talawas blog

Chuyên mục:

Tìm hiểu ý nghĩa tấm bản đồ chín gạch (chữ U) của Trung Quốc qua một vài kinh nghiệm lịch sử (3)

01/06/2009 | 10:02 sáng | 61 Comments

Tác giả: Trương Nhân Tuấn

Category: Lịch sử, Quan hệ Việt – Trung, Vấn đề Biển Đông
Thẻ:

8. Ý nghĩa của bản đồ 9 gạch 

Tấm bản đồ này xuất hiện không biết chính xác từ khi nào (có nhiều nguồn nói khác nhau : xuất hiện năm 1914, 1920, 1930 ; thậm chí có nguồn nói xuất hiện từ thế kỷ 19 !)  nhưng chắc chắn cũng là một thủ thuật cổ điển của TQ như dàn dựng các tên giả, hay hoán đổi tên các làng v.v… để chiếm đất của VN. TQ dựng ra tên Tiểu Đổ Chú Hà để lấy đất Tụ Long, dựng ngọn Tiểu Phân Mao Lãnh cướp đất Kiến Duyên và Bát Tràng, hoán đổi tên làng xã để chiếm đất Đèo Lương, vẽ bản đồ để chiếm thác Bản Giốc, xây đường rày xe lửa để chiếm đất Nam Quan… Chắc chắn tấm bản đồ chín gạch này dựng lên cũng để chiếm biển và đảo của VN, nó thay đổi nội dung tùy theo khả năng và tham vọng bành trướng của TQ.

Bản đồ chín gạch, có «móc và » quần đảo Sulu (giữa Mã Lai và Phi) và đảo Natuna của Nam Dương

Bản đồ chín gạch, có «móc và » quần đảo Sulu (giữa Mã Lai và Phi) và đảo Natuna của Nam Dương

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nghiên cứu bản đồ 2 ( trích từ cuốn La Chine, Une Puissance Encerclé?, xem mục tham khảo)  tức bản đồ xác định lãnh thổ và ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc trước năm 1840. Ta thấy có 21 vùng đất trước 1840 thuộc Trung Hoa hay thần phục Trung Hoa (ghi theo A, B, C…), đó là :

 

Bản đồ 2, minh họa các vùng đất của TQ đã bị «mất» trước 1840
Bản đồ 2, minh họa các vùng đất của TQ đã bị «mất» trước 1840

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

A: đảo Sakhaline, nhường cho Nga và Nhật. B : Vùng đất Đông Bắc, phía Đông Hắc Long Giang (Amour), nhượng cho Nga theo hiệp ước Bắc-Kinh năm 1860. C : Vùng đất Đông Bắc, phía Tây Hắc Long Giang, nhượng cho Nga năm 1858 theo hiệp ước Aigun. D : Mông Cổ, tuyên bố độc lập năm 1924. E : Cộng Hòa Touva, tuyên bố độc lập năm 1921, sau đó sát nhập vào Liên Xô năm 1944. F : Vùng đất Tây Bắc, nhượng cho Nga qua hiệp ước Tacheng 1864. G : Pamir, bị Nga và Anh bí mật lấy chia với nhau năm 1896. H : Népal, độc lập năm 1898, sau đó trở thành thuộc địa Anh. J : Sikkim, Anh chiếm năm 1889. K : Bhoutan, độc lập năm 1865, sau đó trở thành thuộc địa Anh. L : Vùng biên giới Tây Bắc, bị Anh chiếm. M : Assam, Miến Điện nhượng cho Anh năm 1826. N : Miến Điện, thuộc địa Anh năm 1886. O : Đảo Andaman, thuộc địa Anh P : Thái-Lan, độc lập nhưng dưới sự kiểm soát của Anh và Pháp năm 1904. Q : Đông Dương, thuộc địa Pháp năm 1885. R : Mã Lai (phần lục địa), thuộc địa Anh năm 1985. S : Quần đảo Sulu, thuộc địa Anh năm 1895. T : Đài Loan, nhượng cho Nhật qua hiệp ước Simonoseki năm 1895. U : Quần đảo Điếu Ngư, Nhật chiếm năm 1910. V : Triều Tiên, độc lập năm 1895, trở thành thuộc-địa Nhật năm 1910.

Hai bản đồ này biểu lộ tham vọng của TQ bắt đâu từ thập niên 50. Bản đồ 2 được chính thức đưa vào học trình của chương trình trung học của bộ giáo dục Trung Quốc từ năm 1950 trong khi bản đồ chữ U thì không.

Về ý nghĩa của bản đồ chữ U, chắc chắn vào thời đó chỉ nhằm xác định các đảo trong khu vực chữ U thì thuộc về TQ. Bởi vì quan niệm về chủ quyền vùng biển chỉ mới có sau thế chiến thứ hai, qua các công ước về Biển 1958 và 1982. Trước đó thế giới chỉ có quan niệm về “lãnh hải” 3 hải lý, là tầm đạn đại bác.

Khái niệm về biển lịch sử cũng khá mới, nhưng sau đó không được thế giới chấp nhận, do đó ý nghĩa biển lịch sử chữ U của TQ không thuyết phục cộng đồng thế giới.

