talawas blog

Chuyên mục:

Lại chuyện “ông Cù Huy Hà Vũ kiện có đúng không?”

29/06/2009 | 10:27 sáng | 42 Comments

Tác giả: Nguyễn Mai Sơn

Category: Bauxite Tây Nguyên, Pháp luật
Thẻ:

Đơn khởi kiện của ông tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ được ví von như một “Xô-viết Nghệ Tĩnh” của thời nay, và tạo nên “một kỷ lục khác: Lần đầu tiên có một công dân Việt Nam đã viết đơn khởi kiện một nhân vật lãnh đạo cấp cao nhất của chính phủ: Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam, một việc chưa bao giờ có tiền lệ!” (Bauxite Việt Nam). Tôi không bàn luận nhiều đến những “kết luận hùng hồn” này, bởi cho đến bây giờ trên nhiều diễn đàn vẫn đang tranh luận rằng việc khởi kiện đã đúng luật hay chưa đúng luật.

Trong Đơn khởi kiện Thủ tướng, ông Cù Huy Hà Vũ nêu lý do khởi kiện rằng: “Do đã ban hành trái pháp luật Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 1/11/2007 phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025.”

Trên website của Bộ Công Thương, phần Hệ thống Chiến lược, Kế hoạch, Quy hoạch (http://portal.mot.gov.vn/chienluoc/index.asp?tieuchi=2&ma=2) có đăng tải nhiều Quyết định của Thủ tướng cũng như của Bộ trưởng các bộ, trong đó có Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 1/11/2007 phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác , chế biến, sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025.

Quyết định trên gồm có 4 điều, 7 Phụ lục với những khoản mục chính như: 1. Quan điểm, 2. Định hướng phát triển, 3. Mục tiêu phát triển, 4. Phân vùng quy hoạch, 5.  Quy hoạch thăm dò và khai thác bauxite, 6. Quy hoạch vận tải ngoài, 7.  Quy hoạch cảng biển, 8.  Quy hoạch xây dựng nhà máy điện phân nhôm, 9. Quy hoạch xây dựng các nhà máy sản xuất nguyên, vật liệu, 10.  Nhu cầu vốn đầu tư. Trong Tổ chức thực hiện có 5 bộ (Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Tài chính) và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện. Điều 4 ghi rõ: “Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này“.

Quyết định 167 là Quyết định quy hoạch khai thác bauxite với các giai đoạn cụ thể, và giai đoạn xét đến, có nhiều dự án thuộc các lĩnh vực khác nhau, đối tượng thi hành quyết định rộng. Nhưng không hiểu sao Bauxite Việt Nam lại giật tít “Đơn của Luật sư Cù Huy Hà Vũ khiếu kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về việc đã phê chuẩn QĐ 167/2007/QĐ-TTg để triển khai quy hoạch phân vùng và khai thác bauxite Tây Nguyên, mà theo LS Vũ là trái với các pháp luật hiện hành của Việt Nam“. Việc giới hạn Quyết định Quy hoạch trên vào các dự án bauxite tại Tây Nguyên, theo tôi là không sòng phẳng, vì vốn dĩ “Tây Nguyên” kể từ khi có thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và những vấn đề liên quan đến chính sách của Trung Quốc đã trở nên quá sức nhạy cảm.

Có thể nói rằng đã có sự nhầm lẫn nào đó trong cách hiểu về Quyết định này. Tôi cho rằng chúng ta cần lưu ý đến khái niệm “Quy hoạch phân vùng thăm dò”, “khai thác”, “chế biến”, “sử dụng quặng bauxite”, thậm chí cần lưu ý đến những giai đoạn cụ thể và giai đoạn xét đến trong Quyết định này bằng vào việc tham khảo các công trình, dự án trong các phần Phụ lục của Quyết định. Nên hiểu Quyết định này trong Hệ thống Chiến lược, Kế hoạch và Quy hoạch, ở đó có rất nhiều dự án đầu tư đã thực hiện, đang thực hiện, chưa thực hiện và sẽ thực hiện. Vì vậy, Chính phủ đã chọn dự án Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông) để triển khai thí điểm.

Trong mục 5,  Quy hoạch thăm dò và khai thác bauxite ghi: “b) Quy hoạch thăm dò giai đoạn 2007 – 2015: Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam chủ trì thăm dò toàn bộ các mỏ bauxit tại khu vực Tây Nguyên (trừ các mỏ bauxit đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép đơn vị khác thực hiện) để đánh giá trữ lượng làm cơ sơ cho việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư bauxit – alumin – nhôm”. Cụ thể Quyết định này ghi: “Các dự án tại Đắk Nông do Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam chủ trì đầu tư ” ; “Nhà máy alumin Tân Rai – Bảo Lộc: công suất nhà máy alumin dự kiến 0,6 triệu tấn/năm đến năm 2010; dự kiến tăng lên 1,2 triệu tấn/năm vào giai đoạn sau năm 2010. Nguồn quặng bauxit từ mỏ Tây Tân Rai và Tân Rai (Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam làm chủ đầu tư)”.

Về tổng thể, các dự án thăm dò bauxite trong giai đoạn 2007 – 2015 thể hiện ở Phụ lục II. Phụ lục này có cả thảy 7 dự án, trong đó có 2 dự án liên quan đến Tây Nguyên: 1. Thăm dò các mỏ bauxit thuộc tỉnh Đắk Nông (trừ các khu vực đã thăm dò tỷ mỷ) với mục tiêu 2000 – 2100 triệu tấn quặng tinh; 2. Thăm dò các mỏ bauxit thuộc tỉnh Lâm Đồng (trừ các khu vực đã thăm dò tỷ mỷ) với mục tiêu 250 – 300 triệu tấn quặng tinh.

