talawas blog

Chuyên mục:

Lại chuyện “ông Cù Huy Hà Vũ kiện có đúng không?”

29/06/2009 | 10:27 sáng | 42 Comments

Tác giả: Nguyễn Mai Sơn

Category: Bauxite Tây Nguyên, Pháp luật
Thẻ:

Đơn khởi kiện của ông tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ được ví von như một “Xô-viết Nghệ Tĩnh” của thời nay, và tạo nên “một kỷ lục khác: Lần đầu tiên có một công dân Việt Nam đã viết đơn khởi kiện một nhân vật lãnh đạo cấp cao nhất của chính phủ: Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam, một việc chưa bao giờ có tiền lệ!” (Bauxite Việt Nam). Tôi không bàn luận nhiều đến những “kết luận hùng hồn” này, bởi cho đến bây giờ trên nhiều diễn đàn vẫn đang tranh luận rằng việc khởi kiện đã đúng luật hay chưa đúng luật.

Trong Đơn khởi kiện Thủ tướng, ông Cù Huy Hà Vũ nêu lý do khởi kiện rằng: “Do đã ban hành trái pháp luật Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 1/11/2007 phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025.”

Trên website của Bộ Công Thương, phần Hệ thống Chiến lược, Kế hoạch, Quy hoạch (http://portal.mot.gov.vn/chienluoc/index.asp?tieuchi=2&ma=2) có đăng tải nhiều Quyết định của Thủ tướng cũng như của Bộ trưởng các bộ, trong đó có Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 1/11/2007 phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác , chế biến, sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025.

Quyết định trên gồm có 4 điều, 7 Phụ lục với những khoản mục chính như: 1. Quan điểm, 2. Định hướng phát triển, 3. Mục tiêu phát triển, 4. Phân vùng quy hoạch, 5.  Quy hoạch thăm dò và khai thác bauxite, 6. Quy hoạch vận tải ngoài, 7.  Quy hoạch cảng biển, 8.  Quy hoạch xây dựng nhà máy điện phân nhôm, 9. Quy hoạch xây dựng các nhà máy sản xuất nguyên, vật liệu, 10.  Nhu cầu vốn đầu tư. Trong Tổ chức thực hiện có 5 bộ (Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Tài chính) và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện. Điều 4 ghi rõ: “Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này“.

Quyết định 167 là Quyết định quy hoạch khai thác bauxite với các giai đoạn cụ thể, và giai đoạn xét đến, có nhiều dự án thuộc các lĩnh vực khác nhau, đối tượng thi hành quyết định rộng. Nhưng không hiểu sao Bauxite Việt Nam lại giật tít “Đơn của Luật sư Cù Huy Hà Vũ khiếu kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về việc đã phê chuẩn QĐ 167/2007/QĐ-TTg để triển khai quy hoạch phân vùng và khai thác bauxite Tây Nguyên, mà theo LS Vũ là trái với các pháp luật hiện hành của Việt Nam“. Việc giới hạn Quyết định Quy hoạch trên vào các dự án bauxite tại Tây Nguyên, theo tôi là không sòng phẳng, vì vốn dĩ “Tây Nguyên” kể từ khi có thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và những vấn đề liên quan đến chính sách của Trung Quốc đã trở nên quá sức nhạy cảm.

Có thể nói rằng đã có sự nhầm lẫn nào đó trong cách hiểu về Quyết định này. Tôi cho rằng chúng ta cần lưu ý đến khái niệm “Quy hoạch phân vùng thăm dò”, “khai thác”, “chế biến”, “sử dụng quặng bauxite”, thậm chí cần lưu ý đến những giai đoạn cụ thể và giai đoạn xét đến trong Quyết định này bằng vào việc tham khảo các công trình, dự án trong các phần Phụ lục của Quyết định. Nên hiểu Quyết định này trong Hệ thống Chiến lược, Kế hoạch và Quy hoạch, ở đó có rất nhiều dự án đầu tư đã thực hiện, đang thực hiện, chưa thực hiện và sẽ thực hiện. Vì vậy, Chính phủ đã chọn dự án Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông) để triển khai thí điểm.

Trong mục 5,  Quy hoạch thăm dò và khai thác bauxite ghi: “b) Quy hoạch thăm dò giai đoạn 2007 – 2015: Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam chủ trì thăm dò toàn bộ các mỏ bauxit tại khu vực Tây Nguyên (trừ các mỏ bauxit đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép đơn vị khác thực hiện) để đánh giá trữ lượng làm cơ sơ cho việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư bauxit – alumin – nhôm”. Cụ thể Quyết định này ghi: “Các dự án tại Đắk Nông do Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam chủ trì đầu tư ” ; “Nhà máy alumin Tân Rai – Bảo Lộc: công suất nhà máy alumin dự kiến 0,6 triệu tấn/năm đến năm 2010; dự kiến tăng lên 1,2 triệu tấn/năm vào giai đoạn sau năm 2010. Nguồn quặng bauxit từ mỏ Tây Tân Rai và Tân Rai (Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam làm chủ đầu tư)”.

Về tổng thể, các dự án thăm dò bauxite trong giai đoạn 2007 – 2015 thể hiện ở Phụ lục II. Phụ lục này có cả thảy 7 dự án, trong đó có 2 dự án liên quan đến Tây Nguyên: 1. Thăm dò các mỏ bauxit thuộc tỉnh Đắk Nông (trừ các khu vực đã thăm dò tỷ mỷ) với mục tiêu 2000 – 2100 triệu tấn quặng tinh; 2. Thăm dò các mỏ bauxit thuộc tỉnh Lâm Đồng (trừ các khu vực đã thăm dò tỷ mỷ) với mục tiêu 250 – 300 triệu tấn quặng tinh.

