Tây Nguyên, Tây Tạng
27/05/2009 | 6:00 sáng | 5 Comments
Category: Bauxite Tây Nguyên, Chiến tranh Việt Nam, Chính trị - Xã hội, Kinh tế - Môi trường, Quan hệ Việt – Trung
Thẻ: Bô-xít > FULRO > Người Thượng > Tây Nguyên
Anh hướng dẫn là người vui vẻ và nho nhã. Thì anh hướng dẫn du lịch, phải vui vẻ; và nho nhã vì anh là người Trung Hoa. Đó là khi anh nói về Tần Thuỷ Hoàng và chuyện 2000 năm trước. Còn đề cập đến triều đại Hồ Cẩm Đào thì anh trở thành người… Pháp. Từ vui vẻ anh trở thành làu bàu khó tính, và đề cập đến các lãnh đạo đất nước, từ nho nhã anh chuyển sang gần như văng tục kiểu tous des connards (“toàn một bọn đần”, theo nghĩa đen là một bọn lồn). Nhưng để trở thành gay gắt và đỏ mặt, hùng hổ và mất cả lý trí thì phải đề cập đến vấn đề Tây Tạng! Bọn vong ơn này đã chết đói chết cóng nếu không có Trung Quốc, nếu không có Trung Quốc thì đã không biết dùng đến cả giấy vệ sinh[1]! Từ hướng dẫn du lịch anh trở thành hướng dẫn biểu tình, hô những khẩu hiệu với một niềm tin thành thật và sắt đá. Sự giận dữ của anh phần lớn không dành cho dân tộc man di bội bạc này, kiểu Sát Tây Tạng / Ta giống dân Đại Hán, nhưng dành cho, dù là không là nói tới, dành cho thế giới. Mà thế giới, thế giới bên ngoài Trung Quốc, không phải là Bolivia hay Yemen, thế giới là Tây phương. Thế giới là Hoa Kỳ, và trong vấn đề này đã chạm vào chỗ nhạy cảm nhất của cơ thể là tinh thần dân tộc. Tibet là Trung Quốc bất khả phân, tổ tiên dựng cõi, chém rắn trong hang, là hồn thiêng sông núi (từ Thái Sơn đến Hy Mã Lạp), là máu chảy ruột mềm v.v… đại loại. Đây không còn là chuyện người Hán chiếm đóng và chèn ép dân tộc Tây Tạng, nếu chỉ có thế thì làm gì phải phẫn uất hung hăng, mà trở thành chuyện Trung Quốc bị phương Tây xúm vào cấu xé, anh hướng dẫn bắt đầu đứng tấn hoa tay như là một võ sĩ Quyền phỉ [2].
Bọn Tây thì biết chó gì về Tibet, tôi đã nghe một người bạn Trung Quốc khác gằn giọng, mà may là anh đang uống cà phê chứ không phải uống bia. Anh đang uống càfé tại một quán nước thành Paris thơ mộng bên bờ sông Seine. Anh cũng là một người nho nhã, thuộc thành phần khó mà cho là thân với chế độ hiện hành. Anh thuộc đợt văn nghệ sĩ và trí thức chống đối tị nạn đầu tiên sau thời kỳ Cách mạng Văn hoá, là một người đạt danh vọng tầm quốc tế ở nước ngoài sau khi sống ở đó đã nhiều năm. Tôi muốn nói, anh là một người hoà nhập thế giới, biết dùng Métro và có lên trang báo phụ nữ bốn màu Pháp Mỹ nhiều người đọc, nhưng này, đừng có đụng vào tính dân tộc! Tính dân tộc Hán và Tây Tạng khắng khít bất khả phân, máu chảy ruột mềm… (xin đọc lại đoạn trên). Và tính dân tộc rất là cao quý, dân tộc nào cũng có hết, tuy có lúc (và thường thì) tính dân tộc này lại đụng phải tính dân tộc kia.
*
Đã đứng trên ghế mà tôi vẫn phải kiễng chân để nhìn ra cửa sổ. Tôi lên 3 hay 4 tuổi thì phải và mặt kính lờ mờ hơi tụ, tôi phải dùng tay xoa xoa mới thấy bên ngoài. Giữa những luống dâu, một gia đình đang di chuyển, người cha ở trần mặc dù trời rất lạnh, người mẹ thùng thình trong một chiếc áo len rách, mấy đứa con lem luốc, thằng con trai lớn đầu tóc rối xù đeo gùi, đứa con gái cõng em trên lưng. Cô chị họ của tôi lên 6, nói rất nhỏ như là sợ bên ngoài nghe thấy.
Người Mọi!