Ngày 24/4/2009, ông Trương Tấn Sang, Thường trực Ban Bí thư đã thay mặt Bộ Chính trị ký Thông báo số 245- TB/TW về kết luận của Bộ Chính trị liên quan đến quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bauxite giai đoạn 2007 – 2015, có xét đến năm 2025. Kết luận có đoạn: “Tiếp tục thực hiện chủ trương triển khai hai dự án ở Tân Rai và Nhân Cơ do Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam làm chủ đầu tư, chưa chủ trương bán cổ phần cho tổ chức và cá nhân nước ngoài; sử dụng lao động trong nước, chỉ sử dụng lao động kỹ thuật nước ngoài khi cần thiết, lựa chọn công nghệ hiện đại; thực hiện nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ môi trường. Khẩn trương lập báo cáo môi trường chiến lược và báo cáo đánh giá tác động môi trường của từng dự án để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp…“. Để triển khai thực hiện kết luận của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản chỉ đạo Số: 650/TTg-KTN V/v phát triển ngành công nghiệp khai thác bauxite, sản xuất alumina.

Hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ được Chính phủ cho phép triển khai thực hiện có cần phải trình Quốc hội thông qua hay không?

“Đại biểu Nguyễn Đăng Trừng (TP.HCM) chất vấn, quy mô tổng mức đầu tư của dự án từ 20.000 tỷ đồng trở lên phải trình Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư. Nhưng dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên có quy mô tổng mức đầu tư cao hơn 20.000 tỷ đồng, tại sao Bộ Công Thương không đề nghị Chính phủ trình Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư?

Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng giải đáp, trong quy hoạch phát triển bauxite được Chính phủ phê duyệt nêu rõ nhiều dự án, từ khai thác, chế biến bauxite, sản xuất alumina thành nhôm nguyên liệu, dự án đường sắt từ Tây Nguyên ra biển, dự án cảng Kê Gà – Bình Thuận. Đây là những dự án độc lập, không phụ thuộc lẫn nhau. Dự án bauxite – alumina ở Tân Rai, Đắk Nông có thể vận hành độc lập, dự án này không phụ thuộc vào dự án kia.

Do đó, có dự án có tổng mức đầu tư vượt 20.000 tỷ đồng, nhưng cũng có những dự án không đến con số đó.

Dự án bauxite Tân Rai và Nhân Cơ có vốn đầu tư khoảng 12.000 tỷ đồng, do đó không thuộc công trình quan trọng phải trình Quốc hội.

Còn các dự án sau như Đắk Nông 2, Đắk Nông 3, Đắk Nông 4 sau này, khi công suất chế biến từ 1,5 – 2 triệu tấn alumina/năm thì lúc đó vốn đầu tư có khả năng đạt hoặc vượt con số 20.000 tỷ đồng và chắc chắn sẽ phải trình Quốc hội.

Chưa hài lòng về vấn đề này, đại biểu Nguyễn Đăng Trừng tiếp tục chất vấn, khai thác bauxite, sản xuất alumine bao gồm 3 giai đoạn với 12 dự án và tất cả dự án này gắn bó với nhau. Nó chỉ độc lập khi Bộ Công Thương tách nhỏ để mức vốn đầu tư dưới 20.000 tỷ đồng“. (Dẫn theo http://www.lamdong.gov.vn)

Đọc đoạn chất vấn và giải trình trên ta thấy ông Bộ trưởng thì “chia ra” (theo Nguyễn Đăng Trừng), trong khi ông Đại biểu Quốc hội thì gộp vào. Ông Nguyễn Đăng Trừng có gộp cũng gộp không hết được vì ông đã nhầm lẫn ngay từ đầu khi không khu biệt được dự án đang được triển khai mang tên Tân Rai và Nhân Cơ chứ không phải mang tên Tây Nguyên. Trong nhu cầu vốn đầu tư (tính theo tỷ đồng Việt Nam), Phụ lục VI mục B (Các dự án khai thác, chế biến) ghi rất rõ: Tổ hợp bauxit- nhôm Lâm Đồng (CS GĐ1: 0,6 triệu tấn alumin/năm; CS GĐ2: 1,2 – 1,8 triệu tấn alumin/năm) – 6.220 tỷ; Dự án alumin Đắk Nông 1 (CS GĐ1: 0,3 triệu tấn alumin/năm; CS GĐ2: 0,6 – 1,2 triệu tấn alumin/năm) – 3.680 tỷ. Dự án alumin ĐắkNông 1 chính là dự án Nhân Cơ. Trong kết luận của Bộ Chính trị và văn bản chỉ đạo của Thủ tướng đều thống nhất rà soát các dự án tại Nhân Cơ (Đắk Nông) để kịp thời điều chỉnh.

Tên gọi của dự án đang được triển khai đã khu biệt rõ là Tân Rai và Nhân Cơ, nếu chúng ta gộp hết các dự án khai thác bauxite vào thì không biết sẽ phải gộp thế nào cho thỏa, vì trong Quyết  định 167 của Thủ tướng nêu rõ : “Nhu cầu vốn đầu tư cho công tác thăm dò, khai thác và chế biến bauxit giai đoạn 2007 – 2025 ước tính khoảng 189.110 – 249.420 tỷ VND (tương đương khoảng 11,8 – 15,6 tỷ USD), bao gồm các dự án khai thác, chế biến bauxit (sản xuất alumin và điện phân nhôm) và hạ tầng cơ sở (đường sắt và cảng) thể hiện trong Phụ lục VI”.

