Thế Uyên – Ngưỡng cửa thiên đường “nóng” (1)
15/07/2009 | 3:38 sáng | 3 Comments
Category: Chiến tranh Việt Nam, Chính trị - Xã hội
Thẻ: Hồ Chí Minh > Tị nạn sau 75
Mỹ không phải là thiên đường, trừ phi là thiên đường “nóng”.
(trích thư Tạ Tỵ gửi Thế Uyên mới tới Bataan 1986)
Cuối năm 1986
Sau 6 năm nạp đơn xin đi Mỹ đoàn tụ gia đình ở Seattle với hồ sơ do cô em ruột vợ tôi gửi về, bà vợ tôi được phép mang chồng và năm con ra phi trường Tân Sơn Nhất để chuẩn bị lên phi cơ. Nếu kể những gì, những chặng đường vợ chồng tôi đã phải trải qua, trước khi đến ngày hôm nay có chiếc xe đò thuê vừa đậu trước cửa nhà để chở bọn tôi ra phi trường, chắc phải viết một bài khác. Bây giờ thì gia đình tôi lên xe cùng hai bạn “cải tạo về” cùng bạn bè của năm đứa con trai đi tiễn, cũng đủ cũng đầy một xe. Ngồi phía trên cạnh tài xế cùng vợ, tôi nhìn khung cảnh cư xá Chí Hòa đã từng ở hai mươi năm, nay ra đi không một luyến tiếc nào vì chưa bao giờ trong đời, tôi bị đói, khổ vì bị áp bức đủ đường, hạ nhục nhiều kiểu, như 12 năm vừa qua trong chế độ có cái tên dài thoòng là xã hội xã-hội-chủ-nghĩa.
Tâm trạng những người rời bỏ Việt Nam nhiều năm sau 30 tháng Tư 75, dù ra đi bằng máy bay theo diện ODP như gia đình tôi hay vượt biển đầy bất trắc, tử vong và cưỡng hiếp, hay vượt biên đường bộ qua Miên qua Thái dài dằng dặc, khác hẳn tâm trạng của lớp người “di tản 75”. Lớp người di tản này ra đi trong hốt hoảng trước khi Cộng quân tới vì e ngại “Sài Gòn là biển máu”, không sống tới một ngày dưới chế độ mới, không hề nhìn thấy tận mắt nón cối dép râu, chiếc mũ và bộ đồng phục mầu vàng kinh dị của công an và… Lớp đi sau như bọn tôi đã ê càng mỗi người một cách bởi công an các ngành, uỷ ban nhân dân các cấp và nhiều ban ngành đoàn thể khác, do đó trên người, trong tâm hồn còn mang nhiều vết sẹo không thể nào quên trong cuộc đời này. Bỏ qua cho nhau thì được vì chiến tranh, cuộc nội chiến ấy, đã qua hơn 30 năm, nhưng bảo rằng quên đi, thì không được đâu. Những vết sẹo lúc bình thường không sao, nhưng những khi trái gió trở trời, như khi trông thấy cờ đỏ sao vàng, hình “Bác Hồ”… vẫn cứ đau nhức như thường. Đôi khi ngồi nghĩ vẩn vơ, tôi tự hỏi ông già Hồ Chí Minh có dạy các cán bộ đảng viên khi thắng trận thì chà đạp hạ nhục dân thua trận miền Nam như thế chăng? Dám là có lắm, vì “dẫy núi Trường Sơn ” ông còn không ngại đốt luôn nữa là… Ngay trong thời Cải cách Ruộng đất trước 1954, khi các báo cáo gửi về nói đẫm máu vô ích, oan uổng nhiều, tưởng ông già ra lệnh đình chỉ hay sửa đổi, ông già chỉ nói : Không muốn dội một gáo nước lạnh lên lưng cán bộ…, rồi để mặc mọi sự diễn tiến đến chót. Chỉ sợ cán bộ bị cảm lạnh, không một lời thương xót nhân dân, oan hay không oan mặc kệ. Chẳng trách khi chết, bị đàn em đem phơi thây ướp lạnh giữa thành phố đông người, không được chôn cất đàng hoàng ở núi Tam Đảo như lời di chúc. Theo truyền thống Đông phương, chỉ những người phạm tội nặng, về chính trị cũng như hình sự, khi chết mới phải phơi thây giữa chợ, nơi công cộng. Ông già ấy ác ngầm, nhưng thế chưa đủ là tội để không được “mồ yên mả đẹp”. Vậy cứ nói, ca tụng ông là một chính trị gia có tài, đừng nói ông là một người nhân từ , và thương dân Việt Nam không điều kiện. Như vậy, lấy công trừ tội, hãy chấm dứt cảnh bắt ông phơi thây cho người đời tò mò nhìn ngắm, đưa ông về an nghỉ vĩnh viễn nơi mong muốn là núi Tam Đảo. Còn nguyện ước mong người đến thăm viếng sẽ mang một cây nhỏ trồng lên núi cho núi xanh um lên, là một ý kiến hay, hợp với mọi phong trào xanh trên thế giới.
