Trần Mộng Tú – Những đôi mắt chết
24/07/2009 | 1:00 sáng | 6 Comments
Category: Đời sống, Tạp văn
Thẻ: Phụ nữ Việt Nam
Chúng tôi đang đi chơi xa nhà 800 dặm, nghỉ lại hai đêm ở Bed & Breakfast của thành phố Polson, Montana. Đó là một ngôi nhà trung bình, không lớn lắm như khách sạn; bên ngoài, các khung cửa sổ và lối đi phủ kín hoa đỏ, trông như ngôi nhà vẽ trong sách thiếu nhi. Bên trong trưng bầy kín đặc những sưu tầm đồ cũ kỹ (không biết đã thuộc đồ cổ chưa?). Từ những kiểu nón mũ của phụ nữ từ thập niên 50 đến 300 cái đĩa treo trên tường, đủ hình ảnh, sinh hoạt của khoảng sáu mươi năm về trước; ly, tách, máy may, gương, lược, đồ chơi trẻ em cách đây vài chục năm, và trong một hộp kính giữa phòng khách bầy khá nhiều nữ trang có mặt đá lấp lánh.Tất cả trưng ra như một cái viện bảo tàng nhỏ. Ngôi nhà nhìn ra hồ có tên là Plathead Lake (người da đỏ đặt tên) một cái hồ trông rộng như sông, chảy ngay giữ lòng thành phố, phía bên kia là những vườn anh đào đang mùa ra trái, ửng đỏ, phản ảnh với mặt nước trong xanh. Dưới mặt trời mùa hè, phong cảnh trở nên rất ngoạn mục, hấp dẫn du khách phương xa, nhìn hoài không chán mắt.
Tối đầu tiên, sau một ngày lái xe đường trường, hơi mệt, tôi rơi ngay vào giấc ngủ. Trong giấc ngủ , tôi rơi vào một giấc mơ không có liên quan gì đến những phong cảnh, sự việc của ngày hôm đó.
Tôi mơ thấy một chị bạn thân của gia đình (hiện vẫn ở Việt Nam) chở tôi bằng xe gắn máy đến một buổi chợ chiều, hình như ở miền Trung. Đó là một cái chợ đã vắng ngắt, không còn ai. Ngay trước cửa chợ, có một người đàn bà khoảng 40 tuổi, ngồi với một mẹt khoai trước mặt, phía sau lưng chị thấy hun hút và tối, im ắng. Bên cạnh chị có ba thằng bé, đứa lớn nhất khoảng 5 tuổi, thằng bé nhất cỡ 2 tuổi.Cả ba đứa trông xanh xao vàng vọt trong buổi chiều tắt nắng. Mẹt khoai chỉ có năm củ. Tôi cúi xuống hỏi mua, chị lựa ba củ lớn nhất đưa cho tôi, nói:
“Cô cho 3 đồng, hai củ nhỏ này để lại cho các cháu ăn.”
“2 đồng thôi.”
“Dạ.”
Tôi mặc cả 2 đồng, nhưng khi đưa tiền, tôi nhớ rất rõ là trả 3 đồng, và thấy còn tờ 10 đồng trong tay, tôi đưa nốt cho chị. Hình như thấy sự rộng rãi của khách, chị ngước mắt nhìn tôi. Chao ôi! Đó là đôi mắt buồn rời rợi của một người đã chết (Người đã chết làm sao mà nhìn được, nhưng sao nhìn vào cặp mắt đó tôi tưởng như người đó đã chết rồi.) Cho đến bây giờ ngồi viết những dòng này, tôi vẫn còn nhớ thật rõ ràng ánh mắt buồn, lạ kỳ đó. Chị nhìn tôi, nói khẽ:
“Cô có muốn buôn cau với em không?”
“Buôn cau thì cần bao nhiêu tiền?”, tôi hỏi.
“100 đồng cô ạ.”