Tham vọng về chủ quyền trên biển của TQ bắt đầu khi nào cũng không chính xác, nhưng chắc chắn chỉ mới biểu lộ sau này. Nhiều tài liệu trên thế giới đều xác nhận rằng dân tộc Hán là một dân tộc “quay lưng ra biển, hướng vô lục địa”. Để ý bản đồ 2, vào các thập niên 40-50, TQ xem  Đài Loan là vùng đã bị mất. Đảo này, chỉ sát nhập vào TQ chậm trễ dưới thời nhà Thanh, do đề đốc Thi Lang. Cho rằng TQ có chủ quyền tại HS&TS, sau đó có chủ quyền vùng biển trên bản đồ 9 gạch, thì không có gì phi lý hơn.

Ở miền Nam VN ít ai nghe nói bản đồ 9 gạch. Năm 1974, sau khi chiếm HS, cũng không nghe nói đến bản đồ chữ U. Tuy nhiên, theo tài liệu của GS Tạ Quốc Tuấn, «Vài nhận xét về lập luận của hai chính phủ Bắc Kinh và Đài Loan» viết: năm 1974, « lần đầu tiên Trung-Cộng đã công-khai bộc-lộ rõ nguyên-nhân thầm-kín thúc-đẩy việc tranh-chấp chủ-quyền trên hai quần-đảo Hoàng-sa và Trường-sa: đó là nguồn tài-nguyên thiên-nhiên ở vùng này. Thực vậy, bản tuyên-bố ngày 11.1.1974 có câu: Các tài-nguyên thiên-nhiên trong các vùng biển quanh các quần-đảo này cũng thuộc về Trung-quốc. ». Cũng từ tài liệu này, ngày 4.2.1974, Bộ Ngoại-giao Trung-Cộng lại ra một bản tuyên-bố « Chính-phủ Trung-hoa đã nhiều lần tuyên-bố là các quần-đảo Nam-sa, Tây-sa, Trung-sa và Đông-sa tất cả đều là phần lãnh-thổ của Trung-quốc và nước Cộng-hòa Nhân-dân Trung-hoa có chủ-quyền bất-khả tranh-nghị đối với các quần-đảo này và các hải-khu chung quanh các quần-đảo đó. ». Tài liệu đề cập đến từ ngữ « hải khu », tức khu vực biển, nhưng không hề đề cập bản đồ chữ U.

Tập san Sử Địa 29, Đặc khảo về HS và TS, xuất bản tháng 1 năm 1975, không có dòng nào nói đến bản đồ chữ U. Tập tài liệu La Souveraineté sur les Archipels Paracels và Spratleys của bà Monique Chemillier-Gendreau in năm 1996 cũng không có dòng nào nói đến tấm bản đồ này, ngoài hai bản đồ đính kèm như là bằng chứng của TQ đòi hỏi vùng biển.

Theo tài liệu của ông Cao Xuân Thự, Chuyên viên Vụ Biển, Ban Biên giới của Chính phủ, công bố nhân dịp hội thảo Biển Đông hồi tháng 3 năm 2009, có ghi chép : Ngày 30 tháng 7 năm 1977 : « Tám ngày sau khi ông Đặng Tiểu Bình chính thức khôi phục lại địa vị, trong một tuyên bố chính sách đối ngoại của TQ, ngoại trưởng Hoàng Hoa nói : lãnh thổ của TQ chạy xa mãi về phía nam, tận bãi Tăng Mẫu gần Bornéo của Mã Lai…, các người có thể thăm dò chúng nếu các người muốn, nhưng khi thời cơ đến, chúng tôi sẽ thu hồi chúng hoàn toàn, không cần phải thuơng lượng gì hết vì các quần đảo đó có nguồn gốc thuộc về Trung Quốc… ».  Đoạn này cũng không nói đến biển chữ U mà nói các quần đảo đó có nguồn gốc thuộc về Trung Quốc…

Trên báo chí, sách vở và tài liệu nước ngoài, bắt đầu đề cập đến tranh chấp biển Biển Đông từ thập niên 80. Nguyên nhân vào năm 1980, công ty Pertamina của Nam Dương khám phá mỏ dầu ở vùng đảo Natuna, bản đồ chữ U tái xuất hiện bao gồm thêm đảo Natuna. Việc này phía Nam Dương phản đối mạnh, báo chí có nhắc nhở. Ý nghĩa của bản đồ chữ U cũng chỉ giới hạn về chủ quyền các đảo thuộc TQ.

Về văn kiện chính thức, tác giả viết bài chưa đọc hay thấy tài liệu nào từ phía TQ chính thức dẫn tấm bản đồ chữ U, ngoại trừ công hàm ngày 7 và 8 tháng năm 2009 vừa qua để phản đối hai hồ sơ của VN mà Mã Lai (nộp chung).

Như thế, tạm kết luận rằng, bản đồ chữ U từ 1982 trở về trước có ý nghĩa : TQ có chủ quyền các đảo trong khu vực đó (đồng thời giả thuyết về vùng nước lịch sử của TQ).

Từ 1982 trở đi thì bản đồ chữ U có ý nghĩa : khẳng định khu vực biển của TQ.  Điều này có thể hiểu vì năm 1982 Luật Quốc tế về Biển ra đời, theo đó, các đảo cũng có hiệu lực như trên đất liền về lãnh hải, vùng kinh tế độc quyền, thềm lục địa. TQ đã thông qua công ước này năm 1996. Do đó quan niệm chủ quyền về biển chữ U của TQ, sau 1982,  do hiệu lực của HS và TS (vì TQ có chủ quyền ở HS và TS theo công hàm của ông Phạm Văn Đồng). Diện tích khu vực biển này co giãn tùy theo nhu cầu và đối tượng.