Ngày 24/4/2009, ông Trương Tấn Sang, Thường trực Ban Bí thư đã thay mặt Bộ Chính trị ký Thông báo số 245- TB/TW về kết luận của Bộ Chính trị liên quan đến quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bauxite giai đoạn 2007 – 2015, có xét đến năm 2025. Kết luận có đoạn: “Tiếp tục thực hiện chủ trương triển khai hai dự án ở Tân Rai và Nhân Cơ do Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam làm chủ đầu tư, chưa chủ trương bán cổ phần cho tổ chức và cá nhân nước ngoài; sử dụng lao động trong nước, chỉ sử dụng lao động kỹ thuật nước ngoài khi cần thiết, lựa chọn công nghệ hiện đại; thực hiện nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ môi trường. Khẩn trương lập báo cáo môi trường chiến lược và báo cáo đánh giá tác động môi trường của từng dự án để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp…“. Để triển khai thực hiện kết luận của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản chỉ đạo Số: 650/TTg-KTN V/v phát triển ngành công nghiệp khai thác bauxite, sản xuất alumina.

Hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ được Chính phủ cho phép triển khai thực hiện có cần phải trình Quốc hội thông qua hay không?

“Đại biểu Nguyễn Đăng Trừng (TP.HCM) chất vấn, quy mô tổng mức đầu tư của dự án từ 20.000 tỷ đồng trở lên phải trình Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư. Nhưng dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên có quy mô tổng mức đầu tư cao hơn 20.000 tỷ đồng, tại sao Bộ Công Thương không đề nghị Chính phủ trình Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư?

Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng giải đáp, trong quy hoạch phát triển bauxite được Chính phủ phê duyệt nêu rõ nhiều dự án, từ khai thác, chế biến bauxite, sản xuất alumina thành nhôm nguyên liệu, dự án đường sắt từ Tây Nguyên ra biển, dự án cảng Kê Gà – Bình Thuận. Đây là những dự án độc lập, không phụ thuộc lẫn nhau. Dự án bauxite – alumina ở Tân Rai, Đắk Nông có thể vận hành độc lập, dự án này không phụ thuộc vào dự án kia.

Do đó, có dự án có tổng mức đầu tư vượt 20.000 tỷ đồng, nhưng cũng có những dự án không đến con số đó.

Dự án bauxite Tân Rai và Nhân Cơ có vốn đầu tư khoảng 12.000 tỷ đồng, do đó không thuộc công trình quan trọng phải trình Quốc hội.

Còn các dự án sau như Đắk Nông 2, Đắk Nông 3, Đắk Nông 4 sau này, khi công suất chế biến từ 1,5 – 2 triệu tấn alumina/năm thì lúc đó vốn đầu tư có khả năng đạt hoặc vượt con số 20.000 tỷ đồng và chắc chắn sẽ phải trình Quốc hội.

Chưa hài lòng về vấn đề này, đại biểu Nguyễn Đăng Trừng tiếp tục chất vấn, khai thác bauxite, sản xuất alumine bao gồm 3 giai đoạn với 12 dự án và tất cả dự án này gắn bó với nhau. Nó chỉ độc lập khi Bộ Công Thương tách nhỏ để mức vốn đầu tư dưới 20.000 tỷ đồng“. (Dẫn theo http://www.lamdong.gov.vn)

Đọc đoạn chất vấn và giải trình trên ta thấy ông Bộ trưởng thì “chia ra” (theo Nguyễn Đăng Trừng), trong khi ông Đại biểu Quốc hội thì gộp vào. Ông Nguyễn Đăng Trừng có gộp cũng gộp không hết được vì ông đã nhầm lẫn ngay từ đầu khi không khu biệt được dự án đang được triển khai mang tên Tân Rai và Nhân Cơ chứ không phải mang tên Tây Nguyên. Trong nhu cầu vốn đầu tư (tính theo tỷ đồng Việt Nam), Phụ lục VI mục B (Các dự án khai thác, chế biến) ghi rất rõ: Tổ hợp bauxit- nhôm Lâm Đồng (CS GĐ1: 0,6 triệu tấn alumin/năm; CS GĐ2: 1,2 – 1,8 triệu tấn alumin/năm) – 6.220 tỷ; Dự án alumin Đắk Nông 1 (CS GĐ1: 0,3 triệu tấn alumin/năm; CS GĐ2: 0,6 – 1,2 triệu tấn alumin/năm) – 3.680 tỷ. Dự án alumin ĐắkNông 1 chính là dự án Nhân Cơ. Trong kết luận của Bộ Chính trị và văn bản chỉ đạo của Thủ tướng đều thống nhất rà soát các dự án tại Nhân Cơ (Đắk Nông) để kịp thời điều chỉnh.

Tên gọi của dự án đang được triển khai đã khu biệt rõ là Tân Rai và Nhân Cơ, nếu chúng ta gộp hết các dự án khai thác bauxite vào thì không biết sẽ phải gộp thế nào cho thỏa, vì trong Quyết  định 167 của Thủ tướng nêu rõ : “Nhu cầu vốn đầu tư cho công tác thăm dò, khai thác và chế biến bauxit giai đoạn 2007 – 2025 ước tính khoảng 189.110 – 249.420 tỷ VND (tương đương khoảng 11,8 – 15,6 tỷ USD), bao gồm các dự án khai thác, chế biến bauxit (sản xuất alumin và điện phân nhôm) và hạ tầng cơ sở (đường sắt và cảng) thể hiện trong Phụ lục VI”.

Trong Báo cáo Quốc hội về việc triển khai các dự án bauxite ghi:

1. Dự án Tổ hợp bô-xít – nhôm Tân Rai ( Lâm Đồng)

“Dự án đã được Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư tại công văn số 303/CP-CN ngày 29 tháng 3 năm 2000; Báo cáo nghiên cứu khả thi được Thủ tướng Chính phủ thông qua năm 2005 (công văn số 808/TTg-CN ngày 17 tháng 6 năm 2005). Chủ đầu tư (Tập đoàn TKV) đã ký hợp đồng thực hiện gói thầu thiết kế-mua sắm-xây dựng và đào tạo (EPC) nhà máy alumin với nhà thầu CHALIECO (Trung Quốc) thông qua đấu thầu quốc tế công khai, gói thầu đã được khởi công ngày 26 tháng 7 năm 2008.”