Giấc mơ chỉ đến đó, tôi giật mình tỉnh dậy, bóng đêm vẫn dầy đặc trong phòng; tôi nhìn đồng hồ, thấy 3 giờ sáng. Đôi mắt người đàn bà đó theo tôi cho đến bây giờ.
Cả ngày hôm sau trong lúc đi gặp người này, người kia, đi ăn, đi chơi, nói đủ mọi thứ chuyện, tôi vẫn bị giấc mơ đó lảng vảng trong đầu. Đêm đó, trước khi đi ngủ, tôi để hết tâm trí mình vào chuyện người bán khoai của buổi chợ chiều, tôi cứ tâm niệm xin cho được gặp lại chị trong mơ tối nay, xin cho được mơ tiếp giấc mơ, tôi còn ngu ngơ lấy sẵn tờ giấy 100 đồng, kiếm cái áo có túi, bỏ vào, mặc, trước khi đi ngủ. Cứ tưởng làm như thế thì sẽ gặp lại chị trong mơ, đưa cho chị tiền để chị buôn cau nuôi ba đứa nhỏ èo uột.
Trong những đêm kế tiếp, tôi chỉ lơ mơ thấy hình như mình đi mua mấy cái nón mùa hè ở Mỹ, hình như mình đi leo núi, rồi quên ngay. Giấc mơ tỉnh dậy, không nhớ hết.
Đêm kế tiếp tôi cũng mơ, và tôi vẫn mơ những giấc mơ không thành chuyện, hoặc thành một cái chuyện chẳng có đầu chẳng có kết. Những giấc mơ như trăm ngàn giấc mơ khác của một người nằm ngủ. Tôi không gặp lại người đàn bà với ba thằng con trai èo uột, với cái mẹt khoai có ba củ to, hai củ nhỏ nữa. Người đàn bà có cặp mắt thật lạ kỳ, mà tôi nghĩ chỉ một người âm mới có.
Tôi không tin vào chuyện đốt vàng mã thành tiền cho người chết, mà có tin thì cũng đâu có biết tên của chị mà khấn, nhỡ có ai đó ở dưới âm lấy mất của chị thì sao?
Tôi tự hỏi: Hay là mình gửi một trăm đồng về Việt Nam nhờ người thân ra chợ vào buổi chiều, gặp ai bán khoai thì cho người ta. Nhưng nếu gặp hai, ba người thì biết cho ai? Ở chợ thiếu chi người bán khoai. Thì chọn người nào có ba thằng bé con trai, chọn người nào có cặp mắt âm hồn. Thật là khó, nhưng nếu không cho thì cặp mắt đó cứ ám ảnh tôi hoài, tôi nghĩ như mình đang thiếu ai một món nợ mà không bao giờ trả được.
*
Tôi trở lại nhà sau một tuần đi xa, sau một tuần không đọc báo, không gọi điện thoại, không đọc điện thư. Mấy hôm nay bắt đầu làm việc lại, đọc báo trước: Báo hàng ngày trên mạng, báo tuần và báo tháng (gửi đến nhà). Báo nào mở ra cũng có mục: Phụ nữ Việt Nam làm gái bán dâm (tự nguyện hoặc bị lừa). Báo Người Việt, ngày 7/7/09 đăng tin 51 phụ nữ Việt lại xếp hàng cho 5 người đàn ông Đại Hàn lựa vợ. Những cô gái này phần đông thuộc về vùng An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ. Nơi trước 1975 dù đất nước còn chiến tranh, những phụ nữ sinh ra ở đây là những người phụ nữ nổi tiếng với vẻ đẹp hồn nhiên, chất phác. Những địa phương kể trên kế cận nhau, như: An Giang, có tây bắc giáp với Campuchia, tây nam giáp với Kiên Giang, phía nam giáp với Cần Thơ và phía đông giáp với Đồng Tháp. Ai cũng biết dân ở đây cứ mười người thì tám người sống về nghề nông, nhưng bây giờ người ta than càng ngày công việc đồng áng càng khó khăn. Một là ruộng không còn thuộc về tư nhân, hai là ruộng càng ngày càng ít đi, vì nhà cửa xây cất thêm lên, và đất đai bị những người có quyền chức chiếm hết. Các thôn nữ sinh sau, lớn lên, đời sống rất khó khăn, cứ bỏ làng lên tỉnh, tha phương cầu thực. Ít học (phần đông chỉ biết đọc, biết viết,) cái vốn để sinh sống duy nhất chính là thân xác mình.