Giả thuyết về biển lịch sử của TQ khó đứng vững vì công ước về Biển 1982 không có khoản nào định nghĩa về biển lịch sử.

Nhưng TQ là bậc thầy về chiến lược; họ luôn úp úp, mở mở về ý nghĩa của bản đồ này, làm nhiều người không biết TQ muốn gì .

Sau khi  TQ sát nhập đảo Natuna vào bản đồ chữ U, Nam Dương phản đối mạnh mẽ, đồng thời vũ trang mạnh. Đây là nước dông dân nhất khu vực Đông Nam Á và có quân lực mạnh nhất. Từ năm 2000 trở lại đây thì bản đồ chữ U loại trừ đảo Natuna, có nghĩa là TQ đã nhượng bộ. Thí dụ khác, bản đồ chữ U từ năm 1950 thì có thêm quần đảo Sulu, nhưng những năm sau này thì bản đồ này không bao gồm quần đảo này nữa.

Như thế, biển chữ U của TQ có thể rất lớn nếu các nước chung quanh lo sợ. Nhưng sẽ rất nhỏ, hay không có gì, nếu các nước chung quanh không nhượng bộ.

TQ đã ký và thông qua Luật Quốc tế về Biển 1982, bản đồ chữ U hôm nay chỉ là minh họa, thay đổi tùy theo tương quan lực lượng, nhưng chắc chắn ý nghĩa của bản đồ chữ U sẽ được TQ giải thích theo luật Biển 1982 cho dư luận quốc tế lúc cần thiết.

7. Kết luận 

Ta thấy từ  Tiểu Đổ Chú Hà, Tiểu Phân Mao Lãnh, đền thờ Phục Ba, đất Đèo Lương, núi Khấu Mai, đất Nam Quan, điểm nối ray, thác Bản Giốc (sau này có thêm vụ chuối xanh, vì chỉ có người Hoa trồng chuối trên biên giới), người Hoa thì đất của người Hoa, nghĩa trang người Hoa thì đất của người Hoa v.v… cho đến  Thất Châu Dương, Cửu Nhũ Loa Châu, Thạnh Ðường, Thiên Lý Thạnh Ðường, Vạn Lý Thạnh Ðường, Trường Sa, Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Trường Sa, bản đồ chín gạch… đều do phía TQ đặt ra để chiếm đất, chiếm đảo, chiếm biển của VN. Tất cả rõ ràng chỉ là những bịa đặt lếu láo, rất sơ đẳng, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia, chỉ gạt được những người không biết. Đều trớ trêu là cái luận điệu sơ đẳng bịa đặt lặp đi lặp lại này đã giành được đất của dân tộc Việt Nam không biết bao nhiêu lần. Và có thể nó vẫn tiếp tục lường gạt được người Việt Nam.

Phải chăng dân tộc ta có vấn đề ?

Đến hôm nay vẫn còn học giả VN, có người vẫn ảnh hưởng hỏa mù của TQ qua các ý nghĩa của biển chữ U. Có người vẫn không dám đối diện với ý nghĩa của công hàm ông Phạm Văn Đồng, kể cả không muốn biết TQ đã có các âm mưu gì và sẽ có các âm mưu gì ?…

Khi hiểu cặn kẽ, ta có thể có các biện pháp thích ứng : Muốn đối phó với « biển lịch sử » của TQ, VN phải khẳng định chủ quyền HS và TS, khẳng định các đảo này có hiệu lực về hải phận ZEE và thềm lục địa theo định nghĩa của Luật Biển 1982. Bản đồ lịch sử chín gạch chữ U của TQ sẽ bị hiệu lực HS và TS hóa giải không còn cái gạch nào. Xem trường hợp đảo Natuna của Nam Dương thì rõ rệt. Nhưng muốn vậy, trước tiên VN phải mạnh và phải vô hiệu hóa công hàm của ông Phạm Văn Đồng. Trường hợp TQ trả đất Tụ Long cho VN năm 1724 cũng vậy, là do VN mạnh chứ không hề do hoàng đế anh minh nào cả. Nếu VN thời đó « yếu » (như hôm nay), chắc chắn Tụ Long đã mất trước khi Pháp vào VN.

Phương pháp để hóa giải bản đồ chín gạch, nếu TQ dưạ theo Luật Biển 1982 (giả thuyết này hầu như là 99%), phía VN cũng phải khẳng định chủ quyền các đảo HS&TS đồng thời đòi hỏi hải phận và thềm lục địa của các đảo theo Luật Biển 1982. Và muốn làm như thế cũng phải vô hiệu hóa trước tiên công hàm ông Phạm Văn Đồng.

Chính sách giữ nước của Đảng CSVN hiện nay có khuynh hướng hủy bỏ hiệu lực của các đảo HS và TS, tức tự hủy hoại thân thể, tự đốt nhà của mình. VN quá « yếu », không thể bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ VN, mặt khác, công hàm ông Phạm Văn Đồng đã tuyên bố HS&TS là của TQ, đòi lại sao được ? Do đó nhà nước CSVN nhất định để mất HS&TS chứ không tìm cách hóa giải công hàm này thông qua một quá trình dân chủ hóa và hòa giải dân tộc.