Trong Báo cáo Quốc hội về việc triển khai các dự án bauxite ghi:

1. Dự án Tổ hợp bô-xít – nhôm Tân Rai ( Lâm Đồng)

“Dự án đã được Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư tại công văn số 303/CP-CN ngày 29 tháng 3 năm 2000; Báo cáo nghiên cứu khả thi được Thủ tướng Chính phủ thông qua năm 2005 (công văn số 808/TTg-CN ngày 17 tháng 6 năm 2005). Chủ đầu tư (Tập đoàn TKV) đã ký hợp đồng thực hiện gói thầu thiết kế-mua sắm-xây dựng và đào tạo (EPC) nhà máy alumin với nhà thầu CHALIECO (Trung Quốc) thông qua đấu thầu quốc tế công khai, gói thầu đã được khởi công ngày 26 tháng 7 năm 2008.”

2. Dự án khai thác bô-xít và sản xuất alumin Nhân Cơ (Đăk Nông 1)

 “Chủ trương lập dự án bô-xít – alumin Nhân cơ đã được thông qua tại Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch bô-xít. Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý chủ trương nâng công suất Nhà máy alumin Nhân Cơ lên 600.000 tấn/năm (công văn số 2728/VPCP-HTQT ngày 02 tháng 5 năm 2008). Hiện nay, chủ đầu tư đang hoàn chỉnh và trình duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường và rà soát lại hiệu quả kinh tế của Dự án để trình Bộ Công Thương kiểm tra, đánh giá”.

Nếu xét về dự án đầu tư thì cũng có thể không cần phải gộp hai dự án này vào làm một cho dù nó đều nằm ở Tây Nguyên, vì lẽ dự án đầu tư ở Tân Rai được chấp thuận vào năm 2000 và báo cáo khả thi được Thủ tướng thông qua năm 2005. Phải chăng do dự án có cùng địa bàn và chủ đầu tư nên gộp vào để thuận lợi cho việc triển khai?

Còn Qưyết định phê duyệt quy hoạch chung cho khai thác bauxite trên cả nước không phải trình quốc hội thông qua cũng được nói rõ trong Báo cáo Quốc hội: “Quy hoạch bô-xít cũng như nhiều quy hoạch khác (quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội các vùng, địa phương, quy hoạch các ngành kinh tế – kỹ thuật như ngành Điện, Dầu khí, Khoáng sản, Thép v.v.) không phải là dự án đầu tư, vì vậy không chịu sự điều chỉnh của Nghị quyết 66“.

Giải thích này phù hợp với các quyết định khác của Thủ tướng, chẳng hạn trong Quyết định 145/2007/QĐ-TTg ngày 4/9/2007 Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành Thép Việt Nam giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025, trong đó có ghi “Nhu cầu vốn đầu tư phát triển của ngành Thép Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2025 ước vào khoảng 10 – 12 tỷ USD, trong đó giai đoạn 2007 – 2015 khoảng 8 tỷ USD”. Cụ thể trong phần Phụ lục, chỉ có dự án trọng điểm Liên hợp thép Hà Tĩnh tại Vũng Ang, vốn đầu tư là 3.000 triệu USD là phải trình Quốc hội thông qua. Nhiều dự án đã triển khai trên cả nước từ năm 2006, 2007 nhưng chưa thấy ai kiện nó trái luật cả.

Tôi xin trở lại việc ông Cù Huy Hà Vũ kiện Thủ tướng Chính phủ với lý do đã ban hành trái pháp luật Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 1/11/2007. Và tôi cũng chỉ xin phân tích trong phạm vi Luật Bảo vệ Môi trường, xem việc khởi kiện của ông Cù Huy Hà Vũ có thuyết phục hay không.

Ông Cù Huy Hà Vũ cho rằng Thủ tướng ra Quyết định 167 trái với Luật Bảo vệ Môi trường và ông trích dẫn Điều 14, Mục 1 (Đánh giá môi trường chiến lược) Chương III, Luật Bảo vệ Môi trường quy định đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược gồm:

1. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội cấp quốc gia.

2. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực trên quy mô cả nước.

3. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), vùng…

Đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược là hoàn toàn phù hợp dành cho Quyết định 167 của Thủ tướng. Và Thủ tướng cũng đã chỉ đạo các bộ ngành liên quan thực hiện điều này. Tuy nhiên, tôi cho rằng lập báo cáo [thuộc quá trình thực hiện] khác với báo cáo [ấn định cụ thể thời điểm, và phải báo cáo với ai (Thủ tướng, Bộ trưởng hay Quốc hội)?].

Điều 16 (Nội dung báo cáo đánh giá môi trường chiến lược) ghi: “1. Khái quát về mục tiêu, quy mô, đặc điểm của dự án có liên quan đến môi trường; 2. Mô tả tổng quát các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, môi trường có liên quan đến dự án; 3. Dự báo tác động xấu đối với môi trường có thể xảy ra khi thực hiện dự án; 4. Chỉ dẫn nguồn cung cấp số liệu, dữ liệu và phương pháp đánh giá; 5. Đề ra phương hướng, giải pháp tổng thể giải quyết các vấn đề về môi trường trong quá trình thực hiện dự án“. Có thể thấy điều luật này quá khái quát và sơ lược, nếu đem so sánh với báo cáo đánh giá tác động môi trường.

– Điều 15, Mục 1 (Đánh giá môi trường chiến lược) Chương III Luật Bảo vệ Môi trường quy định: “1. Cơ quan được giao nhiệm vụ lập dự án quy định tại Điều 14 của Luật này có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; 2. Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược là một nội dung của dự án và phải được lập đồng thời với quá trình lập dự án”.

Báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội khẳng định rằng Quy hoạch bô-xít cũng như nhiều quy hoạch khác, không phải là dự án đầu tư. Nên có thể nói cơ quan được giao nhiệm vụ chủ yếu ở đây vẫn là Bộ Tài nguyên và Môi trường. Vì trong Điều 121, Khỏan 2 (Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường), và Điểm g có nói rõ nhiệm vụ: “Quản lý thống nhất hoạt động thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, báo cáo đánh giá tác động môi trường, đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước; tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc thẩm quyền; hướng dẫn việc đăng ký cơ sở, sản phẩm thân thiện với môi trường và cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường…“.

Ngay trong Quyết định 167 cũng đã nêu: “Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì thực hiện việc quy hoạch công tác điều tra cơ bản, quản lý và lưu trữ số liệu địa chất nguồn khoáng sản bauxit của đất nước. Củng cố hoạt động của hệ thống thanh tra mỏ, nâng cao năng lực quản lý và điều hành, tính pháp lý của hệ thống thanh tra từ Trung ương đến địa phương, cấp giấy phép…“.

Và cũng trong Điều 17 (Thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược), Khoản 7 (Trách nhiệm tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược) quy định như sau:

a) Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Có thể thấy, với điều khoản này, việc lập báo cáo, báo cáo, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược đối với các dự án chỉ được thành lập sau khi Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch. Hơn nữa, Thủ tướng cũng không thể nào có ngay toàn bộ đánh giá tác động môi trường chiến lược đối với các dự án Đắk Nông 2, Đắk Nông 3 (không chỉ ở giai đoạn 2007-2015 với vốn đầu tư với 16.800 – 22.400 tỷ đồng cho mỗi dự án, mà còn ở giai đoạn 2016-2025 với vốn đầu tư cho mỗi dự án là 14.280 –  19.040 tỷ đồng) và các dự án khác.

Tôi cho rằng việc Điều 15 viết: “Cơ quan được giao nhiệm vụ lập dự án quy định tại Điều 14 của Luật này có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược” đã mâu thuẫn với điều 121 của chính luật này, và hàng chữ “…quy định tại điều 14” đã làm cho người ta liên hệ đến đối tượng là “Thủ tướng Chính phủ” (tức Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), vùng…).

– Điều 17, Khoản 6, Mục 1 (Đánh giá môi trường chiến lược) Chương III Luật Bảo vệ Môi trường quy định: “Kết quả thẩm định báo cáo môi trường chiến lược là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án”.

Với những mâu thuẫn, chồng chéo và nhầm lẫn về “đối tượng” kể trên, tôi cho rằng điều khoản này không thể không có cách hiểu khác về mặt từ ngữ, bởi có thể hiểu kết quả thẩm định của bộ và các cơ quan ngang bộ (chỉ) là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án (bởi còn nhiều căn cứ khác, và vốn dĩ không có điều khoản nào nói rằng không có căn cứ này thì nhất định không được phê duyệt dự án). Tuy nhiên, tôi vẫn phải nhắc lại khẳng định của Chính phủ rằng Quyết định Quy hoạch khai thác bauxite của Chính phủ cũng như bao quyết định quy hoạch khác không phải là dự án đầu tư. Và chính cụm từ “phê duyệt dự án” phần nào đã bị hiểu lấn sang cụm từ “phê duyệt quy hoạch“.

Trong khi Điều 22, Khoản 4, Mục 2 (Đánh giá tác động môi trường): “Các dự án quy định tại Điều 18 của Luật này chỉ được phê duyệt, cấp phép đầu tư, xây dựng, khai thác sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt”.

Nếu như đọc kỹ luật này ở Mục 1 (Đánh giá tác động môi trường chiến lược) và Mục 2 (Đánh giá tác động môi trường) người đọc sẽ thấy Mục 1 khái quát nhiều hơn (tầm vĩ mô), trong khi Mục 2 lại cụ thể và chi tiết hơn (tầm vi mô).

Đến đây có thể nói, Quyết định phê duyệt Quy hoạch (tổng thể) của Thủ tướng đã bị hiểu nhầm sang các dự án đầu tư cụ thể trong chính quy hoạch đó.

Phải chăng do những nhầm lẫn này nên ông Cù Huy Hà Vũ đã viết: “Để ban hành quyết định, Thủ tướng Chính phủ nhất thiết phải căn cứ Luật khoáng sản, Luật Bảo vệ Môi trường là hai luật điều chỉnh trực tiếp việc thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản, cũng như phải căn cứ Luật Quốc phòng, Luật Di sản Văn hóa là những luật điều chỉnh gián tiếp Quy hoạch như đã trình bày“.

Xin lưu ý, các quyết định của Thủ tướng Chính phủ đều được phê duyệt căn cứ trên Luật Tổ chức Chính phủ và xét theo đề nghị cụ thể của các bộ. Cho nên việc ra Quyết định của Thủ tướng cần phải được căn cứ trên luật này vì nó ghi rõ nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ cũng như của Thủ tướng Chính phủ.

Điều 1 Luật Tổ chức Chính phủ ghi: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Điều 20, Khoản 1, Điểm b (Chương III, Nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ) có ghi : “Chỉ đạo việc xây dựng các dự án luật trình Quốc hội, các dự án pháp lệnh trình Ủy ban thường vụ Quốc hội; các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ“. Điều 21 “Thủ tướng Chính phủ ký các nghị quyết, nghị định của Chính phủ, ra quyết định, chỉ thị và hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó đối với tất cả các ngành, các địa phương và cơ sở. Các nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực thi hành trong phạm vi cả nước“.

