Noam Chomsky – Liên Xô vs. Chủ nghĩa Xã hội
12/07/2009 | 7:17 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Noam Chomsky – Liên Xô vs. Chủ nghĩa Xã hội
Category: Chính trị - Xã hội
Thẻ: Chomsky > chủ nghĩa xã hội > Liên Xô
Trịnh Hữu Tuệ dịch
Khi hai hệ thống tuyên truyền lớn của thế giới cùng đồng ý với nhau về một luận điểm thì khó mà thoát được dây trói của nó nếu ta không bỏ công suy nghĩ một chút. Một ví dụ là luận điểm cho rằng xã hội Xô-viết, tức cái xã hội do Lenin và Trotsky tạo ra và sau đó được Stalin cùng những người kế nhiệm nhào nặn tiếp, có một mối quan hệ với chủ nghĩa xã hội theo một cách hiểu nào đó mang tính ngôn ngữ hoặc lịch sử về khái niệm này. Thực ra, nếu có tồn tại một mối quan hệ như vậy, thì nó cũng chỉ là mối quan hệ của sự phản biện mà thôi.
Lý do tại sao cả hai hệ thống tuyên truyền lớn đều khăng khăng bám vào sự hoang đường này cũng không khó hiểu cho lắm. Ngay từ đầu, nhà nước Xô-viết đã tìm cách dùng sức lực của dân nước họ – và sức lực của người bị áp bức ở các nơi khác – vào mục đích phục vụ những kẻ đã lợi dụng chấn động quần chúng năm 1917 để chiếm quyền lực tại Nga. Họ tuyên bố rằng các nhà lãnh đạo đang dẫn dắt đất nước và thế giới đến lý tưởng của chủ nghĩa xã hội. Mệnh đề này là một vũ khí tư tưởng lợi hại. Bất kỳ người nào theo chủ nghĩa xã hội – và chắc chắn là bất kỳ người nào theo chủ nghĩa Marx – đều hiểu được rằng nó hoàn toàn mâu thuẫn; một sự dối trá khổng lồ, bị lịch sử lật tẩy ngay từ những ngày đầu của chính quyền Bolshevik. Các quan lớn đã lấy lòng dân bằng cách lợi dụng ánh hào quang của những lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lợi dụng sự kính trọng mà những lý tưởng này được hưởng và xứng đáng được hưởng, để rồi sau đó tiến hành tiêu diệt những dấu vết cuối cùng của chủ nghĩa xã hội.
Còn hệ thống tuyên truyền thứ hai của thế giới thì tìm cách liên kết chủ nghĩa xã hội với Liên bang Xô-viết và những vệ tinh của nó để quy phục quần chúng và ép họ tuân thủ những thể chế tư bản của nhà nước. Hệ thống tuyên truyền này biến việc đem thân đi hầu hạ những thể chế nói trên thành một quy luật tự nhiên trong mắt người dân, thành lựa chọn duy nhất bên cạnh cái ‘địa ngục’ xã hội chủ nghĩa.
Tóm lại, giới lãnh đạo Xô-viết tuyên bố rằng họ theo chủ nghĩa xã hội để giữ ghế, còn các nhà tư tưởng phương Tây công nhận sự dối trá này để ngăn ngừa một xã hội tự do và bình đẳng hơn. Đòn tấn công từ hai phía này thật là hiệu nghiệm, và đã đè bẹp chủ nghĩa xã hội trong những thập kỷ gần đây.
Ta nên lưu ý một mánh khóe lợi hại nữa được các cán bộ tư tưởng của chủ nghĩa tư bản dùng để phục vụ giai cấp nắm quyền. Trong lúc trình diễn những bài ca quen thuộc lên án các quốc gia ‘xã hội chủ nghĩa’, họ bóp méo thông tin và thường xuyên đưa ra những lời nói dối trắng trợn nhất. Không có gì dễ hơn việc lên án kẻ thù chính thức và gán cho nó tất cả các loại tội trên đời: không ai đòi hỏi ta phải có bằng chứng hay logic khi ta diễu hành cùng họ. Những người phê bình bạo lực và tội ác phương Tây thường tìm cách làm cho ra nhẽ mọi việc. Họ nhìn nhận những tội ác và những chiến dịch đàn áp đang hiện hữu, đồng thời phanh phui những câu chuyện cổ tích được sáng tác để phục vụ bạo lực phương Tây. Và đúng như dự đoán, những hành động của họ lập tức bị coi là biện hộ cho cái vương quốc tội lỗi và những chư hầu của nó. Vậy là ta có quyền được nói dối để phục vụ nhà nước, nhưng không có quyền phê bình những tội ác của nó.
