Nguyễn Hoàng Văn – “Cặc” như là lãnh tụ (2)
05/07/2009 | 10:05 sáng | 3 Comments
Category: Tổng hợp
Thẻ: Hồ Chí Minh > Michel Foucault
Tiểu sứ chính thống và phi chính thống của “cha già” dễ làm chúng ta nghĩ đến những phân tích của Michel Foucault trong những trang đầu của The History of Sexuality: The Will to Knowledge về thời kỳ “thanh tẩy” mang tên Victoria tại Anh. [13] Đó là những quý ông đạo mạo, trang nghiêm. Đó là những kẻ ngoài mặt thì ra bộ phớt tỉnh Ăng-lê như thể khoái lạc tình dục là thứ không hề tồn tại trên đời nhưng lòng thì điên lên, quằn quại với những ám ảnh dồn nén cực độ. Nếu Freud cho rằng ông ta có thể “bình thường hoá” sự lệch lạc đó bằng cách tạo cơ hội để những đối tượng trên “xả” hết những ẩn ức dồn nén thì Foucault thận trọng nêu lên những dấu hỏi ngờ vực. Khi còn phải diễn tả cái dục vọng bị dồn nén của mình bằng ngôn ngữ giao tiếp bình thường thì làm sao những “con bệnh” kia có thể bộc lộ hết độ dày của sự dồn nén? Cái mà Foucault hướng đến là một “diễn ngôn” tương xứng về tính dục và khoa học về tính dục, theo ông, vẫn đi sau khoa học về sinh vật nói chung rất xa. Thế nhưng yếu tố đáng quan tâm ở đây lại là quyền lực. Khi vị bác sĩ ngồi nghe bệnh nhân “mở tấm lòng” với những ẩn ức của mình, xem ông ta như là vị cứu tinh có thể “bình thường hoá” đời sống tình dục cho là “bất bình thường” của họ, ông ta đã là hiện thân của quyền lực.
Quyền lực ở đây chính là quyền ấn định cái gì là “bình thường” và cái gì là “bất bình thường”.
Mao Trạch Đông có câu nói thường được viện dẫn là “Quyền lực xuất phát ra từ họng súng” thế nhưng, thực chất, nền tảng quyền lực của con người khủng khiếp này chính là một thứ quyền như thế. Quyền ấn định những xác tín mà, bất cứ ai đi chệch, sẽ bị đào thải như những phần tử “phản động hữu khuynh”, quyền áp đặt những ý nghĩ điên rồ và ngu xuẩn thành những ý tưởng tỉnh táo và sáng suốt, như những ý tưởng “toàn dân diệt chim sẻ” hay “nhà nhà nấu thép” chẳng hạn. Như thế thì “phản động hữu khuynh” chỉ là cách diễn tả ý niệm “bất bình thường” của hệ thống toàn trị cực tả ở đó chỉ những xác tín nghiêng hẳn về phía tả mới được xem là “bình thường”. “Bình thường” và “bất bình thường”, do đó, chỉ là những giá trị mang tính lịch sử và nhất thời, những giá trị áp đặt trong nỗ lực thực thi quyền lực, và khi ấn định những giá trị đối lập như thế thì một thiết chế chính trị – xã hội hay hệ thống văn hoá đã vận dụng quyền lực đó trong nỗ lực đào thải những phần tử ngoại đạo với cái nhãn hiệu “bất bình thường”. Có những tiêu chuẩn “bất bình thường” về pháp lý kèm theo bộ máy cảnh sát và hệ thống toà án, nhà tù. Có những tiêu chuẩn “bất bình thường” về bệnh lý kèm theo nhà thương điên. Và cả những tiêu chuẩn ứng xử không kèm theo bộ máy trừng phạt hay cách ly nhưng có thể gây hiệu quả như một biện pháp rút phép thông công. [14]
Như thế thì bi kịch cá nhân của Hồ Chí Minh không chỉ là bi kịch của kẻ bị bất lực trong việc ấn định những giá trị “bình thường”và “bất bình thường” mà, khôi hài hơn, còn là bi kịch của kẻ bị xô đẩy giữa cái “phi thường” và cái “bất bình thường”.