Tôi xin cảm ơn ông Phạm Quang Tuấn đã viết: “Ông Sơn dường như không phân biệt được ‘Đánh giá tác động môi trường’ và ‘Đánh giá môi trường chiến lược’, nên những cái ông viết đi lạc đề ráo trọi”. Vì những lời lẽ đó đã động viên tôi viết tiếp bài này. Và tôi cũng xin mạn phép ông Phạm Quang Tuấn lặp lại câu hỏi: “Ông Cù Huy Hà Vũ kiện có đúng không?”

© 2009 Nguyễn Mai Sơn

© 2009 talawas blog

Bình luận

42 Comments (bài “Lại chuyện “ông Cù Huy Hà Vũ kiện có đúng không?””)

  1. Nguyễn Hữu Vinh viết:

    Cám ơn bác Sơn đã trả lời. Xin mời bác qua xem trang BBC hôm nay để biết là bác mới được xem cái phần phụ của câu chuyện thôi. Phần chính nó là ở đây cơ: “Toà án nhân dân thành phố Hà Nội thấy: Theo quy định tại Điều 12 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì Toà án chỉ có thẩm quyền giải quyết đối với những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ, cơ quan ngang bộ và cấp tương đương trở xuống và quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng các cơ quan đó.” Tới đây thì chắc khỏi bàn thêm, vì bác quá rành luật rồi.

  2. Phạm Quang Tuấn viết:

    NMS: “Nếu chữ “dự án” ở điều 17 đều là “quy hoạch” như PQT nói thì Thủ tướng phải phê duyệt “quy hoạch” lần 1, sau đó khi có thẩm định báo cáo thì phê duyệt “quy hoạch” lần 2?”

    Hình như ô. NMS đọc mà không hiểu. Tôi đã viết rõ: “Quy trình là: a. CP tự làm hay thuê làm quy hoạch, b. Bộ TNMT dựa theo quy hoạch đó để làm hay thuê làm SEA, c. CP dựa vào SEA và các yếu tố khác để quyết định có phê duyệt quy hoạch hay không”. Ông có thấy không , chỉ phê duyệt một lần thôi (phần c). Xin ông tra từ điển giùm, phần a là “làm”, “thảo” chứ chưa phê duyệt!

    NMS: “Vì sao tôi nói Luật BVMT khó áp dụng cho Tân Rai? … chuyện nó có EIA hay không, không liên quan đến đơn kiện của ông Vũ.”

    Lại lạc đề rồi! Tại sao ông NMS lại đem Tân Rai vào đây? Ông Vũ kiện Quy hoạch 2007 chứ có kiện riêng Dự án Tân Rai đau?

    NMS: “Ông PQT thừa nhận ‘Không! Dự án Nhân Cơ phải có EIA! Còn Quy hoạch 2007 thì mới phải có SEA!’ là ông đã công nhận rằng không nên ‘gộp’ các dự án vào với nhau.”

    Lại tung hỏa mù rồi! Các Dự án nằm chung trong Quy hoạch, nhưng Quy hoạch vẫn là Quy hoạch, Dự án vẫn là dự án, “không nên gộp” là sao?

    NMS: “ông cứ đọc kỹ nội dung phải báo cáo ở điều 16 của Luật BVMT và so sánh với báo cáo trước Quốc hội xem nó có đáp ứng nhu cầu của Điều luật này hay không?”

    Điều 16 Luật BVMT nói về nội dung SEA phải làm TRƯỚC KHI PHÊ DUYỆT, cái đó thì dính dáng gì đến báo cáo trước QH? Bộ ông NMS cho là cứ làm đại bất kể luật pháp, bao giờ bị tra vấn thì thành chuyện đã rồi, là OK sao?

  3. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Tưởng ý kiến (tiếp theo 1) của tôi đã dẫn rõ về mâu thuẫn trong điều 17 Luật BVMT. Nếu chữ “dự án” ở điều 17 đều là “quy hoạch” như PQT nói thì Thủ tướng phải phê duyệt “quy hoạch” lần 1, sau đó khi có thẩm định báo cáo thì phê duyệt “quy hoạch” lần 2?
    Vấn đề Luật là trọng dẫn chứng chứ không thể cứ “kết luận” “Như tôi đã nói, không có nhầm gì cả. Rất dễ hiểu, rõ ràng, và phù hợp…”.
    Vì sao tôi nói Luật BVMT khó áp dụng cho Tân Rai? Vì ông Vũ đều dẫn Luật BVMT 2005 Mục 1 (SEA ) để khởi kiện. Nếu lấy luật 1993 để nói phải có EIA, thì hãy xin trở lại Điều 22, Mục 2 (EIA): “Các dự án quy định tại Điều 18 của Luật này chỉ được phê duyệt, cấp phép đầu tư, xây dựng, khai thác sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt”? Thủ tướng đã phê duyệt dự án Tân Rai từ năm 2000 – 2005 (áp dụng LBVMT 1993), chuyện nó có EIA hay không, không liên quan đến đơn kiện của ông Vũ.
    Ông PQT thừa nhận “Không! Dự án Nhân Cơ phải có EIA! Còn Quy hoạch 2007 thì mới phải có SEA!” là ông đã công nhận rằng không nên “gộp” các dự án vào với nhau. Chữ “chiến lược” nghe thì to thật nhưng ông cứ đọc kỹ nội dung phải báo cáo ở điều 16 của Luật BVMT (tôi đã dẫn trong bài) và so sánh với báo cáo trước Quốc hội xem nó có đáp ứng nhu cầu của Điều luật này hay không?
    Còn chuyện tôi nói ông Vũ khởi kiện trên những căn cứ đó là thiếu thuyết phục, ông thì cho rằng “hoàn toàn đúng” thì chắc không cần phải bàn nữa.
    Luật nào ban ra cũng bất di bất dịch (đúng hết) thì không phải sửa nữa.

