Tưởng Năng Tiến – Nguyễn Mạnh Tường và Lê Trần Luật
08/07/2009 | 1:16 chiều | 5 Comments
Category: Chính trị - Xã hội, Hồ sơ Nhân văn - Giai phẩm, Pháp luật
Thẻ: Lê Trần Luật > Nguyễn Mạnh Tường
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường sinh hồi đầu thế kỷ XX. Luật sư Lê Trần Luật chào đời vào cuối thế kỷ này. Giữa hai ông, xem ra, có một khoảng cách (khá) xa về tuổi tác và hoàn cảnh sống.
Tôi ra đời sau Nguyễn Mạnh Tường và trước Lê Trần Luật khá lâu. Nói một cách (hơi) cải lương và kiểu cọ, tôi là người thuộc thế hệ bắc cầu. Bữa nay, đang lúc hưởn, tôi xin được làm gạch nối cho câu chuyện (thời sự) có liên quan đến hai ông.
Bài diễn văn “Qua những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất – Xây dựng quan điểm lãnh đạo” của Nguyễn Mạnh Tường, hiện đang được lưu trữ ở tủ sách talawas, có đôi lời giới thiệu (ngắn ngủi) về diễn giả:
“Năm 23 tuổi Nguyễn Mạnh Tường đậu hai bằng Tiến sĩ Văn khoa và Luật khoa ở Đại học Montpellier, Pháp. Sau khi về nước, ông dạy học tại trường Trung học Bảo hộ (Lycée du Protectorat). Bất mãn vì chính sách kỳ thị của Pháp, ông bỏ nghề dạy ra mở văn phòng luật sư.
Năm 1946, ông tham dự Hội nghị Việt-Pháp tại Đà Lạt nhưng không được cử đi dự Hội nghị Fontainebleau. Ông theo chính phủ Hồ Chí Minh kháng chiến chống Pháp tới ngày ký Hiệp định Genève 1954 thì trở về Hà Nội dạy học ở trường Đại học Văn khoa.
Với tư cách thành viên của Mặt trận Tổ quốc, L.S. Nguyễn Mạnh Tường đọc bài diễn văn này trong một phiên họp của Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội, ngày 30 tháng Mười, 1956. Cũng nên nhắc lại rằng bài diễn văn này được đọc sau khi Trung ương Đảng hạ lệnh chấm dứt chiến dịch Cải cách Ruộng đất ngày 20.7.1956 và sau đó ban hành các biện pháp sửa sai. Vì bài diễn văn này, ông Tường bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp và phải sống một cuộc đời vô cùng thiếu thốn.”
Nói như thế (“phải sống một cuộc đời vô cùng thiếu thốn”) e có vẻ kiệm lời, và sợ rằng cũng có phần hơi hời hợt, về cuộc sống khốn quẫn của Nguyễn Mạnh Tuờng – sau khi “bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp.” Trong cuốn Un Excommunié: Hanoi 1954-1991: Proces d’un intellectuel (Quê Mẹ, Paris, 1977) ông cho độc giả biết tỉ mỉ hơn, về cảnh đời của một kẻ bị dồn đến bước đường cùng:
– “Nhà tôi ước mơ bán thuốc lá lẻ trên vỉa hè, nhưng không làm sao kiếm nổi vốn liếng và tiền đấm mõm cho công an và cán bộ thu thuế để bọn họ cho chúng tôi được yên thân.”
– “Tôi phải làm gì bây giờ? Tôi không thể đạp xích lô như vài đồng nghiệp trẻ, không phải vì sợ những lời thị phi, nhưng chỉ vì tôi đã già rồi.”
“Bạn bè cho gia đình tôi một con chó rất khôn. Chó có tuổi, chúng tôi chẳng còn gì cho con vật đáng thương ăn cả. Con chó kiệt sức rơi nước mắt, buồn bã vĩnh biệt chủ.”
– “Trong chế độ này đói kém là chuyện thường. Nước da nhà tôi và con gái tôi xanh mét, tấm thân gày gò. Nhưng cả hai cắn răng chịu đựng, họ sợ làm tôi buồn nên chỉ khóc thầm trong đêm khuya. Tôi biết lắm nhưng giả vờ không biết. Tôi cũng không ngăn được giọt lệ sót sa khi thấy vợ con cắn răng chịu đựng bao nỗi cực khổ, không có hạt cơm lót bụng.” (tr. 253-257 bản dịch trích từ Lê Ðình Thông, “Thế hệ vong thân, thế kỷ u sầu.” Tạp chí Thế Kỷ 21 Jan. 2000).
