talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn Hữu Liêm – Vĩnh biệt Leszek Kolakowski (1927-2009)

20/07/2009 | 1:00 sáng | 2 Comments

Tác giả: Nguyễn Hữu Liêm

Category: Tư tưởng
Thẻ:

 

Leszek Kołakowski (23/10/1927-17/7/2009). Nguồn: Wikipedia

Leszek Kołakowski (23/10/1927-17/7/2009). Nguồn: Wikipedia

Kolakowski, triết gia Ba Lan lừng danh, vừa mới qua đời hôm 17/7 tại Anh quốc, hưởng thọ 82 tuổi. Có lẽ đây là tác giả đã đưa tôi vào con đường triết học từ những năm đầu của thập niên 1980.  Tôi đọc Kolakowski trước khi đọc Marx. Khi đó, tôi vừa mới học xong chương trình cao học từ Texas, về Long Beach nhận việc làm. Một mình trong căn phòng studio nhìn ra biển Thái Bình, tôi đã say sưa đọc cuốn To the Finland Station của Edmund Wilson và trọn bộ Main Currents of Marxism của Kolakowski.

Chính trị, như là một lý tưởng thế gian cho con người, không thể tách rời khỏi triết học, và triết học không thể đi ra ngoài năng lực tinh thần. Từ Kolakowski, tôi khám phá ra giải thoát luận của Plotinus, siêu hình học Hegel và cách mạng luận của Marx. Câu hỏi rằng, nếu mỗi cá nhân, như chính tôi đây, như là một đơn thể vô thường – a contingent being –  thì tôi sẽ biết bám trụ vào đâu để tìm ra cho ý nghĩa của sinh hữu? Kolakowski đã hướng dẫn tôi đến một khung cảnh lý thuyết và khái niệm cho một trả lời trong truyền thống triết học Tây Âu. Ông đã đến với tôi như vầy.

Sự thể rằng, mỗi cá nhân là một đơn vị hữu hạn trong thời gian, vốn là khác biệt với tinh hoa của nhân loại, đã chứng minh rằng “con người là cái gì khác hơn là chính hắn.” Đây là một nhận thức làm cho hắn khổ đau tận cùng, một nỗi khổ từ sự phân cắt giữa lý tưởng và thực tại. Hắn sống trong sự ý thức được rằng hắn đang đi xuống dốc dài vô hạn trong nỗi ước mơ toàn thiện và thống hợp với thể tính Tuyệt đối. Thế gian này, nơi mà chúng ta đang sinh hữu như là những cá thể hữu hạn, chỉ là một cõi lưu vong.

Tôi diễn giải thêm. Cũng như là đạo Phật, thế giới Tây Âu cũng đã cố gắng đưa ra một con đường giải thoát, cứu rỗi con người ra khỏi tình trạng tạm thời và lưu vong của hắn. Từ Plato đến Marx, triết học Tây phương đã vô tình dựa theo hai nguyên tắc đầu tiên của Tứ Diệu Đế. Thực tại là khổ đau, khổ đau có nguyên nhân và có thể được giải cứu. Dù là đang bị phân ly từ tinh hoa Tuyệt đối, hắn vẫn mơ hồ và đang vùng vẫy tìm ra lối về. Đó là số phận cho cá nhân và định mệnh của nhân loại. Khổ đau là liều thuốc đánh thức con người ra khỏi cái mê muội của vọng tâm, vốn chỉ biết trần gian này là tất cả.

Không những là cá nhân bị giam vào tính hữu hạn của thời gian, mà hơn nữa, hắn bị lôi kéo bởi thời gian. Nguyên nhân của khổ đau và ly cách, do đó, là vì thời gian, mà tự tánh nguyên thuỷ của con người phải ở bên ngoài không và thời gian, từ trong một thế tính thường hằng, vốn không thể diễn đạt, nhưng mà “hiển nhiên” qua trực giác tồn hữu (being) của tâm thức. Trong võng lưới của không và thời, cá nhân không hợp nhất với Chân tâm mà chỉ có “bơi theo” hiện tại, mà trong dòng sống này, hắn chỉ có ký ức và ước vọng, mà cả hai vốn chỉ là những ám ảnh vọng tâm, thất lạc ra khỏi chính mình.