Ta cũng nên lưu ý sự hấp dẫn của học thuyết Lenin đối với giới trí thức hiện đại trong những thời kỳ loạn lạc. Học thuyết này cho phép những ‘trí thức cực đoan’ nắm quyền lãnh đạo và quyền áp đặt kỷ luật sắt của hệ thống ‘quan lại đỏ’, của ‘giai cấp mới’, theo cách phân tích đầy tiên tri của Bakunin một thế kỷ trước. Họ trở thành những ‘linh mục nhà nước’, như trong cái Nhà nước Bonapartist mà Marx đã từng lên án. Họ vừa là “mẩu thịt thừa của xã hội dân sự”, vừa là những người thống trị nó với một bàn tay sắt.
Trong những thời kỳ không có loạn lạc, tức khi những thể chế tư bản nhà nước không bị thách thức, cách suy nghĩ nói trên của ‘giai cấp mới’ sẽ biến họ thành những chuyên gia quản lý, những cán bộ tư tưởng của nhà nước. Họ sẽ “dùng gậy của nhân dân đánh nhân dân,” theo cách nói của Bakunin. Vì thế, ta không nên ngạc nhiên khi các trí thức, đang theo ‘cộng sản cách mạng’, lại có thể nhảy sang ‘vinh danh phương Tây’ một cách dễ dàng như vậy. Họ chỉ diễn lại cái kịch bản mà trong nửa thế kỷ vừa rồi đã chuyển từ bi sang hài. Về cơ bản, cái thay đổi duy nhất là quan niệm của họ về ai là người nắm quyền. Câu nói của Lenin, rằng “chủ nghĩa xã hội chính là nhà nước tư bản độc quyền vì quần chúng nhân dân” (nhân dân tất nhiên phải biết tin tưởng vào lòng tốt của các nhà lãnh đạo), cho thấy sự biến dạng của ‘chủ nghĩa xã hội’ thành cơ chế phục vụ nhu cầu những linh mục nhà nước, và giúp chúng ta hiểu tại sao người ta có thể thay đổi lập trường nhanh như vậy: các lập trường đó, tuy có vẻ đối lập nhau, thực ra lại rất gần nhau về mặt nội dung.
Những khái niệm chính trị và xã hội học thường tối nghĩa, không chính xác, và liên tục bị các nhà tư tưởng theo chủ nghĩa này hoặc chủ nghĩa kia lạm dụng. Mặc dù vậy, chúng vẫn giữ được một chút ý nghĩa ban đầu. Nghĩa gốc của chủ nghĩa xã hội là giải phóng người lao động khỏi sự bóc lột. Như học giả Marxist Anton Pannekoek đã nhận xét, “mục tiêu này không thể đạt được bằng cách thay thế giai cấp tư sản bằng một giai cấp lãnh đạo khác,” mà chỉ có thể được “thực hiện bằng chính những người lao động sở hữu phương tiện sản xuất.” Sở hữu phương tiện sản xuất bởi những người làm công việc sản xuất là cốt lõi của chủ nghĩa xã hội. Các phương pháp giúp thực hiện ý tưởng này thường được phát minh trong những thời kỳ đấu tranh cách mạng, trước sự chống đối dữ dội của những tầng lớp thống trị truyền thống và của những ‘trí thức cách mạng’ được dẫn dắt bởi chủ nghĩa Lenin và chủ nghĩa quản lý phương Tây được họ sửa đổi để thích ứng với hoàn cảnh nhất thời. Nhưng yếu tố căn bản của lý tưởng xã hội chủ nghĩa vẫn còn lại: biến phương tiện sản xuất thành tài sản của những người công nhân trong liên kết tự do, tức thành tài sản của những người đã tự giải phóng mình khỏi sự bóc lột để tiến thêm một bước quyết định tới một khái niệm rộng hơn về tự do con người.