Đó là ở Đà Lạt vào cuối thập niên 50. Người Thượng ở Tây Nguyên vừa mới mất quy chế Hoàng triều Cương thổ của thời Bảo Đại. Vài ba năm nay trở lại, những người Kinh từ miền Bắc tới, phá rừng trồng cây trái, vườn rau. Chính quyền Ngô Đình Diệm định cư tại Lâm Đồng thành phần vào Nam tị nạn sau Hiệp ước Geneva và gia đình của bác tôi trong số đó. Nhóm người Thượng vừa đi qua những luống dâu có lẽ vẫn dùng con lối này từ những năm trước và quen thói, họ đi qua mà như là không thấy những thay đổi, những nhà ngói mới được dựng lênở phía ngoài thị xã.
Không hiểu sao, vào cái tuổi đó, tôi đã nhiễm ảnh hưởng của bá quyền văn hoá… Mỹ! Người Mọi này tôi nghe ngay ra là Mọi Da Đỏ, có lẽ vì người cha vác một cái nỏ trên vai, mặc dù không có ai cắm lông trên đầu và vừa phi ngựa vừa hú làm bụi mù sa mạc. Mọi thì tôi rất hãi, và mấy hôm sau khi người chú họ lái xe đến để đưa mẹ con tôi ra phi trường, tôi chỉ vững bụng khi thấy ông có đeo súng ngắn. Để trị Mọi Da Đỏ thì đã có cao bồi!
Vài năm sau, khi chiến tranh tái diễn, vì an ninh xuống cấp nên Đà Lạt rất chán, chẳng còn đi đâu xa được ra ngoài. Cọp không băng ngang đường nữa như tôi từng nghe kể mà giờ là du kích. Người Thượng tôi cũng không còn thấy nữa nhiều như trước, hoặc là ở dưới một dạng mới và ở tận Sài Gòn. Họ vào tuổi thanh niên ngờ nghệch mua sắm trên vỉa hè Lê Lợi, mang những bảng tên Y này Y nọ khó đọc trên bộ quân phục Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ. Họ là lính Mikeforce (Mobile Strike Force), CIDG (Dân sự chiến đấu), biệt kích “Mỹ”[3] đến thăm thành phố để mua cái đài bỏ túi, cái bật lửa, cái bấm móng tay và khi bị “gạt” thì lại rạng rỡ cười.
Sơn nữ tắm suối là một huyền thoại Cao nguyên mà tôi chưa từng thấy, chỉ nghe một người bạn của bố tôi kể lại như là đỉnh cao của cả một đời binh nghiệp, cao hơn là lúc ông lên hình trên báo, tay chống nạnh trên khẩu Colt chễm chệ, áo dù phanh ngực trong Dinh Gia Long cạnh Thủ tướng Diệm khi ông mangtiểu đoàn về dẹp giặc Bình Xuyên.
Tây Nguyên đối với tôi chỉ có thế, tôi không có được duyên.
Năm 2008, khi nghe tin có người dân tộc bỏ một trại tị nạn của Liên Hiệp Quốc ở Cam Bốt để sang Thái chầu chực ở trước cổng Cao uỷ ở Bangkok, tôi đã cất công cả một ngày để đi tìm gặp. Trước hết, tôi rất là thán phục chỉ cái việc họ đã tìm đến đúng chỗ ! Tôi đố quý vị cách nào phát âm được tên đường Rachadamner Nok cho tài xế taxi Bangkok hiểu! Có lẽ nhờ quen đi rừng nên việc họ từ Cam Bốt vượt biên, đến thủ đô Thái mà không lạc ở đường Ring, băng ngang đường cao tốc mà không bị xe đụng, tìm đến đúng Phủ Cao uỷ Tị nạn xế trước cửa rạp hát gì đó bên cạnh Bộ Du lịch là một việc xoàng! Chỉ cần nhìn dấu chân những người đi trước còn để lại trên lối mòn xuyên sơn? Đó vào lúc quần chúng thuộc phe “Vàng” (tức phe chống đối đảng cầm quyền của ông Thaksin) lại đang thường trực chiếm trung tâm hành chánh của thủ đô nên nhóm người Thượng này được đám biểu tình tại đó cưu mang. Mất cả một ngày tôi không gặp được họ, dù có hỏi cảnh sát cơ động, cảnh sát cơ động Thái rất vui tính, bỏ dùi cui xuống mà nhăn răng nhưng không giúp được gì, và hỏi các toán biểu tình. Thành phần này thì nghiêm túc hơn là công an, vớ được bạn thì thích giảng về chính quyền Thaksin tham nhũng và hủ hoá. Vẽ cho bạn xem hoạ đồ tài chính của chuyện Temasek mua lại công ty viễn thông ra sao thì ai cũng sẵn sàng, nhưng người Thượng từ Việt Nam đang ở địa điểm nào thì họ mù tịt. Tôi phải xin chào các đài Việt ngữ ở hải ngoại đã phỏng vấn được nhưng người này bằng điện thoại trong khi có lẽ cùng chung với họ một chu vi vài trăm mét hay là, một cây số thôi trở lại, tôi vẫn không tìm thấy! Một tổ chức Việt Nam ở Úc còn có cách đưa được 2000 USD đến tận tay nhóm tị nạn này thì giỏi thật, tuy tôi tự an ủi là mỗi người một tài[4].