– “Nhưng điều đau đớn nhất đối với tôi là nhìn thấy những bạn thể thao cũ của tôi tránh né trốn chạy tôi! Những sự trốn chạy đó là những nhát dao găm đâm vào tim tôi, và tôi không thể nào đóng vai tên cùng khổ, hay cùi hủi. Tôi hiểu thái độ của những người bạn quần vợt của tôi. Họ đều là những công chức cao cấp, dĩ nhiên cũng là đảng viên nữa, và trước tiên họ phải lo đến tương lai hành chánh và chính trị của họ, và vì vậy họ sẽ lấy làm kinh sợ phải bắt tay một tên mắc dịch để chơi một ván với nó! Họ là những con người, những người nghèo tội nghiệp, tôi không thể nào trông đợi là họ có thể ít hèn nhát, ít bất xứng và ít sa đọa hơn. (tr. 325 – 327 bản dịch trích từ Phản tỉnh phản kháng thực hay hư, Minh Võ, nxb Thông Vũ: California, 1999).
Minh Võ gọi Nguyễn Mạnh Tường là “Kẻ bị vạ tuyệt thông.” Lý do, theo lời Hoàng Văn Chí:
“Bài diễn văn của ông Tường đã làm rung động thế giới vì lần đầu tiên có một nhà luật học đứng trên lập trường pháp lý của các nước văn minh lên án chính sách của ông Mao Trạch Đông về chương trình Cải cách Ruộng đất đề ra từ 1926 và áp dụng lần đầu tiên ở Hồ Nam. Ngày nay, vừa đúng 30 năm về sau, và dựa trên kinh nghiệm đau xót của Bắc Việt, ông Tường lớn tiếng tuyên bố rằng chính sách đó quá ư dã man, không có mảy may nhân đạo và hoàn toàn trái với các nguyên tắc căn bản của pháp lý mà nhân loại công nhận hàng mấy ngàn năm nay” (1).
Nói nào ngay, dù không có bài diễn văn (thượng dẫn) Đảng và Nhà nước chắc cũng khó quên những “yêu cầu” của Nguyễn Mạnh Tường – qua một cuộc phỏng vấn, dành cho báo Nhân Văn, số ra mắt – vào ngày 20 tháng 9 năm 1956:
“Đảng viên Lao động và cán bộ thi hành chính sách thiếu tinh thần dân chủ. Do đó xa lìa quần chúng, và tạo ra tình trạng đối lập quần chúng với mình. Để sửa đổi, cần xây dựng quan điểm quần chúng cho đảng viên và cán bộ, và yêu cầu Trung ương Đảng và Chính phủ đảm bảo sự thi hành triệt để các tự do dân chủ.”
Vụ án Nhân văn – Giai phẩm (2) được những cơ quan truyền thông nhà nước đồng loạt quảng bá, cùng với những lời kết án vừa đanh thép vừa hàm hồ (không lâu) sau đó “chỉ là phần nổi của một tảng băng sơn.” Phần chìm của nó “là cả một nền văn học, nghệ thuật giáo dục, đạo đức của miền Bắc bị lụn bại, méo mó, què quặt và hầu như cả một thế hệ trí thức, văn nghệ sĩ miền Bắc bị đánh gục, bị dìm trong nỗi sợ triền miên.” (Trần Minh, “Nhân văn – Giai phẩm, một tư trào, một vụ án, một tội ác, ”Thế giới Ngày nay, Nov. & Dec. 1994).
“Nó còn liên quan đến cả chục ngàn ‘Nhân văn xóm’, ‘Nhân văn huyện’, ‘Nhân văn tỉnh’, những người bị bắt, bị giam, bị xét hỏi, bị ghi vào sổ đen… do đã tàng trữ, truyền tay, tán thành ủng hộ các tác phẩm Nhân văn – Giai phẩm.” (Thành Tín, Mặt thật, Garden Grove, CA: Turpin Press, 1993,161)
Phải đến nửa thế kỷ sau sự sợ hãi và khiếp đảm mới mờ phai, dân khí, dân chí mới dần hồi phục, và công luận mới bắt đầu được nghe lại những tiếng nói (dõng dạc) của giới luật sư Việt Nam – sau một thế hệ vắng bóng – qua nhưng tên tuổi mới: Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, Lê Quốc Quân, Lê Trần Luật …
Ba trong năm nhân vật có tên vừa kể đã bị tước quyền hành nghề, và đang bị giam cầm vì những tội danh rất mơ hồ (nếu chưa muốn nói là hoàn toàn bịa đặt) bởi nhà đương cuộc Hà Nội. Những dòng chữ tiếp theo của bài viết ngắn ngủi này, như đã thưa, xin được đề cập đến một trong hai vị luật còn lại: Lê Trần Luật.