Hệ thống toàn trị đã mở hết công suất để tô vẽ ông ta như một lãnh tụ phi thường nhưng hệ thống đó đã bất lực trong viện ngăn chặn những lời tiếng từ ngay bên trong về “con người bình thường” của ông ta [15]. Bất lực, hệ thống đó, thậm chí, còn vờ vịt đui điếc trước những bằng chứng khó bẻ gãy về cái “con người bình thường” đó. [16] Bi kịch nằm ở chỗ là, dù say mê với vai trò của bậc “phi thường”, Hồ Chí Minh đã không thoát khỏi những dằn vặt của con người bình thường nên phải xoay xở, lấp liếm và che đậy để rồi đi đến những kết cuộc “bất bình thường”. Bi kịch của ông ta, như thế, là bi kịch của một “lãnh tụ tối cao” nhưng không có đủ quyền lực tối cao để áp đặt cái “bất bình thường” của mình như là chuyện “bình thường”. Ông ta cũng không có đủ nghị lực hay bản sắc cá nhân đủ mạnh để cảm thấy an nhiên tự tại, để cảm thấy “bình thường” với những cái “bất bình thường” của mình. [17] Hồ chí Minh, như thế, đã trở thành một thứ con tin trên cái sân khấu phi thường mà những tuồng tích ban đầu đều do một tay ông ta dựng diễn. Bị quá tải trong cái vai do chính mình dựng diễn, ông ta đâm ra rụt rè, thiếu tự tin.
Đó là sự rụt rè của người đàn ông không có “cặc”. Kể ra thì, theo các tài liệu bên ngoài khuôn khổ tuyên truyền, ông ta vẫn có, vẫn dấm dúi sử dụng thế nhưng rõ ràng là không sử dụng một cách bình thường và, do đó, như một người đàn ông, cũng chỉ là một người không có “cặc”. Không có “cặc” trong đời sống riêng, ông ta không có hay không thể vươn tới một “chủ kiến” trong đời sống công, xứng tầm một “cha già dân tộc”. Trong Đại hội Đảng ở Tuyên Quang năm 1951 ông ta, trong vai trò Chủ tịch Đảng, đã tuyên bố với các đại biểu rằng mình có thể sai chứ Joseph Stalin và Mao Trạch Đông không thể nào sai. [17] Cũng trong những ngày kháng chiến đó, khi trả lời câu hỏi “Tại sao không viết sách lý luận” của một phóng viên Pháp, ông Chủ tịch Đảng lại khẳng định rằng mọi sự đã có Mao Chủ tịch: “Tôi có gì để viết nữa, tất cả lý luận cần thiết Mao Chủ tịch đã nghĩ đến và viết ra rồi”. [18] Mà cũng không cần trích dẫn tài liệu gì nữa khi mà, suốt bao nhiêu năm trời, cái phương châm “Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Mao Trạch Đông, tác phong Hồ Chủ tịch” đã được hệ thống toàn trị của ông ta đặt lên bàn thờ như một thứ bài vị tổ tiên. “Chủ nghĩa”: ông ta không có. “Tư tưởng”: ông ta không có. Tất cả những gì ông ta có chỉ là “tác phong”.
Nhưng đó lại là tác phong của người không biết “văng cặc”. Không biết “văng cặc” có nghĩa là co rụt, không đối đầu và, nhìn lại cuộc đời lãnh tụ của ông ta thì, không kể những nước cờ chính trị tiểu cuộc kiểu lùi một bước để tiến tới hai bước, những quyết định đưa ra trong những thời khắc sinh tử nhất của dân tộc đều là những quyết định co rụt, tránh đối đầu. Thách thức đanh thép nhất trong thời khắc trọng đại nhất mà ông ta đưa ra trong vai trò một lãnh tụ thực quyền, có lẽ, là “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” ngày 20.12.1946:
“Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.”
Nghe thì cũng đanh thép thật, thế nhưng đấy chỉ là chọn lựa cuối cùng sau khi những nước cờ nhượng bộ đã bị phá sản mà cũng chỉ có chừng ấy. Năm 1953, khi ông ta co rụt trước các cố vấn Trung Quốc để chấp nhận bản án tử hình của nữ ân nhân cách mạng Cát Hanh Long thì hệ thống đảng trị của ông ta đã đẩy đất nước đi hẳn vào con đường Maoist, không thể thối lui. [19] Đầu thập niên 60, khi ông ta co rụt trước mấy “học trò xuất sắc” của mình trong cuộc giằng co giữa hai chọn lựa “hoà bình – xét lại” và “chiến tranh cách mạng” thì đất nước bị ném vào cuộc chiến bất kể máu xương với những hệ lụy kéo dài tới tận hôm nay. [20] Kể ra thì sau đó ông ta cũng ra mặt thách thức đế quốc, cũng thách thức ông Johnson, cũng đanh thép “sông có thể cạn, núi có thể mòn” thế nhưng những chuyện như thế, như có thể nhận thấy qua những bằng chứng hậu nghiệm, cũng chỉ là cái sự “đanh thép” ngoài bề mặt, trong tư thế một biểu tượng bề mặt.