2. Dự án khai thác bô-xít và sản xuất alumin Nhân Cơ (Đăk Nông 1)

 “Chủ trương lập dự án bô-xít – alumin Nhân cơ đã được thông qua tại Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch bô-xít. Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý chủ trương nâng công suất Nhà máy alumin Nhân Cơ lên 600.000 tấn/năm (công văn số 2728/VPCP-HTQT ngày 02 tháng 5 năm 2008). Hiện nay, chủ đầu tư đang hoàn chỉnh và trình duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường và rà soát lại hiệu quả kinh tế của Dự án để trình Bộ Công Thương kiểm tra, đánh giá”.

Nếu xét về dự án đầu tư thì cũng có thể không cần phải gộp hai dự án này vào làm một cho dù nó đều nằm ở Tây Nguyên, vì lẽ dự án đầu tư ở Tân Rai được chấp thuận vào năm 2000 và báo cáo khả thi được Thủ tướng thông qua năm 2005. Phải chăng do dự án có cùng địa bàn và chủ đầu tư nên gộp vào để thuận lợi cho việc triển khai?

Còn Qưyết định phê duyệt quy hoạch chung cho khai thác bauxite trên cả nước không phải trình quốc hội thông qua cũng được nói rõ trong Báo cáo Quốc hội: “Quy hoạch bô-xít cũng như nhiều quy hoạch khác (quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội các vùng, địa phương, quy hoạch các ngành kinh tế – kỹ thuật như ngành Điện, Dầu khí, Khoáng sản, Thép v.v.) không phải là dự án đầu tư, vì vậy không chịu sự điều chỉnh của Nghị quyết 66“.

Giải thích này phù hợp với các quyết định khác của Thủ tướng, chẳng hạn trong Quyết định 145/2007/QĐ-TTg ngày 4/9/2007 Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành Thép Việt Nam giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025, trong đó có ghi “Nhu cầu vốn đầu tư phát triển của ngành Thép Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2025 ước vào khoảng 10 – 12 tỷ USD, trong đó giai đoạn 2007 – 2015 khoảng 8 tỷ USD”. Cụ thể trong phần Phụ lục, chỉ có dự án trọng điểm Liên hợp thép Hà Tĩnh tại Vũng Ang, vốn đầu tư là 3.000 triệu USD là phải trình Quốc hội thông qua. Nhiều dự án đã triển khai trên cả nước từ năm 2006, 2007 nhưng chưa thấy ai kiện nó trái luật cả.

Tôi xin trở lại việc ông Cù Huy Hà Vũ kiện Thủ tướng Chính phủ với lý do đã ban hành trái pháp luật Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 1/11/2007. Và tôi cũng chỉ xin phân tích trong phạm vi Luật Bảo vệ Môi trường, xem việc khởi kiện của ông Cù Huy Hà Vũ có thuyết phục hay không.

Ông Cù Huy Hà Vũ cho rằng Thủ tướng ra Quyết định 167 trái với Luật Bảo vệ Môi trường và ông trích dẫn Điều 14, Mục 1 (Đánh giá môi trường chiến lược) Chương III, Luật Bảo vệ Môi trường quy định đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược gồm:

1. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội cấp quốc gia.

2. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực trên quy mô cả nước.

3. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), vùng…

Đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược là hoàn toàn phù hợp dành cho Quyết định 167 của Thủ tướng. Và Thủ tướng cũng đã chỉ đạo các bộ ngành liên quan thực hiện điều này. Tuy nhiên, tôi cho rằng lập báo cáo [thuộc quá trình thực hiện] khác với báo cáo [ấn định cụ thể thời điểm, và phải báo cáo với ai (Thủ tướng, Bộ trưởng hay Quốc hội)?].

Điều 16 (Nội dung báo cáo đánh giá môi trường chiến lược) ghi: “1. Khái quát về mục tiêu, quy mô, đặc điểm của dự án có liên quan đến môi trường; 2. Mô tả tổng quát các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, môi trường có liên quan đến dự án; 3. Dự báo tác động xấu đối với môi trường có thể xảy ra khi thực hiện dự án; 4. Chỉ dẫn nguồn cung cấp số liệu, dữ liệu và phương pháp đánh giá; 5. Đề ra phương hướng, giải pháp tổng thể giải quyết các vấn đề về môi trường trong quá trình thực hiện dự án“. Có thể thấy điều luật này quá khái quát và sơ lược, nếu đem so sánh với báo cáo đánh giá tác động môi trường.

– Điều 15, Mục 1 (Đánh giá môi trường chiến lược) Chương III Luật Bảo vệ Môi trường quy định: “1. Cơ quan được giao nhiệm vụ lập dự án quy định tại Điều 14 của Luật này có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; 2. Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược là một nội dung của dự án và phải được lập đồng thời với quá trình lập dự án”.

Báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội khẳng định rằng Quy hoạch bô-xít cũng như nhiều quy hoạch khác, không phải là dự án đầu tư. Nên có thể nói cơ quan được giao nhiệm vụ chủ yếu ở đây vẫn là Bộ Tài nguyên và Môi trường. Vì trong Điều 121, Khỏan 2 (Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường), và Điểm g có nói rõ nhiệm vụ: “Quản lý thống nhất hoạt động thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, báo cáo đánh giá tác động môi trường, đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước; tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc thẩm quyền; hướng dẫn việc đăng ký cơ sở, sản phẩm thân thiện với môi trường và cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường…“.

Ngay trong Quyết định 167 cũng đã nêu: “Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì thực hiện việc quy hoạch công tác điều tra cơ bản, quản lý và lưu trữ số liệu địa chất nguồn khoáng sản bauxit của đất nước. Củng cố hoạt động của hệ thống thanh tra mỏ, nâng cao năng lực quản lý và điều hành, tính pháp lý của hệ thống thanh tra từ Trung ương đến địa phương, cấp giấy phép…“.