Dân tộc VN đổ máu làm gì để giữ những cục đá không giá trị đó nữa ?

Hồ sơ công bố của VN về thềm lục địa vừa qua đã cho thấy rõ rệt chính sách của nhà nước. Có thể có những « options » khác, có lợi cho VN, nhưng chưa chắc đảng CSVN sẽ chọn. Rất có thể quần đảo HS và TS sẽ không có hiệu lực, giá trị gì hết ! Đây là một quyết định nhất thời cứu nguy cho Đảng CSVN nhưng rất nguy hiểm, vì nó có ảnh hưởng không thể đảo ngược, làm mất vĩnh viễn quyền lợi của dân tộc VN tại HS và TS.

Vào các năm 1860 thời Tự Đức, lúc Pháp đã đặt chân ở Nam Kỳ và lăm le ra Bắc Kỳ, tình cảnh người dân Bắc Kỳ hết sức dửng dưng. Lúc quân Pháp chiếm thành Hà Nội thì dân chúng đổ ra coi, như là trò vui. Triều đình đối xử với dân như tôi mọi, như kẻ thù địch thì người dân xem việc Pháp chiếm đất là việc của nhà vua. Việt Nam thời nay không khác Việt Nam thời Tự Đức. Đất nước gặp lúc mạt vận thì dân tình nó như thế.

Chợt nghĩ đến bài “Bauxite Tây Nguyên, phép thử phản xạ tự vệ của quốc gia Việt” của tác giả La Thành mới đăng gần đây. Bài viết thật là hay, thâm thúy. Không biết bô-xít thử trí thức VN sẽ phản xạ thế nào, nhưng về HS&TS và Biển Đông thì mọi việc đã được nhà nước an bài, không cần phép thử nữa. Đây là hiện tượng báo trước rã đàn của dân tộc Việt!

Hay là Trọng Thủy đang giữ nội chính trong cung đình ? Ở điểm này cũng đáng để mất thì giờ nghiên cứu. Sẽ trở lại hồ sơ Trọng Thủy trong bài tới.

Nhưng nhìn lại như thế cho thấy giải pháp duy nhất để giữ nước hiện nay là « dân chủ hóa » đất nước. Đảng CSVN không thể vì quyền lợi của một nhóm người mà hy sinh quyền lợi lớn lao của cả dân tộc.

Tham khảo 

Tài liệu internet

Tạ Quốc Tuấn, Vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: Vài nhận xét về lập luận của hai chính phủ Bắc Kinh và Đài Loan

Phạm Hoàng Quân, Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc, talawas, 11-12-2007

Nguyễn Quang Ngọc, Địa danh Trung Quốc các quần đảo giữa Biển Đông, Lịch sử một thế kỷ chuyển đổi, www.hoangsa.org

Cao Xuân Thự, Điểm lại những sự kiện chính trong cuộc tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và mấy nhận xét về cách gây xung đột về biển giữa Trung Quốc và Việt Nam, www.hoangsa.org

Tài liệu đóng tập 

Tập san Sử Địa số 29, Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa, Văn Nghệ Khai Trí, từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1975

Chemillier-Gendreau, Monique. La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys. Harmattan, 1996

Fourniau, Charles. Vietnam Domination coloniale et résistance nationale 1858-1914. Les Indes Savantes, 2002

Brisset, Vincent. La Chine, Une Puissance Encerclé ?, IRIS, 2002

Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay của NXB Sự Thật, năm 1979

Tài liệu thuộc văn khố CAOM, Pháp 

Deloustal. Les Mines de Tu-Long. AOM. Cote B 2899 ou B 6326.

Dévéria, La Frontière Sino-Annamite. Descriptions Géographique et Ethnographique. AOM, cote D 1198

Famin, Au Tonkin et sur la frontière du Quang-Si. SOM, cote C 43.

Dr Néïs , Sur Les Frontières Du Tonkin – Le Tour Du Monde, năm 1887. CAOM. BIB, SOM, Cote 20.543.

Les Frontières du VietNam. Histoire des Frontières de la péninsule Indochinoise. Paris, l’ Harmattan. 1989. AOM. Cote 42934.

Ministère des Affaires Etrangères de la RSVN 1981. Les Archipels Hoang-Sa et Truong-Sa.

Hồ sơ Phân định Biên giới 1886-1894 : Cartons : 65353, 65354, 65355, 65356, 65357, 65358, 65359, 65360. Indo, GGI.

Tài liệu Văn khố Bộ Ngoại giao Pháp 

Hồ sơ « Công ước Pháp-Thanh 1887 ».

© 2009 Trương Nhân Tuấn

© 2009 talawas blog

Bình luận

61 Comments (bài “Tìm hiểu ý nghĩa tấm bản đồ chín gạch (chữ U) của Trung Quốc qua một vài kinh nghiệm lịch sử (3)”)

  1. Dương Danh Huy viết:

    Đây là bài của anh Hoàng Việt, 1 thành viên QNCBĐ, trên BBC:

    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2009/05/090515_china_sea_dispute.shtml

    (Không nhất thiết bài đó là quan điểm của QNCBĐ hay của tôi)

    Ngoài ra, chị Trang Hạ, cũng QNCBĐ, cho biết năm 1914 1 ông tổ của Hồ Cẩm Đào có xuất bản 1 bản đồ có vẽ đường lưỡi bò.