“Đanh thép ngoài bề mặt” là cách văng tục của kẻ chỉ dám chường ra cái… “đầu buồi”. Nếu những kẻ như thế chỉ trưng ra cái “đầu” ngoài bề mặt và lo xa che chắn thực lực phía sau thì ông ta cũng cũng cẩn thận cùng một kiểu với chính cuộc đời ông ta. Tiểu sử chính thức của Hồ Chí Minh là một tiểu sử chỉ có phần đầu, như là phần nổi của một tảng băng chìm và, cho dù bộ máy tuyên truyền toàn trị đã bỏ ra hàng núi giấy mực để giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của ông ta, hàng núi sách vở về con người và cái sự nghiệp của ông ta vẫn là cái gì đó mơ hồ, thiếu rõ ràng. Như những “missing years”, chẳng hạn. [21] Thời trẻ ông ta làm gì? Ông ta lưu lạc như thế nào trong những năm tháng “bị đánh mất” đó? Rồi sau đó nữa, trong vai trò lãnh tụ, cha già. Ông ta cẩn thận che chắn những người đàn bà giản trải qua cái giường ngủ của mình. Ông ta cẩm thận giấu kín những phụ nữ từng đi qua cuộc đời ông ta. Ông ta thậm chí còn che chắn những quan hệ máu mủ gia đình, khước từ tình cảm của họ sau hàng chục năm lưu lạc. [22] Thậm chí, chỉ một chi tiết đơn giản như sinh nhật thôi, cái ngày 19.5.1890 mà năm nào hệ thống toàn trị cũng rầm rộ tưởng niệm, cũng lại là một chi tiết mơ hồ, thiếu rõ ràng. [23]
Mà ông ta, ngay từ đầu, đã cẩn thận chuẩn bị cho cái sự thiếu rõ ràng như thế trong cuốn tự truyện của mình rồi. Mập mờ với cái tên Trần Dân Tiên trong Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch xuất bản đầu tiên vào năm 1948, ông ta đã rào đón cho một tiểu sử mập mờ: “Tiểu sử? Đấy là một ý kiến hay. Nhưng hiện nay còn nhiều việc cần thiết hơn. Rất nhiều đồng bào đang đói khổ”. Nói là nói thế, sau đó ông ta còn mập mờ tiếp với cái tên T. Lan với cuốn sách xuất bản năm 1950, Vừa đi đường vừa kể chuyện. [25] Thật là khó để tưởng tượng rằng, giữa một giai đoạn kháng chiến dầu sôi lửa bỏng như thế mà một lãnh tụ tối cao như thế, lại có thể mất thì giờ vào việc tự khen mình bằng những câu chuyện lặt vặt như thế, bằng những hai cuốn sách. Khi lãnh tụ tối cao có thể vung thật nhiều thì giờ cho những chuyện không ra gì như thế thì sẽ không có gì khó hiểu khi lãnh tụ đó tỏ ra biếng nhác trước sự thực tâm của những môn đồ như Nguyễn Văn Trấn, Ung Văn Khiêm, Dương Bạch Mai, Kay Xon v.v…, những kẻ thực tâm muốn lãnh tụ của mình phải là lãnh tụ “ra gì”: “Hay ta viết ‘tư tưởng Mao Trạch Đông và tư tưởng Hồ Chí Minh’ có phải hay hơn không! – “Không, tôi không có tư tưởng ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lê nin.” [26]
Không tư tưởng thì thực tiễn. Một lãnh tụ thực tiễn là lãnh tụ biết lùi những bước ngắn để rồi tiến những bước thật xa thế nhưng những bước lùi nói trên của ông ta là những bước lùi sinh tử dẫn đến sự tụt hậu. Đầu hàng trước cuộc đấu tranh giai cấp quái gỡ kiểu Maoist là một sự thụt lùi trên nguyên tắc và là sự thụt lùi dẫn đến tụt hậu. Đầu hàng trước chọn lựa chiến tranh cách mạng kiểu Maoist của chính học trò mình cũng là sự thụt lùi dẫn đến tụt hậu. Tụt hậu và tụt hậu. Hậu quả nhãn tiền của những chọn lựa tụt hậu ấy là cái hèn và cái nhục của hôm nay, cái hèn và cái nhục của một dân tộc không dám văng cặc khi bị láng giềng đè đầu, hiếp đáp.
– Con cặc của tao đây!
– Bộ tôi chỉ có hai hòn dái nước!
Tôi nhớ, ngày còn nhỏ, ở Quảng Nam quê tôi người ta vẫn thường văng tục như thế khi có chuyện bất hoà, cãi cọ. Người lớn văng tục và cả những đứa trẻ như tôi, trong những trò chơi trẻ con, cũng tập tành một giọng với lối xưng hô “tau”/”tui” đặc trưng đất Quảng. [26] Một bên hục hặc, muốn choảng nhau. Một bên vòng vèo “hai hòn dái” theo cách lý sự hay “nói gay” đặc trưng đất Quảng để, vừa làm nhẹ đi cái tình thế đối đầu, vừa khẳng định ta đây không thua, ta đây cũng có “cặc”. Và dân tộc chúng ta, Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau / Song hào kiệt đời nào cũng có, cũng từng là một dân tộc biết cách “văng cặc” với những kẻ đè đầu hiếp đáp tùy lúc mạnh yếu khác nhau như thế. Không ngạo nghễ “văng” bằng chính “con cặc” của mình với binh hùng tướng mạnh thì cũng, trên thế trận ngọai giao, vừa làm dịu đi tình thế đối đầu, vừa chứng tỏ rằng ta đây không chỉ có “hai hòn dái nước”. [27]
Chúng ta, như thế, đã khác xa tổ tiên của chúng ta nhiều lắm và đâu là “nhân” của cái “quả nhãn tiền” này?