  4. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Thưa ông Nguyễn Hữu Vinh,
    Chắc ông không đọc Quyết định của Tòa án Nhân dân Hà Nội, họ đã không thụ lý đơn kiện và trả lời rõ ràng trong quyết định này vì sao họ không thụ lý. Thậm chí họ còn kết luận rằng “Quyết định này là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng” sau khi họ khẳng định: “Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxit giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025, được ban hành hoàn toàn đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Luật tổ chức Chính phủ, Luật bảo vệ môi trường, Luật khoáng sản, Luật quốc phòng, Luật di sản văn hóa, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Quy chế làm việc của Chính phủ và các văn bản pháp luật khác có liên quan”.
    Vậy thì còn bàn luận chuyện thụ lý làm gì nữa. Hơn nữa, ông tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ là người quyết định chọn đối tượng là Tòa án Hà Nội để giải quyết đơn khởi kiện của mình chứ không phải ai khác.
    Vấn đề ở đây là ông Vũ kiện có đúng không? Nếu đúng thì hầu hết các Quyết định quy hoạch của Thủ tướng (tôi đã dẫn nguồn ở bài viết) đều đáng khởi kiện cả, không riêng gì vấn đề bauxite.
    Luật Môi trường có 6 “đối tượng” phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược. Nếu cứ so nó với những Quyết định quy hoạch của Thủ tướng thì mọi người quá “ưu ái” với quy hoạch bauxite trong khi bỏ lọt biết bao nhiêu “tội phạm” khác mà vốn đầu tư cũng không ít hơn là bao như: Thép, Điện, Dầu khí, Viễn thông…

  5. Phạm Quang Tuấn viết:

    (tiếp 2)

    Cũng xin nhấn mạnh rằng Luật Môi trường VN không phải từ trên trời rơi xuống hay do các đỉnh cao trí tuệ lô can tự nghĩ ra, mà dựa vào luật của các nước đi trước, nhất là Âu châu. Những điều tôi nói và diễn giải về LMT VN là kiến thức thông thường về môi trường, xin xem những tài liệu tiếng Anh tôi đã dẫn trong bài trước, hay ở đây:

    Luật Âu châu: (http://ec.europa.eu/environment/eia/sea-legalcontext.htm): “The purpose of the SEA-Directive is to ensure that environmental consequences of certain plans and programmes are identified and assessed during their preparation and BEFORE THEIR ADOPTION”.

    Liên Hợp Quốc, UNECE Protocol on Strategic Environmental Assessment (http://www.unece.org/env/eia/documents/legaltexts/protocolenglish.pdf), Article 11: 1. Each Party shall ensure that when a plan or programme is adopted due account is taken of:
    (a) The conclusions of the environmental report [trong Công ước này, “environmental report” tức là SEA)]; […]

  6. Phạm Quang Tuấn viết:

    (tiếp)
    NMS: “Chính vì điều này mà tôi nói Luật môi trường đã có những nhầm lẫn về ‘đối tượng’ và mâu thuẫn với chính điều 121 của luật này.”

    Như tôi đã nói, không có nhầm gì cả. Rất dễ hiểu, rõ ràng, và phù hợp với luật lệ, thủ tục quốc tế.

    NMS: “Có khi nào Thủ tướng chưa ra quyết định phê duyệt quy hoạch (với tổng thể các dự án) mà Bộ Tài nguyên và Môi trường đã lập báo cáo, báo cáo, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược?”

    Có chứ! Luôn luôn phải vậy! Quy trình là: a. CP tự làm hay thuê làm quy hoạch, b. Bộ TNMT dựa theo quy hoạch đó để làm hay thuê làm SEA, c. CP dựa vào SEA và các yếu tố khác để quyết định có phê duyệt quy hoạch hay không. Đằng này CP đã “lờ” luôn giai đoạn b!

    NMS: “Dự án Tân Rai được chấp thuận đầu tư năm 2000, báo cáo khả thi được Thủ tướng thông qua tháng 6/2005. Trong khi Luật Bảo vệ Môi trường được thông qua tháng 11/2005. Khi kiện, Luật BVMT khó có thể áp dụng cho Tân Rai”.

    Trước LMT 2005 thì đã có LMT 1993, đòi hỏi dự án Tân Rai phải có EIA!

    NMS: “Quyết định Quy hoạch của Thủ tướng có từ 11/2007 nên dự án Nhân Cơ phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược [SEA]”

    Không! Dự án Nhân Cơ phải có EIA! Còn Quy hoạch 2007 thì mới phải có SEA!

    NMS: “Kiện Thủ tướng về Quyết định Phê duyệt quy hoạch và cho rằng phải dựa trên các luật như ông Vũ đã nêu là thiếu thuyết phục”.

    Hy vọng ông NMS đã phân biệt SEA và EIA, quy hoạch và dự án rõ ràng hơn, và thấy rằng ông Vũ kiện hoàn toàn đúng.

  7. Phạm Quang Tuấn viết:

    Ông NMS viết: “Điều 17 lại quy định như sau: “Bộ TNMT tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt” (tức các dự án phải được phê duyệt trước). Nhưng điều 17 lại viết: “Kết quả thẩm định báo cáo môi trường chiến lược là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án” [vậy “dự án” này nên hiểu là dự án đầu tư, chứ không thể là “dự án” = “quy hoạch” (tổng thể các dự án lớn nhỏ)?].