Và cũng trong Điều 17 (Thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược), Khoản 7 (Trách nhiệm tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược) quy định như sau:

a) Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Có thể thấy, với điều khoản này, việc lập báo cáo, báo cáo, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược đối với các dự án chỉ được thành lập sau khi Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch. Hơn nữa, Thủ tướng cũng không thể nào có ngay toàn bộ đánh giá tác động môi trường chiến lược đối với các dự án Đắk Nông 2, Đắk Nông 3 (không chỉ ở giai đoạn 2007-2015 với vốn đầu tư với 16.800 – 22.400 tỷ đồng cho mỗi dự án, mà còn ở giai đoạn 2016-2025 với vốn đầu tư cho mỗi dự án là 14.280 –  19.040 tỷ đồng) và các dự án khác.

Tôi cho rằng việc Điều 15 viết: “Cơ quan được giao nhiệm vụ lập dự án quy định tại Điều 14 của Luật này có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược” đã mâu thuẫn với điều 121 của chính luật này, và hàng chữ “…quy định tại điều 14” đã làm cho người ta liên hệ đến đối tượng là “Thủ tướng Chính phủ” (tức Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), vùng…).

– Điều 17, Khoản 6, Mục 1 (Đánh giá môi trường chiến lược) Chương III Luật Bảo vệ Môi trường quy định: “Kết quả thẩm định báo cáo môi trường chiến lược là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án”.

Với những mâu thuẫn, chồng chéo và nhầm lẫn về “đối tượng” kể trên, tôi cho rằng điều khoản này không thể không có cách hiểu khác về mặt từ ngữ, bởi có thể hiểu kết quả thẩm định của bộ và các cơ quan ngang bộ (chỉ) là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án (bởi còn nhiều căn cứ khác, và vốn dĩ không có điều khoản nào nói rằng không có căn cứ này thì nhất định không được phê duyệt dự án). Tuy nhiên, tôi vẫn phải nhắc lại khẳng định của Chính phủ rằng Quyết định Quy hoạch khai thác bauxite của Chính phủ cũng như bao quyết định quy hoạch khác không phải là dự án đầu tư. Và chính cụm từ “phê duyệt dự án” phần nào đã bị hiểu lấn sang cụm từ “phê duyệt quy hoạch“.

Trong khi Điều 22, Khoản 4, Mục 2 (Đánh giá tác động môi trường): “Các dự án quy định tại Điều 18 của Luật này chỉ được phê duyệt, cấp phép đầu tư, xây dựng, khai thác sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt”.

Nếu như đọc kỹ luật này ở Mục 1 (Đánh giá tác động môi trường chiến lược) và Mục 2 (Đánh giá tác động môi trường) người đọc sẽ thấy Mục 1 khái quát nhiều hơn (tầm vĩ mô), trong khi Mục 2 lại cụ thể và chi tiết hơn (tầm vi mô).

Đến đây có thể nói, Quyết định phê duyệt Quy hoạch (tổng thể) của Thủ tướng đã bị hiểu nhầm sang các dự án đầu tư cụ thể trong chính quy hoạch đó.

Phải chăng do những nhầm lẫn này nên ông Cù Huy Hà Vũ đã viết: “Để ban hành quyết định, Thủ tướng Chính phủ nhất thiết phải căn cứ Luật khoáng sản, Luật Bảo vệ Môi trường là hai luật điều chỉnh trực tiếp việc thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản, cũng như phải căn cứ Luật Quốc phòng, Luật Di sản Văn hóa là những luật điều chỉnh gián tiếp Quy hoạch như đã trình bày“.

Xin lưu ý, các quyết định của Thủ tướng Chính phủ đều được phê duyệt căn cứ trên Luật Tổ chức Chính phủ và xét theo đề nghị cụ thể của các bộ. Cho nên việc ra Quyết định của Thủ tướng cần phải được căn cứ trên luật này vì nó ghi rõ nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ cũng như của Thủ tướng Chính phủ.

Điều 1 Luật Tổ chức Chính phủ ghi: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Điều 20, Khoản 1, Điểm b (Chương III, Nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ) có ghi : “Chỉ đạo việc xây dựng các dự án luật trình Quốc hội, các dự án pháp lệnh trình Ủy ban thường vụ Quốc hội; các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ“. Điều 21 “Thủ tướng Chính phủ ký các nghị quyết, nghị định của Chính phủ, ra quyết định, chỉ thị và hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó đối với tất cả các ngành, các địa phương và cơ sở. Các nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực thi hành trong phạm vi cả nước“.

Tôi xin cảm ơn ông Phạm Quang Tuấn đã viết: “Ông Sơn dường như không phân biệt được ‘Đánh giá tác động môi trường’ và ‘Đánh giá môi trường chiến lược’, nên những cái ông viết đi lạc đề ráo trọi”. Vì những lời lẽ đó đã động viên tôi viết tiếp bài này. Và tôi cũng xin mạn phép ông Phạm Quang Tuấn lặp lại câu hỏi: “Ông Cù Huy Hà Vũ kiện có đúng không?”

© 2009 Nguyễn Mai Sơn

© 2009 talawas blog

Bình luận

42 Comments (bài “Lại chuyện “ông Cù Huy Hà Vũ kiện có đúng không?””)

  1. Nguyễn Mai Sơn viết:

    (2)
    Điều 10, khoản 3 (Thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược): “Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ, Quốc hội về kết quả thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của dự án kèm theo bản sao biên bản của Hội đồng thẩm định để làm căn cứ phê duyệt dự án”.
    Nhưng điều này chưa có tiền lệ đối với các quyết định quy hoạch trước đó (qua danh mục các dự án phải lập báo cáo SEA trong phần Phụ lục của Nghị định 80/2006/NĐ-CP), nên cá nhân tôi hiểu Quyết định Quy hoạch đã sai trong trình tự thủ tục phê duyệt nhưng không xuất phát từ một động cơ phạm luật. Nếu tất cả các quyết định quy hoạch trước đó đều có báo cáo SEA trước Chính phủ, Thủ tướng, Quốc hội mà quy hoạch bauxite thì không thì từ dùng “phạm luật” là đích đáng. Đây là một điều mà Chính phủ phải điều chỉnh, bởi vì dưới bất cứ động cơ nào thì đời sống vẫn cần có luật.
    Bài viết của tôi chỉ có 2 vấn đề chính, dự án Tân Rai, Nhân Cơ không phải trình Quốc hội và những căn cứ khởi kiện của ông Cù Huy Hà Vũ (cụ thể ở những điều khoản ông nêu ra ở Luật BVMT) là thiếu thuyết phục.
    Góp ý như ông Nghiêm Quang khi dẫn Điều 2 LBVMT thì thật đã thuyết phục tôi. Xin cảm ơn.