Đầu tiên là một “cha già dân tộc” không có cặc. Một “cha già” có thể dành rất nhiều thì giờ cho việc chăm bón cái tiếng làm “cha” trong nghĩa vặt nhưng không hề đắn đo khi “cấp kỳ” phủ nhận tư thế làm “cha” trong nghĩa lớn, khi “cấp kỳ” khẳng định với môn đệ là “Không, tôi không có tư tưởng…”. Bề mặt thì “cha già” đanh thép với thực dân đế quốc nhưng bên trong thì rụt rè, không dám “văng cặc” cả khi láng giềng của mình, vào tận nhà mình, hống hánh quyết định sự sống chết của con cái và phá nát những giềng mối gia phong và đạo nghĩa nhà mình. Bây giờ là những hậu thân của “cha già” và những hậu thân của láng giềng hống hách. Láng giềng thì càng ngày càng hống hách và hậu thân “cha già” thì càng ngày càng rụt rè. Rụt rè, không dám văng cặc đã đành, họ cũng không thể hiện một nỗ lực tối thiểu để chứng tỏ rằng ta đây không chỉ có hai hòn dái nước.
Mà làm sao họ có thể “ta đây” như thế khi mà những hòn ấy của họ, cơ hồ, đã lộn hết lên đầu…
Sydney 29.6.2009
Tài liệu tham khảo và chú thích
[13] Foucault, M. (1998) The History of Sexuality: The Will to Knowledge, London: Penguin Book.
Bản tiếng Anh của Robert Hurley. Đây là tập đầu trong bộ ba The History of Sexuality gồm The Will to Knowledge, The Use of Pleasure và The Care of the Self (Histoire de la sexualité, I: le souci de soi)
[14] Normal vs abnormal. Đây là ý tưởng xuyên suốt trong các công trình của Foucalt khi bàn về quan hệ giữa tri thức và quyền lực. Foucault cho rằng trong từng giai đoạn khác nhau nhân loại có những cách nhìn không thống nhất về các hiên tượng như chứng điên, bệnh hoạn, tội phạm, v.v. Đặc biệt về hiện tượng điên khùng với tư cách là mặt đối lập của lý trí theo nhận thức thông thường ngày nay. Khảo sát lịch sử Foucault nhận thấy thật ra thời Cổ đại người ta cho rằng người điên là những đầu bộ óc thâm thúy, đến thời Trung cổ họ được xem là những thành viên bình thường trong xã hôi, đến thời cận đại lại xem họ là loại người nguy hiểm gần như tội phạm, và hiện tại thì được cho là những con bệnh cần được nhập viện để chữa trị. Theo Foucault thì trên bình diện tâm lý, nếu điên khùng là cái gì phi lý tinh, thì chưa chắc nó đã đối lập với lý tính mà là tấm gương phản chiếu hay sự kéo dài của lý tính, lấy thí dụ những nghệ sĩ ưu tú thường bị xem là những người “không bình thường”. Có thể tham khảo:
Foucault M. (1988) “Technologies of the Self” in L.H. Martin, H. Gutmanm TR.H. Hutton (ed) Technologies of the Self: A Seminar With Michel Foucault. Amherst MA: Universty of Massachuset Press. tr. 146
Foucault M. (1977) Discipline and Punish: The Birth of the Prison, London: Penguine Books. Part Three:. Panopticism, tr. 195 – 228. Tại đây Foucalt phân tích biện pháp mà một thị trấn đối phó vào thế kỷ 17, những biện pháp đã hình thành nên sự phân chia như mad/sane; dangerous/harmless; normal/abnormal (tr. 199).
Và: Foucault M. (2006, 7th edition) Madness and Civilization, London and New York: Routledge Classics. Xem chương 2: The Great Confinment, tr. 35 – 60.