Nhưng tri thức hữu hạn của cá nhân không thể đến với Chân tâm bằng tính bất toàn của khái niệm. Bởi vì cái  Một này không phải là một “cái gì,” nó không là một đối thể cho tư duy. Bởi vì là một cái gì, nó sẽ được nhận diện và định nghĩa bởi cái khác nó. To be is not to be. Ở đó, bản chất của thực tại là của những thời quán thoái hóa – the hypostases of reality are so many stages of degradation. Tồn  hữu, being, hay là tri thức, mind, như là một thực tế ở cấp bậc thứ hai, là biểu trưng cho sự tha hóa của Chân tâm vốn đang bị tan loãng vào trùng trùng sinh hiện. Từ trật tự tồn hữu này, linh hồn cá thể đứng ở tầng thứ ba, bao gồm cả tri thức con người vốn sa đoạ vào duyên nghiệp thế gian – tức là sống trong tội ác và hư vô. Cõi vật chất là đẳng cấp cuối cùng của Chân tâm, mà chất lượng của nó được thể hiện qua thân xác cá nhân. Những đòi hỏi của thân xác là năng lực của bất thường, bất toàn, bất hòa, là bóng tối – mà thực chất của nó chỉ là hư không.

Khi linh hồn cá thể bị giam vào ngục tù thân xác và thời gian vô thường, hắn bị biến tan vào hư không để rồi hắn phải cố gắng liên tục vươn ra khỏi tính không của thời gian để đạt đến cõi thường hằng, để được giải phóng ra cõi sống lưu vong. Ta sống trong khoảng cách xa vời đầy ước vọng của thế gian, của thân xác, của cảm giác và tri kiến, đối với Chân tâm thường hằng. Nhưng trong khoảng cách hình như là vô cùng này, con người, nếu cố gắng tối đa trong thứ bậc sinh hữu của duyên nghiệp, có thể tìm ra manh mối của lối về. Bản chất về cái Ta chỉ là là một vọng tưởng tha hóa từ Chân nguyên tuyệt đối, do đó, muốn về cái Ta chân thực, trong bản Ngã tuyệt đối, ta phải từ giã, phủ định cái Ta vị kỷ để tìm về một đại Hồn nguyên thuỷ. Con đường trở về căn nhà của sự Hữu (Being) không nằm ở nơi cái “ngoài ta” mà là chính trong ta khi hắn đã giác ngộ ra cái Ta này thực chất là gì. Cứu cánh của con người là thoát ra cõi vô thường trong thời tính để tìm về căn nguyên của mình – tức là đi vào lịch sử để thoát ly ra khỏi sử tính trong ước vọng không mãi mãi bị đày đọa bởi thế gian vô thường. Công tác lớn lao và duy nhất của cá nhân, do đó, nằm nơi sứ mạng làm người phổ quát: Ý chí vượt thắng tình trạng tha hóa của chính mình.

Nhưng còn thế gian và cuộc đời này?

Ta không thể tách rời ra khỏi thế gian và lịch sử. Sự thống hợp giữa cá thể và khách quan là điều kiện thiết yếu cho sự chuyển động chung của nhân loại tìm ra con đường về cố hương. Mọi thể trạng tha hóa cần phải được vượt qua. Kiến thức và ý chí của ta phải nhận ra được nhịp bước chung của tiến hóa trong lịch sử làm người. Khi ta kinh qua trường đời, trải nghiệm trong ý thức về sự sống và sai lầm, đó là lúc mà Chân tâm đang tìm ra lại bản thể qua sinh nghiệm cá nhân. Hành trình của vũ trụ là bước đi của từng linh hồn. Thượng đế cần thế gian để làm giàu thêm cho thể tính vô cùng của mình. Và con người là cơ năng từ Thượng đế, làm chuyện của Trời qua ý chí tự-ngã. A man is a potential Absolute – mỗi chúng sanh là một vị Phật sẽ thành. Vì thế, trường đời là bài học thiết yếu để cho linh hồn tiểu ngã học được bài học làm người đích thực trước khi từ giã cõi người. Đánh mất chính mình vào trong chính mình để tìm lại chính mình chính là con đường của Chân tâm. Đây là ý nghĩa và cứu cánh của đời người. Ta phải chiến thắng cuộc đời trước khi trở về với Thượng đế.

Cuộc đời bao gồm hai phương diện: thể chất và tinh thần. Chúng ta phải sống qua cơ năng thân xác và vũ trụ trong không gian và vật thể. Trong đó, thời gian là đại lộ của linh hồn trải nghiệm qua cơ năng lịch sử. Từ đó, thân thể và lịch sử là hai trường kinh nghiệm song hành cho Chân tâm được thể hiện chính mình để tìm lại chính mình. Lịch sử thế giới, vì vậy, là lịch sử của Chân tâm, the unconditional Being, vốn đạt được giác ngộ và toàn hảo tối hậu như là một sự phản tưởng của tánh giác toàn thể nhìn vào trong tấm gương của những cuộc đời cá biệt.