Đến phi cảng, vào trình diện các chức sắc nội địa và đại diện HCR (Cao ủy Tị nạn của Liên hiệp quốc), lãnh thẻ nhận diện để cài lên ngực, bọn tôi được ra ngoài lần chót để đưa thân nhân những gì bị cấm đem theo cùng tiền Việt Nam. Chỉ tôi và đứa con trai lớn đi ra. Con trai ra đưa tiền Việt Nam còn lại cho các bạn, để sau khi phi cơ cất cánh hẳn hoi và phóng lên trời cao rộng, mới được rời phi trường để rồi tối gập nhau nhậu hậu-tiễn-hành. Phải dặn cẩn thận như thế vì Đảng Cộng sản nhiều khi đùa giật gân, hủy bỏ chuyến bay, hay đã tập họp sắp lên xe chở ra phi cơ, còn bị phóng thanh gọi trở lại trình diện công an phi cảng với “lý do sẽ cho biết sau”. Một người bạn không quân của tôi đã bị gọi lại kiểu này, vài tháng sau mới được ra đi lại. Lý do: anh và gia đình trước kia ở một cư xá không quân trong phi trường. Thấy miền Nam lâm nguy, anh tống hết vợ con lên phi cơ Mỹ bay sang Guam, anh ở lại một mình chiến đấu tiêp (một thái độ đẹp xứng đáng với tư cách sĩ quan, chứ không cậy “chuồn chuồn có cánh thì bay”). Không quân ngoài Bắc vào tiếp thu toàn thể phi trường, anh bị mời ra ngoài, về nhà cha mẹ ở, vì thế hồ sơ xuất ngoại của anh thiếu giấy hiến nhà cho nhà nước. Anh bị gọi trở lại là vì thế. Và khỏi nói anh đã vất vả ghê lắm, mới thuyết phục được ban nhà đất là không có nhà để cúng cho Nhà nước mới… được xuất ngoại. Sĩ quan quân đội miền Nam không phải ai cũng sở hữu một căn nhà, và tệ hơn như trường hợp Thế Uyên được mẹ cho một căn nhà gỗ nằm trên phần đất của công binh, còn bị binh chủng này tống xuất một cách tàn bạo nhất, là phải tự dỡ nhà ra đi, nếu không sẽ cho xe ủi đất đến ủi – cái gì chứ bulldozer thì binh chủng này có nhiều nhất… Vì thế , vì là nhà văn “có lắm vấn đề” này, đã cẩn thận dặn vợ là sắp lên thang máy bay mà còn bị gọi lại để làm việc thêm với công an, bà vợ vẫn phải dẫn đàn con đi Mỹ như thường, cấm ì ra kỳ kèo ăn vạ Đảng. Đi thoát được kẻ nào, hay kẻ đó và nhớ gửi tiền về ngay, năm đầu mỗi tháng $100 đủ rồi, sang năm thứ hai tăng gấp đôi để tôi có tiền bao “bồ nhí”… Bà vợ tôi cái gì cũng vâng cả, ngoan như một hiền thê bên Tầu thời phong kiến, nhưng cái khoản tăng gấp đôi ấy, bả nhất định không chịu…
Khi ra đến phi đạo, xếp hàng lên thang máy bay Air France, hai đứa con út của bọn tôi, gọn ghẽ trong áo gió mới tinh và giày Bala, vui quá la: “Thế là sau cùng mình cũng được chui vào nó đấy nhé…” Hai đứa nhỏ bỏ hàng lao lên thang, tiếng chân bịch bịch nghe thật êm đềm như một lời khen tôi đã chu toàn bổn phận làm cha làm chồng, nghĩa là mang được vợ con ra khỏi được chế độ XHCN. Còn thân tôi thế nào cũng được. Ai bảo chiến đấu dở ẹc, làm thân chiến bại, kêu ca nhiều thì hơi “quê độ”. Vèo một cái hai đứa đã lên tới đầu thang có hai cô hotesse de l’air xinh xắn trong đồng phục Air France “như một giấc mơ xưa” dễ thương giơ tay