Tầng lớp trí thức Leninist có một kế hoạch khác. Họ giống những kẻ luôn ‘âm mưu’ để “bóp nghẹt phong trào cách mạng đang phát triển,” đồng thời xuyên tạc nó để theo đuổi mục đích thống trị riêng; “Vậy nên họ ghét nhất việc giúp các công nhân có được giác ngộ lý thuyết về quyền lợi giai cấp,” trong đó bao gồm việc lật đổ hệ thống quan lại đỏ và việc tạo ra những cơ chế dân chủ để kiểm soát quá trình sản xuất và cuộc sống xã hội. Những người Leninist cho rằng phải áp đặt kỷ luật lên quần chúng một cách nghiêm khắc, trong khi những người theo chủ nghĩa xã hội sẽ cố gắng tạo ra một xã hội trong đó kỷ luật “sẽ trở nên không cần thiết” vì những công nhân trong liên kết tự do sẽ “làm việc một cách tự nguyện” (Marx). Hơn nữa, chủ nghĩa xã hội tự do không chỉ đặt mục tiêu trao quyền sở hữu phương tiện sản xuất cho người công nhân, mà còn tìm cách loại bỏ tất cả các hình thức thống trị trong tất cả các khía cạnh của cuộc sống riêng tư và xã hội. Đây sẽ là một cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ, bởi tiến bộ trong quá trình xây dựng một xã hội công bằng hơn sẽ đem lại cho chúng ta những kiến thức mới, giúp chúng ta hiểu rõ hơn những hình thức đàn áp tiềm ẩn trong lối sống và cách suy nghĩ truyền thống.
Có thể nhìn ra ngay từ đầu rằng những người Leninist hết sức dị ứng với những tính chất cơ bản của chủ nghĩa xã hội. Tại Nga vào thời kỳ cách mạng đã hình thành những Xô-viết và những ủy ban nhà máy với chức năng làm công cụ đấu tranh và giải phóng, với nhiều sai sót, nhưng với một tiềm năng giàu có. Lenin và Trotsky, khi đã chiếm được chính quyền, lập tức tìm cách tiêu diệt tiềm năng giải phóng của những công cụ này, thiết lập sự thống trị của Đảng mà thực ra là của Ban chấp hành Trung ương và những Lãnh đạo Tối cao của nó – Trotsky đã tiên đoán là sẽ xảy ra như vậy, Rosa Luxemburg và những người Marxist cánh tả đã cảnh báo là sẽ xảy ra như vậy, và những người theo chủ nghĩa vô chính phủ (anachists) vẫn biết là sẽ xảy ra như vậy. Không những quần chúng, mà thậm chí Đảng cũng phải chịu sự “kiểm soát gắt gao từ trên xuống,” như Trotsky đã nói khi ông chuyển từ làm cách mạng sang làm linh mục nhà nước. Trước khi chiếm chính quyền, các lãnh đạo Bolshevik nói cùng giọng với những người đấu tranh cách mạng từ bên dưới, nhưng chủ ý của họ khác hẳn. Điều này có thể nhìn ra trước khi họ nắm chính quyền vào tháng 10 năm 1917, và sau đó thì nó trở nên rõ như ánh sáng ban ngày.
Một sử gia có cảm tình với những người Bolshevik, E. H. Carr, viết rằng “xu hướng tự phát của công nhân muốn thành lập những ủy ban trong công xưởng và muốn tham gia quản lý công xưởng chắc chắn tìm được sự khuyến khích từ một cuộc cách mạng trong đó những người công nhân đi đến chỗ tin rằng máy móc trong nước thuộc về họ và họ có quyền sử dụng chúng để phục vụ lợi ích của chính họ” (tôi nhấn mạnh). Đối với người công nhân, “các ủy ban công xưởng là tế bào của xã hội… Nhiệm vụ quản lý thuộc về chúng chứ không thuộc về Nhà nước.”