Khi tôi đọc được những dòng như thế của Kolakowski từ những trang đầu của Main Currents of Marxism thì tôi không thể nào dừng lại.  Triết học, nhất là triết sử, đã nung thêm ý chí làm lịch sử tự có trong tôi. Sau đó, tôi say mê đi theo Hegel, Marx và quay lại với nguồn siêu hình học của Eckhart, Boehm, Berkeley. Tôi tìm ra ý nghĩa của cuộc đời qua thân thể, qua đời sống, qua trường đời, qua lịch sử, qua dân tộc, cơ chế, chính trị, quốc gia và văn hóa. Tất cả mọi hình thái thế gian và nội dung vô vàn của nó cũng chỉ là những cơ năng cho Chân tâm hoàn tất được chính mình trong không gian và thời gian. Lịch sử sẽ tiến bước về đến đích cuối cùng của Tự do – cũng như cá nhân sẽ tìm ra cánh cửa cứu rỗi và Giải thoát. Vấn đề là mỗi chúng ta phải ý thức được rằng mình, đất nước mình, cùng với nhân loại này đang ở mức thang nào trong cơ trình tiến hóa – và đang chuyển biến theo tốc độ nào về chân trời giải thoát. Hạnh phúc thay cho tôi vào thuở đó. Triết học, bắt đầu từ những trang sách của Kolakowski – mặc dù về sau, khi viết về lịch sử và chính trị ông đã chọn cho mình một nội dung triết học khác – đã cho tôi một hành trang ý thức và tinh thần để mạnh chân bước thẳng vào đời.

Cũng như một số ít triết gia đã làm thay đổi lịch sử thế gian, Kolakowski đã góp phần lớn lao thay đổi lịch sử Ba Lan và thế giới hiện đại. Triết học như là những thanh gươm báu của trí tuệ, nó phải được ra chiêu trên bãi chiến trường đời. Qua triết học, tinh thần sẽ được cứu từ thế gian suy vong.

Xin cảm ơn và đưa tay chào vĩnh biệt, Leszek Kolakowski. 