[15] Thí dụ câu chuyện do ông Nguyễn Minh Cần, nguyên là Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội, kể lại. Trong bài “Sự thật lịch sử: Vài mẩu chuyện về cuộc đời Hồ Chí Minh”, có đoạn ông viết về những chuyện bàn tán trong giới cán bộ cấp cao: “Sự sùng bái cá nhân các lãnh tụ đã được gieo cấy sâu đậm vào tiềm thức cán bộ và dân chúng đến nỗi mọi người cho rằng nói đến các lãnh tụ mà thiếu sự ca tụng, sự sùng kính, nhất là nói đến đời riêng của các lãnh tụ là điều “phạm húy” khủng khiếp, mà điều đó thì tối kỵ, trước tiên, vì… rất nguy hiểm cho bản thân. Chỉ có một số cán bộ cao cấp nào đó thỉnh thoảng khi cao hứng mới có thể tự cho phép “đả động” nhẹ nhàng đến các lãnh tụ trong chừng mực… “không bị đứt đầu.” Cố nhiên, những việc như thế không phải là không nguy hiểm. Có một lần, tình cờ tôi được “dự” vào một cuộc “loạn đàm” như vậy. Hôm đó, sau một cuộc họp ở Thành ủy, mọi người ra về, chỉ còn lại ba chúng tôi: Trần Danh Tuyên, bí thư Thành ủy Hà Nội, Trần Vỹ, phó bí thư, và tôi. Ðang nói chuyện linh tinh, bỗng Trần Vỹ hỏi khẽ: “Thế nào, việc Phương Mai đã xong chưa?” Trần Danh Tuyên đáp: “Không xong.” Trần Vỹ nói tiếp: “Cô ấy cũng sạch nước cản đấy chứ, sao lại không xong?” Vui miệng, tôi cũng chêm vào một câu: “Sạch nước cản… thế mà tướng Nguyễn Sơn lại chê là ngực lép kẹp, ăn thua gì!” Cả ba cùng cười, rồi Trần Danh Tuyên hạ giọng nói rất khẽ: “Cô ấy muốn đặt vấn đề đàng hoàng, nhưng mà… Bác và các anh (ý nói Bộ Chính trị) cho rằng Bác không lấy vợ thì lợi cho uy tín chính trị hơn.”
Xin nói rõ chuyện như thế này: hồi đó, có ý kiến là ông Hồ cần có vợ để việc “giải quyết sinh lý” được điều hoà thì tốt cho sức khỏe. Và sau Hiệp định Genève 1954, người ta chọn một người “kháu” nhất trong số nữ cán bộ trẻ, đó là chị Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Thanh Hoá và đưa chị từ Khu Bốn ra Hà Nội để tiến cử lên ông Hồ. Và như ta đã biết qua cuộc “loạn đàm,” chị đặt vấn đề phải có hôn nhân đàng hoàng. Thế là… việc không thành. Rồi chị được bổ nhiệm làm thứ trưởng Bộ Thương binh và ở luôn tại Hà Nội.”.
Xem: http://doanket.orgfree.com/tongquat/hochimin.html
[16] Cho đến nay, vẫn chưa thấy hệ thống tuyên truyền của Đảng bác bỏ một cách khoa học và thuyết phục các khám phá “trái đạo” về Hồ Chí Minh của các sử gia ngoại quốc như Sophie Quinn-Judge (Ho Chi Minh: The Missing Years, 1919-1941 – University of California Press, 2002) hay William J. Duiker (Ho Chi Minh: A Life – Hyperion, 2001) v.v…
[17] Khác với một Joseph Stalin hay một Mao Trạch Đông, dẫu không công khai cũng không cần phải dấm dúi vụng trộm hay loay hoay lấp liếm một cách khổ sở như Hồ Chí Minh.
[18] Bùi Minh Quốc. “Làng văn một thời, và…” talawas [23/6/2004]
http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=2180&rb=0102
[19] Bùi Tín (1991) Hoa xuyên tuyết, Saigon Press, trang 67. Xem thêm chú thích 21.