    Năm 1948 là lần đầu tiên TQ chính thức dùng bản đồ lưỡi bò.

    Tuy nhiên, mọi bản đồ lưỡi bò đều là bố láo, không có cơ sở lịch sử, pháp lý.

    Nhưng sự bố láo đó đó sẽ lại càng cay đắng hơn nếu người Việt chúng ta từ CP tới người dân bạc nhược tới nỗi để cho TQ thực hiện được bản đồ đó hay phần nào của nó.

  2. Nghiêm Quang viết:

    “TQ dành chủ quyền quần đảo Sulu xem trang 19, sách « La Chine, Une Puissance Encerclé ? » của Vincent Brisset, nhà xuất bản IRIS, 2002.”

    Tên ông học giả Jean-Vincent Brisset mà Trương Nhân Tuấn còn viết sót chữ thì trách làm gì cái phát kiến “móc và” theo sau đó.

    Tưởng cũng nên chú thích thêm, Brisset vốn là tướng không quân kiêm tình báo Pháp. Từng theo học Trung văn ở Đài Bắc rồi làm tùy viên quân sự ở Bắc Kinh khoảng trước 1993, cho nên từ khi hồi hưu năm 2001, ông chuyên nghiên cứu các vấn đề Trung Hoa. Brisset chưa từng là tác giả chuyên về biển và luật biển.

    Quyển mà Trương Nhân Tuấn trích dẫn, xuất bản năm 2002, đề cập đến Trung Quốc từ phương diện địa chánh trị.

    Với mục đích của sách và tiểu sử tác giả cũng như lãnh vực nghiên cứu chuyên ngành của ông nầy như đã trình bày, nếu có một vài chi tiết không thật chính xác về tranh chấp và ranh giới biển thì cũng chấp nhận được.

    Tuy nhiên, trích dẫn một cách thành tín Brisset để trả lời Dương Danh Huy những việc ngoài chuyên môn của Brisset chỉ cho thấy sự chủ quan thiếu cẩn trọng của Trương Nhân Tuấn. Tại sao ông không tìm hiểu thêm các nguồn bổ trợ?

  3. Dương Danh Huy viết:

    Bác TN Tuấn,

    Nếu bác biết là quần đảo Sulu nằm giữa biển Sula và Celebes, tức là cực Đông Nam biển Sulu, mà bác còn chú thích bản đồ thứ nhất trong bài của bác:

    Bản đồ chín gạch, có «móc và » quần đảo Sulu (giữa Mã Lai và Phi) và đảo Natuna của Nam Dương

    thì hết chỗ nói. Cái mà bác gọi là cái “móc và” giữa Mã và Phi nó nằm ở cực Tây của biển Sulu, cách quần đảo Sulu cỡ 300 km, như tôi đã nói.

    Nếu cho cái “móc và” đó đơn giản là ranh giới giữa Phi và Mã thì khách quan và hợp lý hơn nhiều.

    Tương tự, 2 cái mà bác gọi là “móc và” cho đảo Natuna của Indo đơn gỉan là ranh giới phía bắc của Indo và ranh giới Indo-Mã.

    Bác muốn cho là TQ có tranh chấp đảo Natuna và quần đảo Sulu thì tuỳ bác, nhưng nếu bác tham khảo rộng hơn thì sẽ thấy đó không phải là sự thật.

  4. Phạm Quang Tuấn viết:

    Mấy cái mà ông TN Tuấn gọi là “móc và” trên bản đồ 1, thực ra, chỉ là những đường chỉ ranh giới giữa Malaysia / Indonesia, Malaysia / Phi và Việt Nam / Indonesia mà thôi! Nhìn kỹ, ông TN Tuấn sẽ thấy tới ba cái “móc” chứ không phải là hai cái. Có nhiều bản đồ 9-gạch của Tàu vẽ rõ hơn.

    Xin đề nghị ông TN Tuấn đăng nguyên văn câu Brisset nói về việc TQ dành chủ quyền Natuna và Sulu để xem ông hiểu có đúng không. Sulu không nằm trong Biển Đông mà cách BĐ chừng 200 hải lý!

  5. Dũng Vũ viết:

    Về đề tài HSTS đang được thảo luận, tôi xin phép góp một vài ý kiến nhỏ, dẫu tôi chỉ là một độc giả bình thường, không chuyên môn về vấn đề đất đai, biên giới.

    1.Ai có lòng với đất nước cũng đều đáng quý.
    2.Nói đến giải quyết vấn đề, nên tâm niệm là làm sao giải quyết vấn đề đó, đặc biệt là vấn đề quan trọng của đất nước mình (chứ chẳng phải vấn đề khác)
    3.Thành thử ráng tạo tình đoàn kết, bất kể ý thức hệ (nếu có thì cũng nên tạm gác qua một bên), xem vấn đề cần giải quyết là trọng, ai có khả năng cụ thể gì thì đóng góp vào. Dĩ nhiên trong tranh luận không tránh khỏi lời qua tiếng lại, vấn đề cảm tính, nhưng cũng nên bình tĩnh, sáng suốt, thực tế, khoan dung, nhẹ nhàng với nhau. Được vậy, tôi nghĩ, mọi người sẽ dễ gặp nhau hơn, cuộc thảo luận sẽ hài hòa hơn, kết quả sẽ tốt hơn. Dĩ nhiên mỗi người có thể giữ quan điểm của mình, và nên giữ, bởi đó chính là những yếu tố nền tảng rõ rệt cho sự quyết định lựa chọn một giải pháp tối ưu sau này.