    Thưa không, như tôi đã nói (http://www.talawas.org/?p=6696&cpage=1#comment-3130): Điều 17 nằm trong “MỤC 1: ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC”, mà trong suốt mục đó, chữ “dự án” dùng thay cho “quy hoạch”. Xin cứ nhớ là Báo cáo môi trường chiến lược (SEA) luôn luôn đi với quy hoạch, thì điều 17 sẽ rất dễ hiểu: Bộ TNMT tổ chức làm SEA cho quy hoạch, và QH hay CP căn cứ 1 phần vào SEA khi phê duyệt quy hoạch.

    NMS: “Tại sao không thể nói rõ như Điều 22, Mục 2 (Đánh giá tác động môi trường): ‘Các dự án quy định tại Điều 18 của Luật này chỉ được phê duyệt, cấp phép đầu tư, xây dựng, khai thác sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt”?

    Vì Mục 2 tựa đề là “ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG” (EIA). Mục này nói về Dự án (projects) và EIA, không nói về Quy hoạch và EIS. Điều 17 Mục 1 nói “Quy hoạch phải có SEA”, Điều 22 Mục 2 nói “Dự án phải có EIA”, hai chuyện khác nhau, như tôi đã giải thích.

  8. Nguyễn Hữu Vinh viết:

    Thật đáng quý công phu nghiên cứu, phân tích của hai bác Sơn, Tuấn. Có điều, các bác đang bị lạc đề. Vấn đề trước hết ở đây là Tòa có (phải/được) thụ lý hay không, lý do. Tòa nào thụ lý. Không thụ lý thì sẽ phải trả lời ra sao cho đúng chức phận của mình mà luật quy định. Vấn đề pháp lý và chính trị đan xen, ít nhiều mất đi tính khách quan, không thể phân tích đơn giản được.

    Sau đó mới đến việc nếu thụ lý thì sẽ thế nào… Các bác đang bàn đến màn 2. Nhưng quả tình nếu muốn bàn tới màn này thì những lý lẽ của các bác vẫn còn rất sơ sài, chỉ có thể coi như những gợi ý thôi, còn nếu khẳng định thì hơi giống… thầy bói xem voi.

  9. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Tôi xin thưa thêm,
    Dự án Tân Rai được chấp thuận đầu tư năm 2000, báo cáo khả thi được Thủ tướng thông qua tháng 6/2005. Trong khi Luật Bảo vệ Môi trường được thông qua tháng 11/2005. Quyết định Quy hoạch của Thủ tướng có từ 11/2007 nên dự án Nhân Cơ phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược. Vì đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược là Quyết định phê duyệt Quy hoạch của Thủ tướng. Xin lưu ý một lần nữa “lập báo cáo” là một quá trình.
    Với dự án Tân Rai, Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường đã phải trực tiếp tiến hành khảo sát thực địa môi trường. Và Bộ trưởng đã trực tiếp cam kết đảm bảo về vấn đế môi trường trong Báo cáo trước Quốc hội, và cũng đã đề nghị Quốc hội giám sát. Mới đây ông Nguyễn Phú Trọng có nói: “”Theo tinh thần của Bộ Chính trị, sẽ tiến hành rà soát toàn bộ khía cạnh từ hiệu quả kinh tế đến tác động môi trường của dự án khai thác bô-xít, sản xuất alumin Nhân Cơ (Đăk Nông) theo tinh thần, nếu thấy thuận mới làm”.
    Báo cáo của Chính phủ cũng đã nêu rõ: “Dự án Tân Rai đã được phê duyệt và đang triển khai thực hiện. Đối với dự án Nhân Cơ chỉ triển khai thực hiện sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt và kết quả tính toán, kiểm tra lại hiệu quả kinh tế cho thấy dự án có hiệu quả”.
    Khi kiện, Luật BVMT khó có thể áp dụng cho Tân Rai, chưa thể áp dụng cho Nhân Cơ. Còn kiện Thủ tướng về Quyết định Phê duyệt quy hoạch và cho rằng phải dựa trên các luật như ông Vũ đã nêu là thiếu thuyết phục.

  10. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Thưa ông PQT,
    Tôi đã liệt kê trong Quyết định phê duyệt Quy hoạch có 4 điều, 7 Phụ lục với phần lớn những quy hoạch. Vậy thì quyết định phê duyệt Quy hoạch trên bao gồm tổng thể các dự án có phạm vi lớn nhỏ khác nhau (có dự án khi triển khai phải trình Quốc hội và có cái không). Tôi đã lấy ví dụ về Quyết định phê duyệt quy hoạch của ngành thép Việt Nam để so sánh với quyết định phê duyệt Quy hoạch về khai thác bauxite. Thiết nghĩ, không cần phải nhắc lại đó là một Quyết định phê duyệt Quy hoạch mang tính tổng thể, chiến lược và có kế hoạch đối với các dự án.
    Trong bài, tôi đã dẫn rất rõ báo cáo của Chính phủ: “Quy hoạch bô-xít cũng như nhiều quy hoạch khác (…) không phải là dự án đầu tư, vì vậy không chịu sự điều chỉnh của Nghị quyết 66”. (Tân Rai là dự án đầu tư vì nó đang đựơc triển khai thực hiện).