[20] Trong hồi ký Những kỷ niệm về Bác Hồ của Hoàng Tùng – từng giữ chức Bí thư Ban bí thư và Tổng biên tập báo Nhân dân – có đoạn kể lại thái độ của Hồ Chí Minh với án tử hình bà Cát Hanh Long (Nguyễn Thị Năm): “Họp Bộ Chính trị Bác nói: “Tôi đồng ý người có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào người đàn bà, mà người ấy cũng giúp đỡ cho cách mạng. Người Pháp nói không nên đánh đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành hoa”. Sau cố vấn Trung Quốc La Quý Ba đề nghị mãi, Bác nói: “Thôi tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cứ cho là không phải”. Và họ cứ thế làm”. Trước cách mạng bà Nguyễn Thị Năm đã từng che giấu, nuôi ăn, giúp đỡ Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Lê Thanh Nghị, Lê Giản. Bà đã hoạt động trong Hội Phụ nữ Cứu quốc, con trai bà theo Việt Minh, giữ chức trung đoàn trưởng. Hoàng Tùng, nguyên là Tổng biên tập báo Nhân dân, Bí thư Trung ương Đảng. Một số chương đã được trích đăng trên mạng Intenet. Thí dụ:
http://vantuyen.net/index.php?view=story&subjectid=6185
Có thể tham khảo thêm bài “Xin đừng quên! Nửa thế kỷ trước” của Nguyễn Minh Cần
http://www.doi-thoai.com/nmc_dungquen.html
Trong bài này Nguyễn Minh Cần cho rằng Hoàng Tùng đổ lỗi cho cố vấn Trung Quốc để biện minh cho Hồ Chí Minh. Theo ông thì Hồ Chí Minh phải chịu trách nhiệm cao nhất vì lúc đó còn nắm thực quyền. Thật ra dù nắm thực quyền, Hồ Chí Minh (HCM) đã bị đẩy vào thế phải chấp nhận quyết định của Trung Quốc và Liên Sô. Từ đầu Stalin đã xem HCM như người theo dân tộc chủ nghĩa, cùng các sự việc bị bắt ở Hồng Kông rồi được thả, việc bị Hà Huy Tập tố cáo v.v… Sau đó, vào tháng 11.1945 HCM tuyên bố giải tán ĐCS nên mối nghi ngờ này càng tăng. Cuối 1951 đầu 1952 HCM đi Trung Quốc và Liên Sô cầu viện trong tình thế bị cả hai nước cộng sản đàn anh nghi ngờ. theo Võ Nguyên Giáp thì chuyến đi này của HCM là một “chuyến đi gian khổ”. Xem: Võ Nguyên Giáp (2002), Ðường tới Ðiện Biên Phủ, NXB Quân đội nhân dân (chương đầu tiên). Trong cuộc gặp gỡ tại Moscow, Stalin giao cho Trung Quốc nhiệm vụ giúp đỡ VN. Muà hè năm 1952 HCM trở về và sau đó là cá cuộc “rèn cán chỉnh quân” ngay trong năm 1952 và cải cách ruộng đất 1953, mở đầu bằng khí thế của cuộc hành quyết bà Nguyễn Thị Năm. Sự việc trên có thể hiểu theo nguyên tắc thu nạp thành viên của các băng đảng mafia: đơn xin kết nạp phải là một mạng người hay một hành động phạm pháp nào đó. Bằng cách này thì tân thành viên phải gắn bó và trung thành với tổ chức, không thể nào rút lui. Trước đó HCM bị Liên Sô và Trung Quốc nghi ngờ. Ngay sau khi trở về thì HCM lập tức tiến hành các cuộc thanh trừng và đấu tranh giai cấp theo đường lối cực tả. Chỉ bằng cách đó HCM và đảng của ông ta mới được cộng sản quốc tể xem là một thành viên và do đó mới được trợ giúp đúng mức.
[21] Nguyễn Văn Trấn (1995), sđd. tr. 322- 329. Tháng 11.1960 Hồ Chí Minh dự Hội nghị Cộng sản Quốc tế tại Moscow và tại đây tuyên bố ủng hộ lập trường chung sống hoà bình của Liên Sô. Tuy nhiên trong hội nghị thứ 9 của Trung ương Đảng khoá IV thì trước sức ép của phe thân Trung Quốc như Lê Duẩn và Lê Đức Thọ ông đã bỏ rơi các ủy viên trung ương ủng hộ Liên Sô như Ung Văn Khiêm. Tác giả thuật lại lời kể của Bùi Công Trừng (nguyên là Phó chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước): “Mầy coi, coi nó tội nghiệp không. Đồng chí Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu của chúng ta bận bộ đồ lụa gụ, chủ trì hội nghị mà day mặt ra sân. Có lỗ tai tự nhiên nó phải hứng những lời công kích mạt sát Liên Xô. Khi chướng tai quá quay vô, đưa tay để nói, thì thằng Thọ lễ phép Bắc hà, Bác hãy để cho anh em người ta nói đã mà. Tao đếm lão Hồ, đưa tay mấy lần, lần nào thằng Thọ cũng kịp ngăn. Cuối cùng ông cũng cho hội nghị nghe, ông nói ca dao bằng tiếng khóc: Khi thương trái ấu cũng tròn / Khi ghét bồ hòn cũng méo. Và ông nói xụi lơ: thấy lợi người ta cho tên lửa vô; thấy bất lợi người ta rút ra. Có chi mà.”
Kết quả của hội nghị này là “Nghị quyết 9”, một nghị quyết bất thành văn, chỉ phổ biến bằng miệng, theo đó Hà Nội chủ trương “thống nhất về cơ bản” với cả đường lối đối ngoại lẫn đối nội của Bắc Kinh: “Lê Đức Thọ, trưởng ban tổ chức trung ương tuyên bố với cán bộ rõ ràng: “Chống chủ nghĩa xét lại hiện đại, về mặt lý luận ta để cho Đảng Cộng sản Trung Quốc làm, còn về mặt tổ chức thì tự ta làm lấy’.” tr. 334.