đón, hai đứa nhẩy thẳng vào phi cơ và biến mất, cho tới khi phi cơ bình phi trực chỉ Bangkok, tôi lang thang phần đuôi phi cơ mới kiếm ra chúng. Khi bước vào lòng tàu, một cô tiếp viên ra hiệu cho vợ tôi đi về bên phải, và tôi đi về phía trái. Tôi muốn nói tôi là chồng muốn ngồi cạnh và cầm tay vợ khi phi cơ ra khỏi quê hương, nhưng tiếng Pháp tiếng Anh đâu mất rồi, đành ú ớ kiếm một ghế trống dẫy phải, cạnh một cô gái xa lạ. Tôi giơ tay trái cầm tay phải của mình, không lẽ cầm tay cô hàng xóm, khi phi công trưởng loan báo vừa rời không phận Việt Nam, tôi thở ra đến phào một cái, nghĩ: Thế là thoát! Kể từ nay tôi có thể bắt đầu sống lại, sống thực cuộc đời mình… Khỏi sợ một ông công an áo vàng đeo sa cốt nào, khỏi phải cười đến méo miệng để cầu an.
Khi đến phi trường Bangkok, trời đã về chiều, bon tôi bây giờ chính thức được gọi là refugee, được đưa đến cuối phi đạo làm thủ tục tạm trú lâu ơi là lâu, nhưng cũng may được xứ Thái chiêu đãi một hộp cơm Thái, dĩ nhiên ngon lành rồi. Và được hướng dẫn bởi một cô gái Thái gốc Việt nói giọng Bắc kỳ cũ, nghe dễ chịu cho tai. Rồi sau cùng bọn tôi cũng được lên xe về Trung tâm Tạm trú Suan Flu khi trời đã tối. Vợ chồng tôi nhìn ra ngoài, xa lộ ở đây để đèn vàng khó chịu và xe cộ chạy kiểu Anh bên trái. Về đến Trung tâm Tạm trú được ngồi nghe nội qui , phân phối phòng và chiếu để nằm. Tôi mệt đến độ chỉ nhận được sơ qua nơi đây là một tòa nhà bốn tầng và gia đình tôi chung phòng với một gia đình người Hoa gồm một ông già và hai cô gái lớn. Trải chiếu xong là tôi nằm lăn ra ngủ, loáng thoáng nghe tiếng bà vợ tôi bảo một con tắt đèn và tiếng một cô gái Hoa: Ấy đừng tắt. Tôi đi vào giấc ngủ dưới ánh đèn sáng vì đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi đã thức suốt sáng.
Sáng hôm sau thức dậy trong ánh nắng vàng Thái Lan và một cảm tưởng khinh khoáng nhẹ nhàng. Tôi đã xuất ngoại nhiều lần, nhưng đây là lần đầu tiên tôi có cảm tưởng đó. Và xứ Thái lan tôi đã từng ghé, đã phơi đầu trần dưới thứ nắng này, sao lần này thấy khác. Hai vợ chồng cùng các con xuống quán ăn dã chiến dưới chân cầu thang, gọi mỗi người một tô mì tài tử – quán do vợ một nhân viên phục vụ tại trung tâm mở và bà này chỉ biết có tiếng Thái, dù phải giao dịch nhiều với người Việt. Ngoài bán hàng ăn bà còn giữ việc đổi những nhẫn vàng người tị nạn mang theo lấy tiền Thái theo một hối suất không giống ai, để lấy tiền ăn sáng và tiêu vặt. Bà vợ tôi cũng đổi nhẫn vàng hai chỉ mang theo như mọi người (tôi sẽ cắt nghĩa tại sao đã sống 12 năm dưới chế độ XHCN, bà vợ tôi còn vàng đem theo), cũng giao dịch với bà chủ quán bằng ngôn ngữ quốc tế, nghĩa là bằng tay. Bọn tôi đặt tên cho bà là Mế Mê, vi trong tràng ngôn ngữ bà tuôn ra hàng ngày, bọn tôi chỉ nghe rõ hai từ “mế mê” (bạn nào giỏi tiếng Thái xin cho biết hai chữ ấy nghĩa là gì).