Hình ảnh trên báo thấy các cô, có người lấy tay che mặt, có người nhìn rõ mặt. Những cô gái còn rất trẻ, cô nhỏ từ mười sáu, cô lớn chưa đến ba mươi. Tôi nhìn hoài những tấm hình đó, thấy hình như có một điều gì quen quen, ngờ ngợ trên những khuôn mặt họ. Hình như mình đã gặp họ ở đâu? A, tôi nhớ ra rồi: Những đôi mắt, chúng giống hệt đôi mắt của người đàn bà bán khoai trong giấc mơ, đôi mắt của người đã chết. Những cô gái này không có cái mẹt với mấy củ khoai đem đi bán, các cô chỉ có cái món hàng chính là thân thể mình để đem bán, và đang bầy ra cho người mua lựa chọn. Những đôi mắt đó rõ ràng là mắt của người còn sống nhưng sao trông như mắt của người đã chết. Những cô trong một vài tấm hình khác, khi in lên báo, hoặc lên mạng, người ta làm nhòe đi một phần mặt, để khỏi bị người quen biết nhận diện, phần nhiều những vệt nhòe đó bôi qua đôi mắt.
Như vậy dù ở tấm hình nào, cũng là những đôi mắt tự chết, hay bị chết. Có phải các cô đã biết mình có thể bị chết ở một vùng đất xa xăm nào đó như chị, em, bạn gái mình đã chết trước đây, hoặc coi như mình chấp nhận một cái chết của số mệnh, cái chết của linh hồn mình thể hiện qua những đôi mắt đó.
*
Tôi để hoài tiền trong túi mỗi đêm trước khi đi ngủ, vẫn không tìm được lại người đàn bà bán khoai có đôi mắt chết trong giấc mơ, để giúp vốn cho chị buôn cau. Điều đó làm tôi buồn bã lắm!
Tôi cũng chẳng biết làm sao mà cứu được những đôi mắt chết của các cô gái trong hình hồi sinh, khi tôi không biết làm cách nào giúp cho những cô gái đó (và thêm bao nhiêu cô nữa) có vốn buôn một cái gì đó thay vì buôn bán chính thân mình.
Ở quê tôi, ai là người chịu trách nhiệm đã làm cho những người đang còn sống mang trên mặt những đôi mắt của người đã chết? Họ có buồn bã như tôi đang buồn bã hay không!
Tháng 7/09
© 2009 Trần Mộng Tú
© 2009 talawas blog
Bình luận
6 Comments (bài “Trần Mộng Tú – Những đôi mắt chết”)
Những đôi mắt, những (tâm) linh hồn chết
Như chết rồi một chút lương tâm
Kệ mẹ nó, những mảnh đời phiêu bạt
Họ, chỉ cần, nhét thật chặt túi tham
Xin cám ơn ông Nguyễn Phú Thịnh về những thống kê phong trào “cô dâu Việt”.
2003-2005 có 32.000 phụ nữ Việt thành hôn với người nước ngoài và bao nhiêu thành hôn với người trong nước?
15.000 hay 17.000 đang sinh sống tại Hàn Quốc và bao nhiêu đang sinh sống tại Hoa Kỳ với hôn phu Việt kiều?
Con số 80.000 tại toàn khu vực (?) Đồng Tháp 2006-6/2009 rất là cao tuy nhiên hẳn là vẫn thấp hơn con số phụ nữ lấy chồng Việt rất nhiều và cũng chẳng có gì cho biết là trong trường hợp nào hạnh phúc hơn.