[22] Tên một cuốn sách của sử gia Sophie Quinn-Judge, Ho Chi Minh: The Missing Years. Xem chú thích 16.
[23] Đã có nhiều tài liệu cho biết chuyện Hồ Chí Minh cố tình xa lánh anh em của mình: sau tháng Tám năm 1945 chị ông là Nguyễn Thị Thanh nghe tin ông chủ tịch nước chính là em trai mình nên lặn lội ra Hà Nội tìm thăm, tuy nhiên HCM không dám công khai gặp chị, và không muốn chị ở lại Hà Nội cùng mình. Mới nhất, bà Đặng Thị Hạnh (con gái Đặng Thai Mai) kể lại cảnh bà Thanh hờn dỗi khi em trai bà không muốn bà ở lại săn sóc mình, thậm chí mang món quà định mang tặng em tặng lại gia đình Đặng Thai Mai: “Một trong những người khách đặc biệt nhất của gia đình tôi thời ấy, chắc chắn là bà Thanh, từ Nghệ An ra, một người đàn bà đã già nhưng sao đôi mắt vẫn đen và đẹp đến thế. Bà để lại cho chúng tôi một món quà quý đáng lẽ dành cho người em, một lọ mắm tôm chua như sau này tôi chưa bao giờ trông thấy ngon như vậy: những con tôm đỏ hồng, cong veo, trong suốt, in rõ những ngấn đen trên lưng, giữa những miếng ớt đỏ rực và một thứ nước quánh đỏ hồng, thơm phức mùi thính. Bà Thanh trở về quê trong tâm trạng hờn dỗi, bà muốn được ở lại chăm sóc người em của mình nhưng biết làm sao được, hình như người đi làm cách mạng càng ít vướng vào tình cảm riêng tư càng tốt. Tôi không biết rõ lắm.” Xem: Đặng Thị Hạnh (2008), Cô bé nhìn mưa, Hà Nội : Nxb Phụ Nữ, tr. 143.
[24] Hồ Chí Minh có nhiều ngày sinh khác nhau:
– Hồ sơ xin học Trường Thuộc địa Pháp năm 1911: sinh năm 1892 (không ghi ngày)
– Hồ sơ gia nhập Hội Tam điểm (Free Mason, Franc Maçonnerie): 15.2.1895
– Hồ sơ khai ở Sở Cảnh sát Paris năm 1920: 15.1.1894
– Hồ sơ Toà đại sứ Liên Sô ở Berlin 1923: 15.2.1895
Về ngày “sinh nhật” 19.5.1890 thì có nhiều giả thuyết: Đây là ngày mà Cao ủy Pháp ở Đông Dương, D’ Argenlieu đến Hà Nội ngay sau Cách mạng tháng 8. Đang chủ trương hoà hoãn nên HCM phải đón tiếp trọng thể bằng cách làm treo cờ, kết hoa, và để giữ thể diện nên phải giải thích là “sinh nhật Bác.” Có một số sử gia trong nước thì biện minh rằng ngày 19.5 là ngày thành lập Mặt trận Việt Minh: 19/5/1941.
[25] Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch của Hồ Chí Minh (ký tên Trần Dân Tiên) xuất bản lần đầu tiên tại Trung Quốc năm 1948 và tại Paris năm 1949. Vừa đi đường vừa kể chuyện của Hồ Chí Minh xuất bản lần đầu năm 1950, Hồ Chí Minh lấy bút danh là T. Lan, đóng vai một chiến sĩ trong đoàn tùy tùng của HCM trong dịp lên đường ra Chiến dịch Biên giới năm 1950, “vừa đi hành quân, vừa vừa hỏi chuyện Hồ Chủ tịch và ghi chép lại”.
[26] Nguyễn Văn Trấn (1995), sđd, tr. 151. Tác giả kể lại việc mình tham dự Đại hội Đảng lần thứ hai, năm 1951 tại Chiêm Hoá, Tuyên Quang. Tổ thảo luận của Nguyễn Văn Trấn được xem là “Tổ Nam bộ” hay “Tổ quốc tế” với các nhân vật như Hồ Viết Thắng (sau phụ trách cải cách ruộng đất sau 1954), Kay Xon (sau là Tổng bí thư ĐCS Lào), Ung Văn Khiêm (sau là Bộ trưởng Ngọai giao nhưng bị án xét lại), Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo, Bùi Lâm, Bùi Công Trừng. Trần Công Tường, Trần Duy Hưng (sau là chủ tịch Hà Nội) v.v… Những đảng viên này muốn Hồ Chí Minh phải có “tư tưởng” riêng của mình, không đơn giản sao y “tư tưởng” của Mao Trạch Đông: “Anh em trong tổ quốc tế này đả tơi bời cái tư tưởng Mao Trạch Đông. Ôi cái miệng của Bùi Công Trừng. Anh đả luôn cái bọn đi học lớp Hoa Nam đầu tiên ở Trung Quốc về, nói chuyện thì khen Mao chủ xị với văn phong rặt Trung Quốc.”