© 2009 Nguyễn Hữu Liêm

© 2009 talawas blog

Bình luận

2 Comments (bài “Nguyễn Hữu Liêm – Vĩnh biệt Leszek Kolakowski (1927-2009)”)

  1. Lề Trái viết:

    Theo kết luận nổi tiếng của Leibniz, nếu thế giới hiện tại không phải tốt nhất, có thể Thượng Đế không biết, không thể hoặc không muốn tạo ra, nhưng cả 3 trường hợp đều ngược lại với tính cách của Thượng Đế. Vì vậy, thế giới này là tốt nhất. Lý luận của ông về sự tồn tại của cái xấu lại mang đầy đủ tính bi-hài của nghịch lý; cái xấu tồn tại để giá trị của cái tốt càng tăng. Và từ đó, ông suy diễn mọi việc xảy ra – cả tốt lẫn xấu – đều không nằm ngoài dự tính của một đấng Tối Cao là Thượng Đế. Ít nhất cũng kudos cho Leibniz vì không dùng Satan như một lý giải thuận tiện (excuses of convenience). Đại úy Scott nào đấy là một ví dụ về lý giải thuận tiện. Theo lời một độc giả, nếu ông Scott không tồn tại cũng phải kiếm một ông khác thay vào – chuyện ngoài lề.
    Ai tin vào kết luận trên sẽ phải khó ăn khó nói khi 6 triệu người Do Thái từ con đỏ tới ông lão gần đất xa trời bị “giải quyết” bằng cách này hay cách khác, hay gần 1/2 triệu người Cambodia được “giải phóng” khỏi trần thế đều không nằm ngoài dự tính của đấng Tối Cao này. Cũng nên kể đến hằng hà sa số những thuyết cứu rỗi lấy mục tiêu cao cả (?) cuối cùng để biện minh cho hàng loạt những xấu xa phải đi qua – càng đau khổ, thắng lợi càng vinh quang. Số mạng con người trở thành thống kê, nhưng khi đã lên tới hàng chục ngàn, thống kê nào chịu cho thấu. Họ chỉ đơn giản biến mất trong cõi đời. David Pears viết trong Motivated Irrationality rằng sau WW II, người Đức tin dân Do Thái chung quanh họ không còn sống nhưng không tin họ (người Do Thái) đã chết. Akrasia mà Aristotle không thể/muốn tin sống hùng sống mạnh để tạo ra những Eichman bình thường tưởng như không thể bình thường hơn ký giấy đưa hàng ngàn người vào đường chết. Trường hợp như Eichman chỉ là sản phẩm phụ (by-product). Thuyết lịch sử tới Hegel trong Philosophy of History hoàn thành phần lý thuyết cho “thế thiên hành đạo” dẫn đến kết quả con người lịch sử và siêu nhân (ubermensch), cộng thêm Ông Hoàng của Machiavelli để hoàn tất mọi cái cần thiết biện hộ tất cả những kinh hoàng đã từng xảy ra trong lịch sử loài người. Có cần phải viện tới nhân vật Satan không nhỉ?
    Phảng phất mùi Machiavelli trong khái niệm về hỏa ngục, nơi quỷ sứ (những thiên thần nổi loạn chống Thượng Đế) đày đọa những kẻ không nghe theo/chấp nhận một Thượng Đế toàn năng, hay nói trắng ra những kẻ (cũng) nổi loạn chống lại Thượng Đế. Những kẻ nổi loạn đày ải những kẻ cùng tư tưởng với mình, chắc là phải có lý do (trên cả tuyệt vời) nào đấy (?). Loài người tất nhiên không phải Thượng Đế nên phải tự chế ra trại tập trung, cải tạo, lao cải … và đám quỷ sứ của riêng mình để lo quét dọn căn nhà lý tưởng được thơm tho, trắng (hay đỏ) trẻo.
    Khi vị Thượng Đế toàn năng khó có thể tồn tại vì không trả lời được câu hỏi về sự toàn năng có thể tạo ra một tảng đá to và nặng đến nỗi chính bản thân mình cũng không vác nổi hay không, ông Marx nhà ta ghé vai vào bằng cách trồng chuối Hegel, loại Thượng Đế ra khỏi bài toán. Tính tất yếu của thuyết lịch sử trước kia được bảo đảm bởi sự tuyệt đối và toàn năng của Thượng Đế được thay bằng thuyết duy vật còn đang gây nhiều tranh cãi và những kết luận của ngành nhân chủng học sặc mùi thực dân lúc bấy giờ; một sợi chỉ lỏng lẻo dẫn tới một tất yếu, hay nói nôm na, râu ông nọ cắm cằm bà kia.
    Chả cần ai tầm thường hóa chủ thuyết của mình, Marx chơi dại với lưỡi dao cạo của Ockham và gần 1/2 thế giới đứt tay (đầu, cổ …). Ông du nhập lịch sử một cách vô tội vạ (phim Jurassic Park có đề cập đến trò vô trách nhiệm này), đem bạo tàn (xin đọc phần “Sự cần thiết của Cách Mạng trong “German Ideologue”) để giải quyết xã hội, kết tinh ở 10 điều răn của bản tuyên ngôn CS. Thử có ai dám đọc lại khi đã kinh qua từng điều một trong thực tế.
    Paul Watzlawick chỉ ra nghịch lý xảy ra khi một chủ thuyết vượt quá khả năng giải thích của mình. Và từ đó nghịch lý sinh nghịch lý thành nghịch lý chất chồng. Trí thức không hèn mà chỉ vì cơ chế không cho phép, cuộc tranh cãi về ai là tác giả thật của bản tuyên ngôn CS, tân và hậu marxism …
    Lấy một ví dụ về tân/hậu Marxism (có nhiều người xem đây mới chính là “thuyết Marxism không Marx”) và nghịch lý “Con tàu của Theseus” ở bài của tác giả Đàm Văn Vĩ (http://www.talawas.org/?PHPSESSID=2icgibsf8314pomucn20jus0n3&author=473). Ta tự hỏi với hàng loạt câu kết luận Marx sai, thiếu nhận thức … và thay bằng những lý thuyết hiện đại, giữa 2 con tàu cũ và mới, con nào mới chính là của Marx?
    Và tôi muốn tin cái gì ?

  2. Chaien viết:

    Chia sẻ với anh. Trường phái Marxism Ba Lan có cái nhìn rất riêng biệt, ảnh hưởng nhiều từ Praxaeology của Kotarbinski mà bên Mỹ hay gọi là Pragmatism. Cùng thời với Leszek Kolakowski còn có Zygmunt Bauman, cũng ở Anh, nhưng nhìn sử hiện đại và có phần hậu hiện đại hơn, nhưng cũng đã qua đời. Trong khu vực tiếng Đức thì có GS Marek Siemek, nhưng cũng mới qua đời vào năm ngoái. Ngày nay người tiếp nối tư duy triết (gốc) Ba Lan có GS Pilat, một người còn rất trẻ cho nên hi vọng sẽ có thêm nhiều bước tiến mới.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>