Ăn sáng xong, tôi gọi một ly cà-phê và một bao thuốc lá Sammit, vừa uống vừa nhìn làn khói thuốc cầm ở tay cuồn cuộn bay lên, mầu xanh xám trong nắng vàng tươi, cảm thấy sung sướng, vô cùng sung sướng.
(Còn nữa)
© 2009 Thế Uyên
© 2009 talawas blog
Bình luận
3 Comments (bài “Thế Uyên – Ngưỡng cửa thiên đường “nóng” (1)”)
Không có đề tài nào là cũ cả, chỉ cần có ý tưởng và giọng văn mới. Thế Uyên là nhà văn khá nổi tiếng miền Nam và tôi rất thích. Tiếc thay đây lại là chuyện “cổ tích” được nghe quá nhiều và rất nhiều người nghe lại là nhân vật chính trong truyện, đọc quá nhiều đâm chán.
Anh bạn không quân của Thế Uyên quê hơn tôi rồi. Anh ấy không có nhà để hiến còn tôi thì có phòng mạch ở bên kia cầu chữ Y, số 855 bến Phạm Thế Hiển, phải hiến. Bị bầm dập vì qua không biết bao nhiêu là thủ tục để dâng nhà cho đảng (xin talawas vui lòng đừng sửa lại thành Đ hoa), gia đình tôi sáng sớm hôm lên máy bay còn phải tiếp một nam nhân viên cơ quan nhà đất để giao lại chìa khóa phòng mạch. Tại sao anh ta chờ đến lúc đó mới tới thì dù có đứa nào ngu đến đâu đi nữa cũng hiểu. Không cần vòng vo gì ráo, anh ta yêu cầu cho tiền thì anh ta mới ký nhận chìa khoá! Mà anh ta không phải cán ngố đâu, anh ta rõ ràng là gốc ngụy quyền; có điều tập tành sống trong chế độ mới, anh ta đã lượng định đúng thời cơ thời điểm.
Bản thân anh chị Thế Uyên thì thua bà xã tôi. Đặt được chân lên đất Thái Lan bà quay lại nói với tôi: “Thề là kể từ nay không còn nhìn mặt tụi chó đẻ nữa!” (Xin lỗi, tôi mạn phép tường thuật trung thực!).
Nói chuyện đứng đắn hơn: anh Thế Uyên cũng như tất cả chúng ta có một bổn phận, tiếng Pháp gọi là devoir de mémoire, bổn phận phải nhớ, không được quên.
Elie Wiesel, giải Nobel Hoà bình 1986, dân Mỹ gốc Do Thái, tác giả Le Mendiant de Jérusalem, Signes d’exode, vào dịp đọc diễn văn trước Quốc hội Đức, đã trầm trầm nhận xét: “Nếu Hitler không ra lệnh giết trẻ con Do Thái thì bây giờ đã có thêm được biết bao nhiêu người trưởng thành… Chúng ta không được quên điều đó!” Nghe thế tôi tự dưng liên tưởng đến hai đứa con gái. Một đứa chỉ chừng bảy, tám tuổi, da trắng, đứng cạnh bố mẹ trong một đám đông lúc nhúc. Nó chìa tay ra, trên tay có khắc những gì tôi không rõ lắm. Nó sẽ đi về đâu, ai cũng đoán biết được. Đứa kia khoảng mười bảy tuổi, da vàng, thái độ cam chịu, đứng cạnh bố nó, sau khi nó thi vào y khoa với điểm số lẽ ra được sang Liên Xô (!) nhưng lại không có tên đi khám sức khoẻ. Nhờ Trời Đất tổ tiên gia hộ độ trì, nó đang ở Đức.
Thôi thì chuyện qua đã lâu. Ai không muốn chấp nhận devoir de mémoire thì tùy. Phần anh và tôi, anh Thế Uyên ơi, chúng ta phải nhớ.
Anh Thế Uyên,
“Mế mê” hay “Mấy mi” có nghĩa là “không có”, người Thái có ba chữ tiếng Anh thì dùng cũng dễ thương không kém cụm từ “nô hép” tức là no have.