  6. Trương Nhân Tuấn viết:

    Đây là một bài viết tiêu biểu nên đọc để tìm hiểu về bản đồ chữ U theo « version » của người Hoa : http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai15/200915_PeterYu.htm
    Tôi cũng đồng ý với bác HoangTruongSa là bản đồ chữ U xuất hiện sớm nhất vào khoảng thập nên 40 hay 50, không thể sớm hơn. Bác đọc tài liệu theo link trên sẽ thấy các học giả người Hoa « bơm » nó lên tới thế ký thứ 19 !

  7. Hoà Nguyễn viết:

    Bản đồ đầu tiên năm 1947 của bộ Nôi Vụ Trung Hoa Dân Quốc vẽ đường chữ U có 11 khúc. Xem tại:
    http://en.wikipedia.org/wiki/File:1947_Nanhai_Zhudao.png

    Click vào bản đổ để thấy hình lớn hơn, và đọc được một số tên chữ Hán. Thí dụ quần đảo Natuna, viết chữ Tàu đọc theo âm Hán Việt là Nạp-Sĩ-Nạp quần đảo (đọc theo âm quan thoại là Na-shi-na). Bản đồ cũng ghi tên cả Bắc Natuna quần đảo. (Tôi chỉ đọc được vài chữ Hán, nên đã thắc mắc giá chữ Sĩ được viết là Thổ, thì âm “Shi” ở trên sẽ đọc theo quan thoại là “Tu”, do đó tên Natuna phiên âm chữ Hán đọc theo quan thoại sẽ là “Na-tu-na”).

    Khúc chữ U ở đây nằm ngoài (cách khá xa) các đảo Natuna. Nhưng ở giữa đảo Borneo và Phi có vẽ thêm một khúc đi vào biển Tulu (dính với khúc có sẵn).

    Cho nên có thể ông Trương Nhân Tuấn (hay sách Pháp) nói đúng chỗ này (có móc đi vào biển Tulu).

  8. Trương Nhân Tuấn viết:

    TQ dành chủ quyền quần đảo Sulu xem trang 19, sách « La Chine, Une Puissance Encerclé ? » của Vincent Brisset, nhà xuất bản IRIS, 2002. Quần đảo này nằm giữa Mã Lai và Phi, phân chia biển Sulu và biển Célébès.
    Về TQ dành chủ quyền Natuna, xem trang 23, sách đã dẫn.
    Bản đồ 9 gạch của TQ có minh họa hai « cái móc » đánh dấu chủ quyền 2 vùng đảo này. Dĩ nhiên, bản đồ 9 gạch công bố đã lâu, sau này không tiện thay đổi để bao gồm các đảo đó.
    Về nguồn gốc bản đồ 9 gạch tôi nhận thấy mình có nhiều tài liệu hơn nhiều người khác, tuy nhiên, theo tôi, tất cả đó chỉ là hỏa mù của TQ. Đó không phải là một chủ đề để nghiên cứu. Vì không ai mất thì giờ để nghiên cứu cái mà mình biết đó là hỏa mù.

  9. Dương Danh Huy viết:

    Bác Hoàng Trường Sa

    “Như tôi đã trình bày trong một số ý kiến về các bài của ông Dương Danh Huy, giải pháp mà ĐCSVN đang theo ngày nay chỉ có lợi cho Phi Luật Tân (và TQ), chứ riêng VN thì thiệt hại rất lớn.”

    Tôi mong ĐCS theo giải pháp mà tôi cổ động, nhưng sự thật chẳng ai biết họ có sẽ theo hay không.

    Tôi có trả lời bác về lợi/hại ở đây:

    http://www.talawas.org/?p=4692&cpage=2#comment-2351

    “Tất cả đều là hậu quả của Công hàm PVĐ mà ĐCSVN không chịu hay không dám hóa giải.”

    Điều trớ trêu là bác với bác Trương Nhân Tuấn chửi bới công hàm PVĐ rất nhiều, nhưng tôi thấy các bác chưa hiểu thấu những tai hại có thể có của nó.

    Vì chưa hiểu thấu nên các bác đưa ra những cách hoá giải thí dụ như: bây giờ làm thủ tục long trọng VNCH bàn giao chủ quyền d/v HSTS, lập 1 CP hoà giải dân tộc tuyên bố thừa kế từ VNCH, không thừa kế từ VNDCCH hay các CP CS.

    Ai chẳng biết cần phải hoá giải CH PVĐ, nhưng những cách các bác đưa ra không hoá giải được nó. CH PVĐ có thể “độc” hơn các bác tưởng, và nếu có giá trị ràng buộc thì không hoá giải dễ như các bác tưởng.

  10. Dương Danh Huy viết:

    Thêm một số sự thiếu chính xác nữa trong bài viết của bác TN Tuấn:

    Bản đồ chín gạch, có «móc và » quần đảo Sulu (giữa Mã Lai và Phi) và đảo Natuna của Nam Dương

    Trên thực tế, TQ chưa bao giờ đòi hỏi đảo Natuna của Indonesia và bản đồ lưỡi bò từ năm 1917 tới nay chưa bao giờ gồm đảo Natuna. Mà bản đồ 9 gạch trong bài của bác TN Tuấn cũng không bao gồm đảo Natuna.