  2. Phạm Quang Tuấn viết:

    NMS: “Tôi xin độc giả cho tôi nói lại về mâu thuẫn của Điều 17 trong Luật BVMT 2005. Vì nếu hiểu toàn bộ chữ “dự án” trong Điều 17 bằng “quy hoạch” (Quyết định phê duyệt của Thủ tướng) như ông PQT thì lý giải sao với Khoản 7, Điều 17, Trách nhiệm tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược được quy định như sau: “a) Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt” (NMS viết thêm: TỨC DỰ ÁN ĐÃ ĐƯỢC PHÊ DUYỆT). Trong khi Khoản 6, Điều 17: “Kết quả thẩm định báo cáo môi trường chiến lược là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án”. (Phải có hội đồng thẩm định rồi thì mới có kết quả thẩm định chứ!). Vậy tôi mới đề xuất cách hiểu “phê duyệt dự án” ở khoản 6 là “dự án đầu tư”.”

    Không có gì mâu thuẫn cả. Ông NM Sơn hiểu sai vì suy diễn câu “các dự án do QH, CP, TT phê duyệt” thành ra ” dự án ĐÃ được phê duyệt”. Luật không nói ĐÃ, ĐANG hay SẼ gì hết, do đó ta phải hiểu theo văn cảnh, logic và kiến thức căn bản: “Bộ TNMT tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án mà QH, CP, TT SẼ phê duyệt”.

    (Chắc không cần óc logic phát triển lắm cũng thấy rằng, khi luật bảo là PHẢI làm, thì tức là phải làm TRƯỚC KHI phê duyệt chứ phê duyệt xong rồi thì còn ai bắt làm nổi nữa!)

  3. Nghiêm Quang viết:

    Hiểu toàn bộ chữ “dự án” trong mục 1 (chứ không riêng điều 17) là “chiến lược, quy hoạch, kế hoạch…” như đã định nghĩa tại điều 14 mới là cách hiểu đúng.

    Điều nầy hoàn toàn không mâu thuẫn với điểm a, khoản 7, điều 17 như ông Sơn đã trích:
    7. Trách nhiệm tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược được quy định như sau:
    a) Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

    Điểm a, khoản 7, điều 17 ý muốn đề cập đến các dự án (tức quy hoạch, không phải dự án đầu tư) thuộc thẩm quyền Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; để phân biệt với dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của các Bộ, cơ quan ngang Bộ quy định tại điểm b và các dự án thuộc thẩm quyền của địa phương quy định tại điểm c.

    Khoản 7, điều 17 nhằm xác định cơ quan đứng ra tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo SEA tùy theo mức độ của dự án. Khoản 7, điều 17 không có điểm nào cho rằng dự án đã được phê duyệt trước khi lập hội đồng thẩm định như ông Nguyễn Mai Sơn viết.

  4. Nghiêm Quang viết:

    Khoản 19, Điều 2, Luật Bảo vệ Môi trường:
    Đánh giá môi trường chiến lược là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trước khi phê duyệt nhằm bảo đảm phát triển bền vững.

    Điều 14:
    Đối tượng PHẢI lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược:
    …
    4. Quy hoạch sử dụng đất; bảo vệ và phát triển rừng; khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác trên phạm vi liên tỉnh, liên vùng.
    …

    Với 2 điều khoản nầy đủ để thấy tính chất bắt buộc phải có của báo cáo SEA trước khi phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxit.

    Khoản 6, Điều 17 tái xác nhận: “Kết quả thẩm định báo cáo môi trường chiến lược là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án”.

    Không thể nói như Nguyễn Mai Sơn rằng còn nhiều căn cứ khác, và vốn dĩ không có điều khoản nào nói rằng không có căn cứ này thì nhất định không được phê duyệt dự án. Các căn cứ khác ở đây, như ông Cù Huy Hà Vũ trình bày, có thể là Luật Quốc phòng và Luật Di sản Văn hóa. Căn cứ vào hai bộ luật vừa kể chắc chắn không cho phép đưa ra các kết luận về môi trường cũng như không thể thay thế cho căn cứ vào Luật Bảo vệ môi trường.

  5. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Tôi xin độc giả cho tôi nói lại về mâu thuẫn của Điều 17 trong Luật BVMT 2005. Vì nếu hiểu toàn bộ chữ “dự án” trong Điều 17 bằng “quy hoạch” (Quyết định phê duyệt của Thủ tướng) như ông PQT thì lý giải sao với Khoản 7, Điều 17, Trách nhiệm tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược được quy định như sau: “a) Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt” (tức dự án đã được phê duyệt). Trong khi Khoản 6, Điều 17: “Kết quả thẩm định báo cáo môi trường chiến lược là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án”. (Phải có hội đồng thẩm định rồi thì mới có kết quả thẩm định chứ!). Vậy tôi mới đề xuất cách hiểu “phê duyệt dự án” ở khoản 6 là “dự án đầu tư”.
    Rất mong ông PQT xem lại cho, chứ cách giải thích của ông về SEA và EIA ở bài “Ông Cù Huy Hà Vũ kiện có đúng không?” là xác đáng, tôi không có ý kiến gì. Vấn đề của Luật là cụ thể, rõ ràng, không nên tạo nhiều cách hiểu khác nhau và không nên mâu thuẫn.