Và: “Hôm đó, là tổ trưởng, tôi làm nhiệm vụ phản ảnh trực tiếp. Một mình Bác Hồ, một mình tôi. Tôi báo cáo tình hình, anh em trong tổ nói bộ hết duyên rồi sao mà lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm tư tưởng chỉ đạo Đảng ta. Nhưng anh em giao là nói trong tổ cho nhau biết chớ không phát biểu ở hội trường. Và đã lỡ miệng nói một điều quan trọng như vậy, trong quan hệ quốc tế này thì ngậm miệng đừng nói đi nói lại là hơn. Hồ Chí Minh nhắm hí mắt như Staline khi gặp vấn đề khó nghĩ, và tìm chữ.
Tôi thưa tiếp:
– Có đồng chí còn nói: Hay ta viết “tư tưởng Mao Trạch Đông và tư tưởng Hồ Chí Minh” có phải hay hơn không!
Câu nói của tôi làm cho mắt ông già rạng lên theo lời đáp cấp kỳ:
– Không, tôi không có tư tưởng nào ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lê nin.”
[27] “Tau”, “tui” có nghĩa là “tao” hay “tôi”: “Con cặc của tau đây! – Anh làm bộ như tui chỉ có hai hòn dái nước!”
[28] Thí dụ như đời Lý. Thời này tổ tiên chúng ta không chỉ bảo vệ lãnh thổ bằng biện pháp quân sự qua chiến công của Lý Thường Kiệt mà còn bằng các biện pháp ngoại giao vừa mềm dẻo vừa cương quyết. Xem Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn, xuất bản năm 1949, NXB Quân đội Nhân dân in lại năm 2003: Lý Thường Kiệt – Lịch sử Ngoại giao & Tông giáo đời Lý.
© 2009 Nguyễn Hoàng Văn
© 2009 talawas blog
Bình luận
3 Comments (bài “Nguyễn Hoàng Văn – “Cặc” như là lãnh tụ (2)”)
Một người cần một đám nhất cử nhất động tung hô mình. Hai ba kẻ gấu nhất trong đám dựng lên ông thánh đó sẽ đòi giá đời sống bằng nắm quyền cách ly ông thánh này khỏi thần dân, thế tục.
Đến tích nào đó của màn tuồng diễn, thánh sống phải bất lực khóc hận bởi những tên cai quản này và trong những phút bi đát nhất đã không che giấu cái thân phận gia súc của mình.
Ở các nền độc tài thảm khốc, chỉ một bạo chúa nhất đán tung hoành ngôi lãnh tụ muôn đời. Nước Nam mình, vì mọi công cuộc đều không quyết liệt đến nơi đến chốn, nên mới phải chịu có người và có nghề chăn lãnh tụ.
Ông Nguyễn Hoàng Văn luôn viết những bài hay và sâu sắc. Tuy vậy tôi vẫn lluôn nghĩ rằng các tác giả nên viết “thanh” hơn một chút. Nhớ hồi trước trên talawas cũ có bài của Kiệt Tấn “Sục c… trước bàn thờ”, bài viết hay và tích cực nhưng tôi vẫn cứ thấy ngường ngượng vì cái ngôn ngữ sống sượng đó. Dĩ nhiên tôi biết viết thế thì nhấn mạnh hơn (emphasze), nhưng sao không viết tắt cho bớt đi cái dung tục, cũng như khi xem phim sex, nặng quá và rõ quá thì trở nên phản cảm và nhàm chán. Đọc bài của quí vị vừa thấy thú vị nhưng vừa thấy ơn ớn sao đó, không viết rõ những từ đó bài viết vẫn hay, sao phải vậy.Tôi vẫn luôn nghĩ (mong là không đúng) mấy ông này chắc là “bị” ẩn ức về tình dục. Hay là tôi đã quá già dù chỉ ở tuổi 50?
Từ “cặc” đến “buồi” đã rất buồn rồi.
Từ “buồi” đến “dương vật” còn rất buồn hơn nữa.
Tự nhiên lại nhớ đến mấy chữ “dương vật buồn thiu” rất đắt của nhà văn Phạm Thị Hoài trong một bài viết nào đó về trí thức.
Tự nhiên lại nhớ hình như giới trí thức nước nhà vẫn thường tán dương bác Hồ là một trí thức lớn.
Tự nhiên lại nhớ bạn tôi, nhà báo vxl, một hôm nào đó chợt phát hiện trên tạp chí Hợp Lưu (thời chủ biên Khánh Trường) có người nào đó đã đánh máy nhầm từ “buồi” thành “buồn”.
Thì ra, hai “khái niệm” này cũng gần nhau thật.