúng tôi (tôi và bạn tù) mỗi người một que sắt tương tự như que căm xe đạp, rồi cả bọn dàn hàng ngang trên mảnh đất, ngồi chồm hổm mỗi đưá cách nhau nửa thước tây, dùng que sắt xăm xuống đất để tìm mìn. Có những kẻ ra người thiên cổ, có những người trở thành phế nhân khi vô phước bị mìn nổ.
    Đối với tôi, sự thật là như vậy, tin hay không là tuỳ người dối diện. Cuộc trả thù của người cộng sản đối với quân nhân Miền Nam đầy máu và nước mắt. Tác giả nói đó là một “giai đoạn ngầm ngùi” là muốn biểu tỏ tấm lòng không hận thù của mình vậy.

  8. Phan Xuân Sinh viết:

    Thưa anh giangkienphuong
    Anh có người nào quen là dân Đà Nẵng không? Những gia đình ngụy quân, ngụy quyền sinh sống ở Đà Nẵng đều chứng kiến chuyện gỡ mìn nầy. Chắc độc giả talawas có người là dân Đà Nẵng, xác nhận giùm chuyện nầy cho tôi. Ở Đà Nẵng có một chuyện nữa mà những nơi khác không thấy là từ Đại úy trở lên, chính quyền đếu tịch thu nhà.
    Các bãi mìn ở Quân đoàn I, Phi Trường, đều do các các ngụy quân gỡ bằng tay, không có chuyên viên công binh nào làm cả. Cám ơn câu hỏi của anh.
    Tình thân
    Phan Xuân Sinh

  9. giangkienphuong viết:

    Tôi xin phép được hỏi một chi tiết trong hồi ký của ông Phan Xuân Sinh:
    – “…bắt tụi tôi tay không đi gỡ mìn …”
    Tôi muốn hỏi độ tin cậy của chi tiết nầy như thế nào? Tôi biết, trong và sau chiến tranh có những sự thật rất đáng sợ, đáng ghê tởm. Nhưng chi tiết vừa rồi thì thực sự ngoài khả năng tưởng tượng của tôi. Trên thực tế, nhiều người lính công binh vẫn gỡ mìn bằng tay không, nhưng họ -lính công binh- là những người được huấn luyện gài, gỡ mìn bằng tay không, thì lại là chuyện khác.
    Rất mong nhận được hồi âm.
    Trân trọng.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>