  6. Phạm Quang Tuấn viết:

    NMS: “…lập báo cáo là một quá trình [trong khi rất nhiều dự án còn đang trong giai đoạn quy hoạch, thăm dò (trong phần phụ lục có cả những dự án thăm dò), có những dự án đang trong giai đoạn “xét đến”].”

    SAI. Khi làm SEA không cần biết chi tiết các dự án, vì SEA là một đánh giá tổng quát (vì vậy mới gọi là CHIẾN LƯỢC). Đi vào dự án, mới cần chi tiết để làm EIA. Đó là sự khác biệt căn bản giữa SEA và EIA.

    NMS: “Vì thế Báo cáo trước Quốc hội đã nói rất rõ “chưa có một Báo cáo Đánh giá tác động môi trường chiến lược” (trong thời điểm này).”

    Tức là CP thú nhận mình làm trái luật!

    NMS: “Khoản 6, Điều 17: “Kết quả thẩm định báo cáo môi trường chiến lược là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án” […] có thể hiểu kết quả thẩm định của bộ và các cơ quan ngang bộ (chỉ) là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án (bởi còn nhiều căn cứ khác, và vốn dĩ không có điều khoản nào nói rằng không có căn cứ này thì nhất định không được phê duyệt dự án)”.”

    NGỤY BIỆN. Luật đã nói quy hoạch “PHẢI CÓ SEA” (Điều 14) thì KHÔNG THỂ CÃI (như NMS) là “không có điều khoản nào nói rằng không có căn cứ này (SEA) thì nhất định không được phê duyệt dự án”.

    Xin nhắc lại với các bạn đọc hãy scroll xuống để xem các phản hồi trước của tôi, đã giải thích kỹ càng những quan niệm cơ bản và cho bằng chứng, tài liệu. Vì đặc tính của talawas, những phản hồi của tôi bị “vùi” dưới những phản hồi ào ạt của ông NMS. Cũng khâm phục NMS biết khai thác yếu/nhuợc điểm của talawas!

  7. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Thưa thêm với ông PQT,
    Báo cáo của CP viết: “Việc lập, thẩm định và trình duyệt Dự án quy hoạch đã đảm bảo quy trình chặt chẽ, công khai và phù hợp quy định hiện hành. Tuy chưa có một Báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược (ĐCM) riêng (do tại thời điểm xây dựng quy hoạch năm 2005-2006 chưa có hướng dẫn cụ thể về nội dung và kinh phí lập ĐCM), nhưng trong dự án Quy hoạch đã đề cập nội dung cơ bản của ĐCM và việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch là đảm bảo đúng Luật”.
    Tôi đã nói rõ trong bài viết của mình, đối tượng lập báo cáo SEA hoàn toàn đúng đối với quyết định phê duyệt quy hoạch của Thủ tướng Chính phủ. Nhưng lập báo cáo là một quá trình [trong khi rất nhiều dự án còn đang trong giai đoạn quy hoạch, thăm dò (trong phần phụ lục có cả những dự án thăm dò), có những dự án đang trong giai đoạn “xét đến”]. Vì thế Báo cáo trước Quốc hội đã nói rất rõ “chưa có một Báo cáo Đánh giá tác động môi trường chiến lược” (trong thời điểm này).
    Khoản 6, Điều 17: “Kết quả thẩm định báo cáo môi trường chiến lược là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án”. Nếu hiểu “dự án” = “quy hoạch” như ông PQT, thì cũng có cách hiểu khác như tôi đã viết trong bài: “tôi cho rằng điều khoản này không thể không có cách hiểu khác về mặt từ ngữ, bởi có thể hiểu kết quả thẩm định của bộ và các cơ quan ngang bộ (chỉ) là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án (bởi còn nhiều căn cứ khác, và vốn dĩ không có điều khoản nào nói rằng không có căn cứ này thì nhất định không được phê duyệt dự án)”.

  8. Nghiêm Quang viết:

    1. Nếu ở vị trí ông Phạm Quang Tuấn, tôi có lý do để mất bình tĩnh vì trở tới trở lui hàng chục ý kiến phản hồi, ông Nguyễn Mai Sơn vẫn không phân biệt được mấy cặp khái niệm:
    – Dự án quy định tại điều 14 LMT tức chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển vs. Dự án quy định tại điều 18 LMT tức dự án đầu tư.
    – Đánh giá môi trường chiến lược (SEA) nhằm vào đối tượng là các dự án điều 14 vs. Đánh giá tác động môi trường (EIA) mà đối tượng là các dự án điều 18.
    Không thể nào có chuyện “chủ đầu tư phải lập báo cáo, báo cáo SEA” khi được giao dự án đầu tư, theo góp ý của ông Sơn cho Luật Bảo vệ Môi trường.

    2. “b. Bộ TNMT dựa theo quy hoạch đó để làm hay thuê làm SEA… Đằng này CP đã “lờ” luôn giai đoạn b!”. Nếu chỉ có chữ “thuê làm SEA” không thôi thì tôi không góp ý. (trích Nguyễn Mai Sơn).

    Tôi hiểu ý ông Sơn lo ngại Bộ TNMT vừa đứng ra làm SEA vừa trực tiếp thẩm định báo cáo này. Thế nhưng, với khoản 4 điều 17, Hội đồng thẩm định do Bộ tổ chức ra nhưng Hội đồng đó không phải chỉ có người của Bộ:
    “Hội đồng thẩm định quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này phải có trên năm mươi phần trăm số thành viên có chuyên môn về môi trường và các lĩnh vực liên quan đến nội dung dự án. Người trực tiếp tham gia lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược không được tham gia hội đồng thẩm định.”

    Như vậy, theo lý thuyết, tính khách quan vẫn được bảo đảm nếu Bộ TNMT trực tiếp thảo báo cáo SEA.