  11. Nguyễn Mai Sơn viết:

    (tiếp theo 1)
    Trong Mục 1, Luật Bảo vệ Môi trường hiểu “dự án” bằng “quy hoạch” nên viết: “Cơ quan được giao nhiệm vụ lập dự án quy định tại Điều 14 của Luật này có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược”.
    Tôi có sự nhầm lẫn khi viết “phê duyệt quy hoạch” và “phê duyệt dự án” nhẽ ra phải viết là “phê duyệt dự án đầu tư” như trong bài tôi đã thống nhất hiểu (nhân đây xin BBT Talawas sửa giùm). Thế nên tôi mới viết: “Đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược là hoàn toàn phù hợp dành cho Quyết định 167 của Thủ tướng… Tuy nhiên, tôi cho rằng lập báo cáo [thuộc quá trình thực hiện] khác với báo cáo [ấn định cụ thể thời điểm, và phải báo cáo với ai (Thủ tướng, Bộ trưởng hay Quốc hội)?].
    Nhưng Điều 17 (Thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược) lại quy định như sau: “Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt” (tức các dự án phải được phê duyệt trước). Nhưng điều 17 lại viết: “Kết quả thẩm định báo cáo môi trường chiến lược là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án” [vậy “dự án” này nên hiểu là dự án đầu tư, chứ không thể là “dự án” = “quy hoạch” (tổng thể các dự án lớn nhỏ)?].

  12. Nguyễn Mai Sơn viết:

    (tiếp theo 2)
    Tại sao không thể nói rõ như Điều 22, Mục 2 (Đánh giá tác động môi trường): “Các dự án quy định tại Điều 18 của Luật này chỉ được phê duyệt, cấp phép đầu tư, xây dựng, khai thác sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt”?.
    Chính vì điều này mà tôi nói Luật môi trường đã có những nhầm lẫn về “đối tượng” và mâu thuẫn với chính điều 121 của luật này. Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường với nhiệm vụ: “Quản lý thống nhất hoạt động thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá môi trường chiến lược,…; tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc thẩm quyền; hướng dẫn việc đăng ký cơ sở, sản phẩm thân thiện với môi trường và cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường…”.
    Có khi nào Thủ tướng chưa ra quyết định phê duyệt quy hoạch (với tổng thể các dự án) mà Bộ Tài nguyên và Môi trường đã lập báo cáo, báo cáo, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược?
    Xin cảm ơn phản biện của ông PQT!

  13. Phạm Quang Tuấn viết:

    (tiếp)

    2. NMS viết: “Điều 17, Khoản 6, Mục 1 […] quy định: “Kết quả thẩm định báo cáo môi trường chiến lược là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án”. […] Cụm từ ‘phê duyệt dự án'” phần nào đã bị hiểu lấn sang cụm từ “phê duyệt quy hoạch”.

    Chính NMS hiểu sai. Điều 17 ở trong Mục 1, do đó “phê duyệt dự án” PHẢI ĐƯỢC HIỂU là “phê duyệt quy hoạch” chứ không phải là bị hiểu lấn.

    v.v.

    Xin trả lời câu kết của ông NM Sơn: Có vẻ ông đã phân biệt được “Đánh giá tác động môi trường” và “‘Đánh giá môi trường chiến lược”. Nhưng vì hiểu sai chữ “dự án” trong Mục I (Điều 14 tới 17) của LMT nên ông vẫn lạc đề như cũ. Và: Ông Cù Huy Hà Vũ kiện đúng!

    Ghi chú thêm: bài của NM Sơn khá dài nhưng thực ra chỉ xoay quanh điểm này, còn thì toàn là lằng nhằng, ngoài đề, trích dẫn không cần thiết. Vì vậy không cần trả lời dài dòng.

  14. Phùng Tường Vân viết:

    Đại ngôn, vô bổ!

    “Đơn khởi kiện của ông TS luật CHHV được ví von như một Xô Viết Nghệ Tĩnh của thời nay…”

    Thiển nghĩ những phát biểu đại ngôn vô tội vạ như trên thật không đáng có ở một hệ thống mạng đang cố gắng bằng những phương tiện nghiêm chỉnh, thẩm quyền, nhằm tạo dư luận, góp những viên gạch đầu tiên để xây dựng một xã hội dân sự.

    Rất mong được các ông NHC, PT… lưu tâm hơn cho.

  15. Phạm Quang Tuấn viết:

    Chỉ vì hiểu sai một chữ, ông NM Sơn đã tốn công viết một bài rất dài nhưng trật đích. Suốt bài này, ông Nguyễn Mai Sơn hiểu lầm chữ “dự án” dùng trong Mục 1 của Luật Môi Trường 2005. Như tôi đã giải thích cặn kẽ cách đây mấy hôm (http://www.talawas.org/?p=6696&cpage=1#comment-3130), chữ “dự án” TRONG MỤC 1 này CÓ NGHĨA LÀ QUY HOẠCH chứ không phải dự án đầu tư! Mục 1 dùng chữ “dự án” như chữ tắt để thay cho cụm từ “Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch” hơi quá dài dòng.

    Hiểu điều này rồi, thì thấy ngay là hầu hết những gì ông NM Sơn viết là sai hay lạc đề. Chẳng hạn,

    1. NMS viết: “[Điều 17 Khoản 7] quy định như sau: ‘a) Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt’. Có thể thấy, với điều khoản này, việc lập báo cáo, báo cáo, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược đối với các dự án chỉ được thành lập sau khi Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch.”

    Sai! Chữ “dự án” mà ông NMS tưởng là “dự án được thành lập sau khi phê duyệt quy hoạch”, thực ra là chữ tắt để thay cho chữ “quy hoạch” (vì Điều 17 này vẫn nằm trong Mục 1, nói về Quy hoạch).

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>