Nhưng những linh mục nhà nước khôn ngoan hơn. Họ lập tức tiêu diệt những ủy ban công xưởng và biến các Xô-viết thành bánh xe trong bộ máy cai trị của họ. Vào ngày mồng ba tháng 11, Lenin tuyên bố trong “Dự thảo sắc lệnh về quyền điều khiển của công nhân” rằng những ủy viên được công nhân bầu ra để thực hiện cái quyền này phải “chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc giữ trật tự và kỷ luật ở mức cao nhất và về việc bảo vệ tài sản.” Đến cuối năm đó, Lenin nhận xét rằng “chúng ta đã chuyển từ quyền điều khiển của công nhân sang Hội đồng Kinh tế Quốc gia Tối cao.” Hội đồng này có nhiệm vụ “thay thế, hấp thụ và vượt qua bộ máy điều khiển của công nhân” (Carr). “Ý nghĩa của chủ nghĩa xã hội nằm trong quyền điều khiển của công nhân,” một thành viên Menshevik bày tỏ sự lo lắng của mình như vậy. Những người Bolshevik cũng bày tỏ sự lo lắng của họ về ý nghĩa của chủ nghĩa xã hội, nhưng họ làm việc này bằng cách phá bỏ nó.
Sau đó không lâu, Lenin tuyên bố rằng tầng lớp lãnh đạo phải nắm những “quyền lực độc tài”, và tầng lớp công nhân phải “phục tùng vô điều kiện một ý chí độc tôn”. Công nhân, vì “lợi ích của chủ nghĩa xã hội,” phải “tuân theo vô điều kiện ý chí độc tôn của những người lãnh đạo quá trình lao động.” Trong lúc Lenin và Trotsky tiến hành quân sự hóa lao động, biến xã hội thành một đội quân công nhân tuân theo ý chí độc tôn của họ, Lenin giải thích rằng đặt giai cấp công nhân dưới một “quyền lực cá nhân” là bước cần thiết để có được “hệ thống sử dụng nhân lực hiệu quả nhất” – hay nói như Robert McNamara là “những quyết định quan trọng phải được cân nhắc bởi cấp trên … đe dọa thực sự đối với dân chủ không phải là quản lý quá chặt, mà là quản lý quá lỏng”; “nếu lý trí không thống trị con người thì con người sẽ không phát huy được hết khả năng của mình,” và quản lý chính là sự thống trị bởi lý trí, đảm bảo tự do cho chúng ta. Cùng lúc đó, ‘chủ nghĩa bè phái’, tức tất cả những gì liên quan đến tự do ngôn luận và tự do hội họp, đều bị tiêu diệt “vì lợi ích của chủ nghĩa xã hội,” theo cách hiểu và để phục vụ mục đích của Lenin và Trotsky. Hai người này, sau đó, dựng lên những cấu trúc tiền phát-xít, làm nền tảng cho nhà nước Stalin, một trong những nỗi kinh hoàng của lịch sử hiện đại.1
Thiếu hiểu biết về lòng căm ghét chủ nghĩa xã hội của giới trí thức Leninist (bắt nguồn từ Marx), và do đó hiểu nhầm mô hình xã hội Leninist, đã gây ảnh hưởng tai hại cho phong trào đấu tranh vì một xã hội tử tế và một thế giới dễ sống hơn tại phương Tây và những nơi khác. Cần phải tìm cách cứu chủ nghĩa xã hội khỏi tay những kẻ thù của nó tại cả hai trung tâm quyền lực của thế giới, khỏi tay những kẻ luôn theo đuổi mục đích trở thành linh mục nhà nước và quản lý xã hội, những kẻ nhân danh giải phóng để tiêu diệt tự do.
(1) Về công cuộc tiêu diệt chủ nghĩa xã hội của Lenin và Trotsky, xem Maurice Brinton, The Bolsheviks and Workers’ Control. Montreal: Black Rose Books, 1978, và Peter Rachleff, Radical America, Nov. 1974, trong số nhiều tác phẩm khác.
Nguồn: http://www.chomsky.info/articles/1986—-.htm
Bình luận
Không có bình luận (bài “Noam Chomsky – Liên Xô vs. Chủ nghĩa Xã hội”)