    Mà các bản đồ lưỡi bò, kể cả bản đồ trong bài này, cũng không bao gồm (hay “móc và”) quần đảo Sulu.

    Có lẽ bác TN Tuấn không rõ quần đảo Sulu nằm đâu. Nó không dính dáng tới Biển Đông mà nằm ở phía Đông Nam biển Sulu, phía Đông đảo Borneo, cách Biển Đông hơn 300 km.

    Những ký hiệu bản đồ mà bác TN Tuấn cho là “«móc và » quần đảo Sulu (giữa Mã Lai và Phi) và đảo Natuna của Nam” thật ra là biểu tượng cho ranh giới của Indo, Mã, Phi.

    Bác TN Tuấn phát minh ra khái niệm “móc và” để ủng hộ cho những sự kiện mà bác ấy phát minh ra, nhằm ủng hộ 1 lập luận nào đó:

    Sau khi TQ sát nhập đảo Natuna vào bản đồ chữ U, Nam Dương phản đối mạnh mẽ, đồng thời vũ trang mạnh. Đây là nước dông dân nhất khu vực Đông Nam Á và có quân lực mạnh nhất. Từ năm 2000 trở lại đây thì bản đồ chữ U loại trừ đảo Natuna, có nghĩa là TQ đã nhượng bộ. Thí dụ khác, bản đồ chữ U từ năm 1950 thì có thêm quần đảo Sulu, nhưng những năm sau này thì bản đồ này không bao gồm quần đảo này nữa.

    Trên thực tế, TQ chưa bao giờ sáp nhập đảo Natuna và quần đảo Sulu vào bên trong ranh giới lưỡi bò.

  11. Hoàng Trường Sa viết:

    Bài này tác giả TNT đã viết rất công phu và thuyết phục, đã sử dụng nhiều tài liệu lịch sử để vạch trần các thủ đoạn, tuy thô sơ, nhưng TQ đã xài rất nhuần nhuyễn để cướp giật đất biển của VN. Một trong các thủ đoạn là việc đặt tên và hoán đổi các địa danh để lường gạt mọi người. Xảo thuật này cũng đã được TQ sử dụng để âm mưu chiếm đọat HS, TS và Biển Đông của VN qua cái bản đồ 9 gạch do họ vẽ ra một cách tùy tiện, không tuân theo bất cứ quy tắc nào cả, và giải thích mù mờ, linh hoạt tùy theo hoàn cảnh đòi hỏi, nhưng xem ra khá thành công, ít nhất là đối với dư luận chung của thế giới là những người thiếu am tường về địa lý và lịch sử Biển Đông.
    Tôi hoàn toàn đồng ý với ông TNT rằng có nhiều “options” khác có lợi hơn cho VN, nhưng vì “há họng mắc quai” do cái Công hàm ô nhục PVĐ nên ĐCSVN đã chọn một option gây ra nhiều thiệt hại cho VN khi không ghi HS và TS vào thềm lục địa VN trong báo cáo gửi LHQ gần đây. Tất cả, theo tôi, phát xuất từ quan điểm “tối ưu hóa” quyền lợi ĐCSVN thay vì quyền lợi của Tổ quốc và Dân tộc VN.
    Như tôi đã trình bày trong một số ý kiến về các bài của ông Dương Danh Huy, giải pháp mà ĐCSVN đang theo ngày nay chỉ có lợi cho Phi Luật Tân (và TQ), chứ riêng VN thì thiệt hại rất lớn. Tất cả đều là hậu quả của Công hàm PVĐ mà ĐCSVN không chịu hay không dám hóa giải.

  12. Dương Danh Huy viết:

    (TT)

    Nếu muốn đối phó với vỏ dưa “biển lịch sử” thì chỉ cần lập luận là trong lịch sử TQ không hề tuyên bố và thực thi chủ quyền đối với vùng biển bên trong đường lưỡi bò. Chắc chắn là thế giới, đặc biệt là ĐNA và Âu Mỹ, chẳng bao giờ chấp nhận vỏ dưa “biển lịch sử” của TQ.

    Bác TN Tuấn đòi phải tránh cái vỏ dưa đó bằng cách đòi là các đảo HSTS phải có 100% hiệu lực EEZ, thềm lục địa, khác nào cho TQ cái vỏ dừa để nó phang VN.

    Nếu cả VN lẫn TQ đòi là các đảo HSTS phải có 100% hiệu lực EEZ, thềm lục địa thì khi TQ đòi như thế để lấn vào EEZ, thềm lục địa của VN thì các nước Âu Mỹ chẳng có gì để phản đối.

  13. Dương Danh Huy viết:

    Tấm bản đồ này xuất hiện không biết chính xác từ khi nào (có nhiều nguồn nói khác nhau : xuất hiện năm 1914, 1920, 1930 ; thậm chí có nguồn nói xuất hiện từ thế kỷ 19 !)

    Bác TN Tuấn muốn biết chính xác hơn trên thì có thể hỏi anh Hoàng Việt (có bài trên hoangsa.org) hay chị Trang Hạ – hai người này là thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông.