Trước tiên, hãy điểm qua vài mẩu tin có liên quan đến nhân vật này – trong thời gian gần đây – qua báo chí quốc doanh:
– Ngày 26 tháng 3 năm 2009, báo Công An Nhân Dân loan tin: “tước giấy phép hoạt động của văn phòng luật sư Lê Trần Luật.”
– Ngày 27 tháng 3 năm 2009, báo Công An Nhân Dân loan tin tiếp: “Lê Trần Luật còn vi phạm các điều cấm quy định trong Luật Luật sư: hành vi sách nhiễu, lừa dối khách hàng; lợi dụng việc hành nghề luật sư, danh nghĩa luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân.”
– Cùng ngày báo Nhân Dân cũng (không quên) bổ sung thêm: “Không cần phải nói gì thêm, kiểu hành nghề sai pháp luật, vô đạo đức của Lê Trần Luật bị cơ quan quản lý Nhà nước xử lý, tước quyền sử dụng không thời hạn giấy đăng ký hoạt động của VPLSPQ là hoàn toàn đích đáng. Với những hành vi sai pháp luật và vi phạm đạo đức nghề nghiệp như trên, rõ ràng ông Lê Trần Luật không đủ tư cách để bảo vệ lẽ phải và công lý. Hơn thế nữa, dư luận đề nghị các cơ quan chức năng vào cuộc làm rõ và xử lý nghiêm những hành vi sai phạm của VPLSPQ.”
Có lẽ đợi (hơi) lâu vẫn chưa thấy “dư luận đề nghị các cơ quan chức năng vào cuộc” nên vào ngày 23 tháng 6 năm 2009 – theo tường thuật của Thiện Giao, phóng viên RFA – “Công an yêu cầu luật sư Lê Trần Luật thừa nhận đã ‘lợi dụng phiên tòa tuyên truyền chống Nhà Nước Việt Nam.’ Ông Luật từ chối yêu cầu này, và bị đe dọa sẽ bị bắt và khởi tố.”
Đây không phải là lần đầu tiên và (e) chưa phải là lần cuối Lê Trần Luật bị bôi bẩn, sách nhiễu, và đe doạ. Thay vì tiếp tục phổ biến những bài báo vu vạ bẩn thỉu, và cưỡng bức đương sự lên đồn công an làm việc hàng ngày, để đỡ hao tốn công qũi, tôi xin tha thiết – và khẩn thiết – đề nghị các đồng chí lãnh đạo cứ mang nhân vật này đi khám nghiệm y khoa (ngay) xem sao đã.
Lê Trần Luật, không chừng, bị điếc. Rõ ràng, thằng chả không sợ súng mà. Còn những lời vu vạ và đe dọa mà cơ quan truyền thông, cũng như công an (của ta) kiên trì và liên tục nhắc đi nhắc lại trong thời gian qua (sao) cứ y như… nước đổ lá môn vậy, Trời!
Mới tức thì đây, vào ngày 28 tháng 6 – trên Thông Tấn Xã Công giáo Việt Nam – Lê Trần Luật vẫn cứ lớn tiếng kêu gọi “Mọi người hãy sám hối.” Lý do (theo nguyên văn lời y) vì: “Còn biết bao nhiêu oan trái trên đất nước này mà chúng ta đã thờ ơ im lặng.”
Thiệt là… hết thuốc!
Nửa thế kỷ trước, bên trong bức màn sắt, với tất cả sức mạnh của chuyên chính vô sản (cùng với mọi phương pháp cách tác nghiệp tinh vi nhất) nhà nước (ta) đã không đánh gục được Nguyễn Mạnh Tường. Sau vài thập niên te tua và bầm dập, đến cuối đời đương sự vẫn cương quyết nhắn nhủ: “(Chúng ta) nhất định ngăn chặn không cho những thảm họa tương tự tái diễn trong tương lai.” (sách đd, tr. 153, bản dịch trích từ Tạp chí Thế Kỷ 21, số đd, tr. 58).