Lấy chồng nước ngoài không riêng gì phụ nữ Việt Nam. Philippines, Malaysia, Thái Lan, Nga, Moldova, Mexico, Trung Mỹ, Colombia v.v…gì đó cũng có phong trào. Có cả một vùng quê Hy Lạp được hồi sinh nhờ cô dâu Ukraine. Đây là những nước không cộng sản. XHCN thì cũng có “cô dâu Trung Quốc”, nếu ông Nguyễn Phú Thịnh tìm ra con số thì chắc phải giật mình.
Phụ nữ trưởng thành và tự nguyện, họ lấy ai theo lựa chọn của họ thì có nên bức xúc hay không? Đây không nói đến những trường hợp gả bán và bị lừa là những trường hợp mới đáng quan tâm.
Ông Đỗ Kh., là một gallant với mỗi em Linda, chứ không phải với các cô gái trẻ (và không còn trẻ) tại Việt Nam. Chứng minh?
“Theo thống kê năm 2005, từ 2003-2005 có khoảng 32.000 phụ nữ VN lấy chồng nước ngoài, phần lớn là Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc. Hiện tại, theo một thống kê chưa đầy đủ, có khoảng 15.000 – 17.000 cô dâu VN đang sinh sống tại Hàn Quốc”.
(http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=216567&ChannelID=312)
Chỉ tính riêng thành phố mang tên Bác thì năm 2007, đã có 2.385 phụ nữ với người nước ngoài.
(http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=116780&ChannelID=2)
Còn đỉnh cao là thống kê này, phong trào ngày càng phát tiển:
“Tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm và triển khai chương trình công tác 6 tháng cuối năm 2009 của Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, diễn ra tại Đồng Tháp ngày 14/7, đại diện Bộ LĐ-TB&XH cho biết: Từ năm 2006 đến tháng 6/2009, theo thống kê toàn khu vực chỉ có 16.475 trường hợp đi xuất khẩu lao động, trong khi đó, số phụ nữ lấy chồng nước ngoài ở khu vực này lên đến 80.000 trường hợp.
(http://ca.cand.com.vn/vi-vn/thoisuxahoi/tintucsukien/2009/7/148767.cand)
Ở Việt Nam còn có nhiều cảnh đau lòng nữa: chính mẹ ruột dẫn con mình đi bán thân. Nhưng mà làm sao mà trách họ được ? Họ quá nghèo ! Đáng trách là những kẻ đã “bần cùng hòa” họ. Và xã hội nữa: bây giờ “hố ngăn cách giàu nghèo” mỗi ngày một rộng hơn, mỗi ngày một sâu hơn. Thật đáng buồn và tủi hổ với tiền nhân!
ngày sau bộ Việt Nam sử ký
ngoài vua chúa tướng sĩ quần thần
có ai viết những giai nhân
vì nghèo mà phải bán thân nước ngoài
Chúng ta đều chia xẻ cái tủi nhục, cái cay đắng của phụ nữ khi vì hoàn cảnh phải tự nguyện bán thân hay lấy chồng ngoài ước muốn và không có gắn bó tình cảm như chị Trần Mộng Tú nhắc đến ở đây.
Đây là một chuyện buồn và tuy không có thống kê rõ rệt, tôi đồ rằng các phụ nữ trong trường hợp này đại đa số phải lấy chồng người Việt, phó giám đốc CTTNHH ở thành phố nào hoa lệ ở Việt Nam hay chí ít là phố huyện, nhà ngói cây mít ở đầu thôn. Một số khác, nhỏ hơn nhiều, phải lấy chồng Việt… kiều. Sau đó mới đến, rất ít và có thể gọi là biệt lệ nếu so với thành phần đầu và ngay cả thành phần sau, là những người lấy chồng Tây Tàu, Hàn Quốc, Đài Loan.
Ở một đẳng cấp khác, chuyện bán thân cũng thế, một vài cô sang Singapore, Macau hành nghề làm dư luận Việt bức xúc, chẳng hiểu có phải vì ở những nơi này đi khách họ được 100 USD trong khi ở trong nước với khách người Việt họ chỉ được 100.000 DVN?