  9. Phạm Quang Tuấn viết:

    NMS: “2 ý kiến của tôi gần đây thuộc ý kiến riêng góp ý với Luật BVMT 2005 (có thể đúng, có thể sai). Luật không phải là “bất biến”.”

    Đề nghị ông NMS đọc vài tài liệu ngoại quốc (mà tôi đã cho link) về luật lệ bảo vệ môi trường các nước, hiểu vài nguyên tắc sơ đẳng về đánh gia tác động môi trường, rồi hãy nghĩ đến chuyện “góp ý với Luật BVMT 2005”. Tôi biết VN xưa nay nhiều “đỉnh cao trí tuệ”, nghĩ rằng mình không cần học hỏi ai mà có thể tự sáng chế ra cái bánh xe, nhưng đối với người ngoài thì làm vậy chỉ là trò cười mà thôi.

  10. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Tôi nhận thấy, ông PQT đang mất bình tĩnh.
    Thứ nhất, 2 ý kiến của tôi gần đây thuộc ý kiến riêng góp ý với Luật BVMT 2005 (có thể đúng, có thể sai). Luật không phải là “bất biến”.
    Thứ 2, những ý kiến mà tôi phản hồi trước đều căn cứ trên ý kiến của ông và của độc giả khác.
    Thứ 3, tôi không tập trung tung hỏa mù gì cả vì tôi nhận thấy quyền được nêu ý kiến là quyền dành cho bài viết của tôi, được BBT thông qua mà không cần qua kiểm duyệt. Đối với những bài tôi không phải tác giả, tôi có nêu ý kiến cũng phải rất lâu mới được đăng. Mọi người có quyền sử dụng “lợi thế” đó trong bài viết của mình. Vì không chỉ có 1 mình ông góp ý, bởi nếu mà chục người khác cùng vào góp ý một lúc thì tôi làm sao trả lời kịp khi ý kiến của mình còn phải chờ xét duyệt?
    Ông kết nhiều tội cho tôi như vậy không rõ có dụng ý gì? Và xin ông hãy đọc lại những ý kiến về tranh chấp Biển Đông của các tác giả khác xem có nhiều hơn tôi không?
    (21 ý kiến: ông 8 (10.031 kí tự), tôi 10 (13. 071 kí tự, có 9.037 kí tự góp ý với ông), ông Vinh 2, Tường Vân 1)
    Tôi không muốn phải chấm dứt mọi ý kiến đối với ông trong bài viết này, nếu ông còn chỉ ra cái sai trong bài viết của tôi. Nhưng một lần nữa xin ông bình tĩnh và cả tỉnh táo nữa!
    Cảm ơn ông!
    – Ông viết: “b. Bộ TNMT dựa theo quy hoạch đó để làm hay thuê làm SEA… Đằng này CP đã “lờ” luôn giai đoạn b!”. Nếu chỉ có chữ “thuê làm SEA” không thôi thì tôi không góp ý.

  11. Phạm Quang Tuấn viết:

    NMS: “Cụ thể, chủ các dự án đầu tư (dù lớn hay nhỏ) đã nằm trong Quyết định Quy hoạch (dự án tổng thể) do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng phê duyệt thì đều phải lập báo cáo SEA, chứ không chỉ có EIA (tự làm hay thuê làm là quyền của chủ dự án đầu tư).”

    SAI!

    NMS: “Và mỗi khi dự án đầu tư nào trong Quyết định phê duyệt quy hoạch đó được giao cho chủ đầu tư (cụ thể nào đó) thì chủ đầu tư ấy phải lập báo cáo, báo cáo SEA”

    SAI!

    NMS: “Vậy LBVMT có nên hiểu và ghi rõ “đối tượng” SEA là các dự án đầu tư nằm trong Quy hoạch ấy (các “dự án đầu tư” là nội hàm của ngoại diên khái niệm “quy hoạch”)?”

    Sai bét hết! Ô. NM Sơn vẫn không hiểu sự kiện rất giản dị mà tôi đã nói trong bài của tôi (http://www.talawas.org/?p=6696), và nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần:

    1. LUẬT MÔI TRƯỜNG BẢO: QUY HOẠCH PHẢI CÓ SEA, DỰ ÁN PHẢI CÓ EIA.

    2. CHÍNH PHỦ PHÊ DUYỆT QUY HOẠCH MÀ KHÔNG LÀM SEA

    3. CHH VŨ KIỆN CHUYỆN (2) ĐÓ.

    Chỉ giản dị có thế, mà ông NMS viết 1 bài và thêm cả chục phản hồi, nói lung tung trên trời dưới đất một cách vô nghĩa! Tung hỏa mù chăng? Cố ý làm độc giả chán không đọc nữa để che dấu cái sai của mình?

    (Xin bạn đọc scroll xuống dưới những phản hồi của NM Sơn, sẽ thấy những phản hồi “giải độc” của tôi chưa kịp “lên khuôn” đã bị những phản hồi của NMS che lấp – có thể đó là dụng ý của NMS!)

  12. Nguyễn Mai Sơn viết:

    (ý kiến 1)
    Tôi xin rút lại câu hỏi “Luật BVMT có nên chuyển sự thẩm định báo cáo SEA cho Quốc hội?” bằng các ý kiến riêng của tôi với Luật BVMT năm 2005:
    Thủ tướng phê duyệt Quy hoạch, BTNMT cùng với các cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, các chuyên gia… (có liên quan đến Quyết định Quy hoạch) thực hiện thẩm định báo cáo SEA cho tổng thể dự án. Và mỗi khi dự án đầu tư nào trong Quyết định phê duyệt quy hoạch đó được giao cho chủ đầu tư (cụ thể nào đó) thì chủ đầu tư ấy phải lập báo cáo, báo cáo SEA (vì có những dự án trong quy hoạch đó chưa chọn được nhà đầu tư thích hợp và các dự án không thể diễn ra cùng lúc). Khi nào dự án đầu tư đi vào triển khai thực hiện thì chủ đầu tư phải lập thêm báo cáo IEA, nếu chưa có thẩm định IEA thì dự án đầu tư ấy sẽ không được triển khai.
    Chính phủ khẳng định: “Quy hoạch bô-xít cũng như nhiều quy hoạch khác (quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội các vùng, địa phương, quy hoạch các ngành kinh tế – kỹ thuật như ngành Điện, Dầu khí, Khoáng sản, Thép v.v.) không phải là dự án đầu tư, vì vậy không chịu sự điều chỉnh của Nghị quyết 66“.
    Vậy LBVMT có nên hiểu và ghi rõ “đối tượng” SEA là các dự án đầu tư nằm trong Quy hoạch ấy (các “dự án đầu tư” là nội hàm của ngoại diên khái niệm “quy hoạch”)?