Nay: bức màn sắt đã hỏng, chế độ hộ khẩu tem phiếu cũng hỏng luôn, chính sách độc quyền thông tin cũng vậy, chuyện cô lập nạn nhân bằng cách đe doạ thân nhân bạn bè không còn dùng được nữa, và mọi thủ đoạn ti tiện (nhất) cũng đều đã sử dụng hết rồi! Tất cả những cố gắng khuất phục Lê Trần Luật – xem ra – đều vô vọng.
Chuyện này càng kéo dài lâu thì càng khó coi, cũng như khó nói, trước công luận – trong cũng như ngoài nước. Nói thiệt: càng nghĩ, tôi càng thấy ái ngại. Tất nhiên, không phải là ái ngại cho Lê Trần Luật !
Tưởng Năng Tiến
(1) Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc. Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hoá xuất bản, Sài Gòn 1959. 318 trang. Nguyệt san Ngày về tái bản, Hướng Việt phát hành. In tại nhà in Lion Press, 3018 Akron Ct, Denver Co. 80231. Bản điện tử do talawas thực hiện).
(2) Tất cả các bản tin về phiên toà xử Nhân văn – Giai phẩm, do Lại Nguyên Ân sưu tầm, đều có thể đọc được ở talawas.
Bình luận
5 Comments (bài “Tưởng Năng Tiến – Nguyễn Mạnh Tường và Lê Trần Luật”)
Chào tác giả Tưởng Năng Tiến,
Những anh hùng đất Việt như luật sư Nguyễn Mạnh Tường, luật sư Lê Trần Luật thật đáng khâm phục, hành động bất khuất của họ sẽ lưu mãi trong tâm thức những ai yêu nước chân chính.
“Đem đại nghĩa thắng hung tàn,
Lấy chí nhân thay cường bạo”.
Biết bao giờ nhà cầm quyền mới thuộc nằm lòng câu nói của tiền nhân để nước Việt được thực sự an bình, thịnh trị.
Cám ơn tác giả Tưởng Năng Tiến.
Cụ Nguyễn Mạnh Tường từng là thầy học của bố tôi. Cụ đã viết lời tựa bằng tiếng Pháp cho tập thơ “Tình và Hận của tôi” của bố tôi ( Xem tại
http://ribf.riken.go.jp/~dang/NDNam/NManhTuong.htm )
Tôi thường được nghe bố tôi kể về thời “oanh liệt” của cụ Nguyễn Mạnh Tường, các buổi diễn thuyết về văn chương và triết học của cụ tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. “Trước Nhà Hát Lớn đầy xe hơi, xe tay. Trong Nhà Hát Lớn chỉ toàn khán giả ăn mặc lịch sự sang trọng.” – bố tôi kể – “Ông Tường bước ra sân khấu, hai ngón tay cái ngoắc vào nách áo gilet và mở đầu bài thuyết trình của mình bằng một tràng tiếng Latin. Sau đó ông chuyển sang tiếng Pháp, thao thao bất tuyệt. Ở bên dưới tây đầm mở sổ tay cắm cúi ghi chép.”
Khi tôi còn nhỏ, cụ Nguyễn Mạnh Tường hay lui tới nhà tôi chơi. Tôi gọi cụ bằng “bác Tường”. Hồi đó cụ đã bị nhà nước “treo giò”. Lúc nào tới mà vào mùa rét cụ cũng vận veston, gilet và thắt nơ trịnh trọng. Vừa bước vào nhà, cụ đã cất giọng sang sảng nói chuyện với bố tôi toàn bằng tiếng Pháp từ đầu chí cuối.
Văn chương Pháp đã ngấm vào cụ từ trước khi cụ tới nước Pháp. Cụ biết rõ Paris tới mức, khi lần đầu tiên đặt chân tới đây, cụ đã viết:
“Paris, tu n’es pas pour moi une découverte, mais un souvenir.”
(Paris, đối với tôi Nàng không phải là một phát hiện, mà là một hoài niệm.)