    Hai người này đưa ra chi tiết thú vụ là người đầu tiên vẽ bản đồ lưỡi bò có họ hàng với Hồ Cẩm Đào.

    Về văn kiện chính thức, tác giả viết bài chưa đọc hay thấy tài liệu nào từ phía TQ chính thức dẫn tấm bản đồ chữ U, ngoại trừ công hàm ngày 7 và 8 tháng năm 2009 vừa qua để phản đối hai hồ sơ của VN mà Mã Lai (nộp chung).

    Bản đồ chính thức của cục bản đồ quốc gia TQ vẽ đường lưỡi bò từ trễ nhất là 2006.

    Khi hiểu cặn kẽ, ta có thể có các biện pháp thích ứng : Muốn đối phó với « biển lịch sử » của TQ, VN phải khẳng định chủ quyền HS và TS, khẳng định các đảo này có hiệu lực về hải phận ZEE và thềm lục địa theo định nghĩa của Luật Biển 1982.

    Chưa chắc đó là hiểu cặn kẽ. Rất có thể là đó là hiểu sai. Hiểu theo hướng đó không chừng là tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa.

    (CT)

  14. Dương Danh Huy viết:

    “Dân tộc VN đổ máu làm gì để giữ những cục đá không giá trị đó nữa ?”

    Tôi thật không hiểu sao bác Trương Nhân Tuấn lại có thể hỏi câu hỏi trên về Hoàng Sa, Trường Sa.

    Thứ nhất: Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam. Đối với dân tộc nào trên thế giới thì lãnh thổ cũng là thiêng liêng. Đối với quân đội nào trên thế giới thì một trong những nhiệm vụ cao nhất cũng là bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ. Đối với chính phủ nào trên thế giới thì một trong những nhiệm vụ cao nhất cũng phải là bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ.

    Nội lý do thứ nhất đó cũng đủ trả lời câu hỏi của bác TN Tuấn và bác bỏ lập luận của bác ấy rồi.

    Thế nhưng còn nhiều lý do nữa.

    Thứ nhì: Vị trí chiến lược của HSTS.

    Thứ ba: Lãnh hải 12 hải lý của các đảo HSTS. Mỗi đảo được khoảng 1500 km2 lãnh hải. Có khoảng chừng 10 đảo HS và khoảng chừng 30 đảo TS có thể được hưởng quy chế lãnh hải. Vậy các đảo HSTS có thể có khoảng chừng 50000 km2 lãnh hải. (Có lẽ ít hơn vì lãnh hảo của các đảo chồng lấn lên nhau).

    Thứ tư: Trong những vùng không chồng lấn lên các vùng biển thuộc nước khác, các đảo có thể được EEZ.

    Rõ ràng, dù HSTS không có 100% hiệu lực trong việc tính EEZ, thì chúng cũng thiêng liêng và quý báu đối với dân tộc Việt Nam, chứ không phải “những cục đá không giá trị” như đối với bác TN Tuấn.

    Lập luận của bác TN Tuấn dựa trên 1 sự cường điệu thay vì dựa trên đánh giá chính xác.

  15. Hoàng Trường Sa viết:

    “Tấm bản đồ này xuất hiện không biết chính xác từ khi nào (có nhiều nguồn nói khác nhau : xuất hiện năm 1914, 1920, 1930 ; thậm chí có nguồn nói xuất hiện từ thế kỷ 19 !) nhưng chắc chắn cũng là một thủ thuật cổ điển của TQ như dàn dựng các tên giả, hay hoán đổi tên các làng v.v… để chiếm đất của VN.” (trích lời tác giả Trương Nhân Tuấn)
    Theo tôi biết, bản đồ 9 gạch này là hậu thân của bản đồ 11 gạch có từ năm 1947 (hoặc 1946) dưới thời Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch. Sau này khi chính quyền Mao Trạch Đông toàn thắng và lập ra nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa vào năm 1949, Chu Ân Lai ra lệnh bỏ bớt 2 gạch từ bản đồ 11 gạch của Tưởng Giới Thạch để có bản đồ 9 gạch (còn gọi là bản đồ chữ U, hay bản đồ lưỡi bò) ngày nay. Do đó, bản đồ 9 gạch không thể nào có trước năm 1947 (hay 1946) được. Xin quý vì vào trang Web dưới đây để xem bản đồ 11 gạch này :

    (http://www.spratlys.org/maps/2.htm)

    Tôi đồng ý hoàn toàn với Bác TNT là dù xuất hiện lúc nào đi chăng nữa thì cái bản đồ 9 gạch này cũng chỉ là một thủ thuật cổ điển của TQ dàn dựng các tên giả, hay hoán đổi các tên đảo để cướp đảo biển của VN. Có điều ta phải thừa nhận rằng TQ là bậc sư tổ trong nghề gian dối, lu loa mồm mép để vừa ăn cướp vừa la làng. Chẳng hạn như bọn chúng đã đặt tên các quần đảo rất có hệ thống, như Tây Sa, Nam Sa, Đông Sa v.v… (thiếu điều đặt luôn thêm Bắc Sa nữa cho trọn bộ Đông, Tây, Nam, Bắc !). Điều này đã giúp cho TQ rất nhiều trong chiến dịch gây hỏa mù để thế giới dễ dàng chấp nhận vùng biển trong bản đồ này là của TQ.

1 2 3 5
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>