  13. Nguyễn Mai Sơn viết:

    (ý kiến 1 – tt và hết)
    Cụ thể, chủ các dự án đầu tư (dù lớn hay nhỏ) đã nằm trong Quyết định Quy hoạch (dự án tổng thể) do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng phê duyệt thì đều phải lập báo cáo SEA, chứ không chỉ có EIA (tự làm hay thuê làm là quyền của chủ dự án đầu tư). Và nên hiểu lập báo cáo là một quá trình…, nhanh chậm có thể do cơ quan chủ quản ấn định, (thực tế vì quyền lợi sát sườn, các chủ đầu tư đều muốn sớm thực hiện dự án). Khi nào chủ đầu tư lập xong báo cáo SEA thì mới lập hội đồng thẩm định như Khoản 7, Điều 17 ghi: “Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt”.
    Và cụm từ “phê duyệt dự án” trong Khoản 6, Điều 17: “Kết quả thẩm định báo cáo môi trường chiến lược là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án” rất nên ghi cụ thể là “phê duyệt dự án đầu tư” để không nhầm đó là “Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch…”. Vd: dự án đầu tư Tân Rai được phê duyệt năm 2000, hiện nay dự án đầu tư này đang được triển khai, nên áp dụng giống như nội dung Điều 22, Mục 2 (Đánh giá tác động môi trường): Các dự án… chỉ được cấp phép đầu tư, xây dựng, khai thác sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt? (có mất gì đâu mà Mục 1 không thể ghi rõ giống như Mục 2?). Điều này cũng phù hợp với báo cáo trước Quốc hội đối với dự án Nhân Cơ (phải có EIA mới triển khai).

  14. Phạm Quang Tuấn viết:

    NMS: “Khoản 4, Điều 17, Mục 1 (SEA): “Người trực tiếp tham gia lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược không được tham gia hội đồng thẩm định”. Trong khi Khoản 7, Điều 17 ghi: “Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt”. Nếu theo cách hiểu của ông PQT thì Điều 17 của Luật này vừa đặt BTNMT vào trong, vừa đặt BTNMT ra ngoài.”

    Không, chỗ này phải hiểu như sau: nếu Bộ TNMT đã mướn hay cử ông kỹ sư Soài hay hãng tư vấn Mít làm SEA, thì ông Soài hay đại diện hãng Mít không được ngồi trong hội đồng thẩm định mà QH, CP hay TTCP chọn. Đây là thông lệ về SEA và EIA.

    NMS: ” Khoản 2, Điều 17 lại ghi: “Thành phần của hội đồng thẩm định đối với các dự án có quy mô quốc gia, liên tỉnh bao gồm đại diện của cơ quan phê duyệt dự án; đại diện của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND…”. Thủ tướng vừa phê duyệt Quy hoạch (quy mô quốc gia) vừa có chân trong hội đồng thẩm định (đại diện cơ quan phê duyệt dự án); và đại diện của bộ, UBND tỉnh… (cũng nằm trong hội đồng). Như thế thì chuyện lập báo cáo, báo cáo, thẩm định báo cáo SEA đều là chuyện “trong nhà” (cha con cùng làm).”

    Như đã nói ở trên, KHÔNG CÓ CHUYỆN cùng 1 người lập SEA và thẩm định SEA. Còn chuyện TT vừa phê duyệt Quy hoạch, vừa có chân trong hội đồng thẩm định thì không trái luật, vì (ít ra trên lý thuyết) nếu TT thiên vị trong thẩm định thì đã có những ý kiến khác.

  15. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Luật BVMT 2005, có 6 “đối tượng” phải lập báo cáo SEA. Ngoài 3 “đối tượng” ông Vũ nêu có:
    4. Quy hoạch sử dụng đất; bảo vệ và phát triển rừng; khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác trên phạm vi liên tỉnh, liên vùng.
    5. Quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm.
    6. Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông quy mô liên tỉnh.
    Ông PQT viết: “b. Bộ TNMT dựa theo quy hoạch đó để làm hay thuê làm SEA… Đằng này CP đã “lờ” luôn giai đoạn b!”.
    Nhưng Khoản 4, Điều 17, Mục 1 (SEA): “Người trực tiếp tham gia lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược không được tham gia hội đồng thẩm định”. Trong khi Khoản 7, Điều 17 ghi: “Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt”. Nếu theo cách hiểu của ông PQT thì Điều 17 của Luật này vừa đặt BTNMT vào trong, vừa đặt BTNMT ra ngoài.
    Trong khi Khoản 2, Điều 17 lại ghi: “Thành phần của hội đồng thẩm định đối với các dự án có quy mô quốc gia, liên tỉnh bao gồm đại diện của cơ quan phê duyệt dự án; đại diện của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND…”.
    Thủ tướng vừa phê duyệt Quy hoạch (quy mô quốc gia) vừa có chân trong hội đồng thẩm định (đại diện cơ quan phê duyệt dự án); và đại diện của bộ, UBND tỉnh… (cũng nằm trong hội đồng). Như thế thì chuyện lập báo cáo, báo cáo, thẩm định báo cáo SEA đều là chuyện “trong nhà” (cha con cùng làm).
    Luật BVMT có nên chuyển sự thẩm định báo cáo SEA cho Quốc hội?

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>