Nghe nói, việc cụ giành 2 bằng tiến sỹ: TS luật khoa và TS văn chương tại Đại học Montpellier năm mới 23 tuổi là một kỷ lục mà cho đến tận bây giờ ngay cả người Pháp chính gốc cũng chưa ai phá nổi.
những kẻ sĩ
nước ta không thiếu những kẻ sĩ
những người sống tinh anh hào khí
trước bất công thách đố ngẩng đầu
mặc tha hóa giữ lòng cương nghị
khi hiển vinh hành xử ung dung
thất thế không để ai miệt thị
những tấm lòng yêu nước thương dân
dẫu gian nan bền gan vững chí
bắc phong
Nếu cứ cho là đúng, khi gán ghép cụ Nguyễn Mạnh Tường là dân “bị” nhiễm tư tưởng “phản động” vì chịu sự giáo dục của thực dân Pháp đi, và thế hệ của Tưởng Năng Tiến là thế hệ của chiến tranh nên mang mối thù hận chế độ.
Tuy nhiên những thế hệ tuổi trẻ ngay thẳng và giỏi giang như Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Quốc Quân, Lê Trần Luật sinh sau đẻ muộn sau chiến tranh Việt Nam và từ bé đã chịu sự giáo dục của chế độ cộng sản nhưng vẫn chống đối chế độ này và không chịu khuất phục trước bạo quyền, cho dù bị nhiều thiệt thòi cho bản thân, thì thử hỏi chế độ này có xứng đáng để tồn tại không?
Nhân ông TNT nhắc đến ông Nguyễn Mạnh Tường, tôi xin có đôi lời về “người con tài tuấn này” của đất nước. Đó là chữ của ông Hoàng Xuân Hãn, trong “Một vài ký vãng về Hội nghị Đà Lạt”. Ông Hãn thuật lại một chi tiết có liên quan đến vị luật sư này, ngắn nhưng rất súc tích, khiến cho không ai không khỏi đau xót khi thấy “đất nước” đã đối xử với ông nói riêng và “những người con tài tuấn” khác của đất nước như Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang… như thế nào, sau này.
Hôm ấy, 19 tháng 4 (1946) tại Trường Lycée Yersin, hai phái đoàn Pháp-Việt nhóm phiên họp toàn thể nhằm mục đích làm gần lại những cách biệt về vấn đề Nam bộ, phía Pháp D’Argenlieu ngỏ lời trước, sau đó trưởng phái đoàn Việt Nam, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đứng lên đáp lời. Người Pháp vốn vẫn trịch thượng nghĩ rằng phái đoàn Việt Nam sẽ dùng tiếng Pháp trong suốt tiến trình của hội nghị, bất đồ hôm ấy như phái đoàn ta đã dự định từ trước là sẽ trả lời bằng tiếng Việt để tỏ ý chí độc lập của dân tộc, nên sau khi D’Argenlieu dứt lời, nghe ông Tam phát biểu bằng tiếng Việt, tỏ ý khó chịu lắm. Nhưng ngay sau khi ông NTT dứt lời, ông Nguyễn Mạnh Tường đứng dậy ở cuối bàn, không ai thấy ông ghi chú gì cả, nhưng thấy ông tươi cười phiên dịch lời trưởng đoàn ta ra tiếng Pháp, ông dịch rất chải chuốt thanh nhã và hùng hồn, ai nấy quay lại nhìn ông với vẻ thích thú kinh ngạc và thán phục. Không khí phiên họp toàn thể trở nên khác hẳn.
“Một nhân viên phái đoàn Pháp, Max André khen nức nở, quay lại hỏi tôi (HXH) dịch giả là ai. Sau khi tôi cho biết đó là một tiến sĩ văn khoa và luật khoa, ông ta bảo đùa với tôi rằng: Ông ấy Pháp hơn người Pháp, như hầu hết các anh. Chắc điều đình sẽ không khó”.
Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo… ngày nay đã theo về bên kia, chắc chắn là không về với “thế giới người hiền” như trong câu thơ “Max, Lênin thế giới người hiền” của Tố Hữu; sau bao nhiêu đầy đọa trong một chế độ mà quý vị ấy đã cúc cung phục vụ với một tài năng trác tuyệt làm hãnh diện cho con dân dân tộc, các vị ấy đã được đối xử như thế nào nhỉ, có một đất nước nào trên trần gian này đã dành cho những con dân tài tuấn ấy của mình một số phận hãi hùng đến như vậy nhỉ?