Nhưng nếu hội đoàn hải ngoại người Kinh này sốt sắng giúp đỡ những người Thượng như vậy, đó là bởi vì các sắc tộc Tây Nguyên là mũi nhọn chống đối chế độ hiện hành ở bên nhà.
*
Năm 2001 hàng ngàn người Thượng băng rừng sang Cam Bốt xin tị nạn và sau đó các sự cố xảy ra tại Tây Nguyên năm 2004 có thể được coi là “biến loạn”. Hàng ngàn (chục ngàn?) người Thượng biểu tình tại Buôn Mê Thuột và thị xã bị quân đội và công an phong toả. Các trường bay Pleiku và Kontum bị đóng cửa trong nhiều ngày, ngăn quan sát viên và báo chí quốc tế đến tận nơi, một phái đoàn sứ quán Mỹ dùng đường bộ phải quay về. Chuyện gì xảy ra trong tháng Tư Đen Tây Nguyên này thì khó mà ai biết.
Theo chính quyền Việt Nam thì các toán biểu tình bạo động, tấn công người Kinh. Khi ném đá nhầm mục tiêu, có một người trong đoàn tử thương vì “đá lực” của bạn, một người khác bị xe máy cày cũng của bạn cán chết vì không tôn trọng luật giao thông. Cũng may là họ chỉ có đá chứ họ có cả bom thì đã ném nhầm nhau chết cả trăm mạng. Theo các nguồn tin khác (Human Rights Watch, tổ chức Montagnard Foundation của người Tây Nguyên tại Hoa Kỳ) thì có đến 10 người chết, một số thiệt mạng là sau khi bị công an bắt giữ? 52 người bị thương (40 công an bị thương phải điều trị tại bệnh viện?) Một số vài trăm bị giam cầm (năm 2001 đã có mấy trăm người, cho đến nay 350 vẫn chưa được thả).
Đầu tháng 4/2008 lại có 7000 người (?) tụ họp lại để phản đối đòi nhà đất và tự do tôn giáo, trong đó có 300 người phất cờ vàng ba sọc tại Jarai. Nếu chuyện phất cờ này có thật thì họ quả là ngây thơ, có lẽ là họ nghĩ họ đang ở Bolsa chống báo Người Việt, hay ở Úc chống triển lãm. Dù sao cũng phải ghi nhận đây là dịp hiếm hoi cờ Việt Nam Cộng hoà tái xuất hiện ngay trên quê hương. Chắc là do ông Nguyễn Cao Kỳ giấu trong va ly mang về chứ người Thượng thì lấy đâu ra vải, phụ nữ của họ còn có khi ngực trần và ai cho chúng mày máy cày, lơ ngơ không biết điều khiển đến nỗi cán cả lên nhau.
Những người Thượng sang Cam Bốt tị nạn sau đó một số bị trả về, và bắt giữ tại Việt Nam trái với lời hứa của Cao ủy Liên Hiệp Quốc. Bất bình này sang bất bình khác, đó là chưa nói trong sinh hoạt ngày thường, người Thượng gặp đủ thứ khó dễ. Một điển hình là người Kinh chúng ta có thể táp xe vào bãi đậu của “Lê gởi tiền Lẹ” chuyển cho thân nhân bên nhà từ hiện kim USD đến tivi tủ lạnh, phiếu dùng bữa buffet tại cao lâu, khách sạn, hay đóng hộ thân nhân bên nhà cả niên liễm sân golf… Chỉ tối đa là 24 giờ sau đã nhận được. Người Thượng nước ngoài chuyển tiền về Tây Nguyên thì lại khác. Những số tiền này có khả năng bị chính quyền địa phương tịch thu gọn. Mày nhận tiền làm gì, để sắm máy cày gây ra tai nạn hả, hay là để mua… đá chọi nhau?
Việc chống đối chính quyền hiện nay của người Thượng đã có từ đầu. Vào tháng 4.75, nhân tình hình giữa người Kinh (thì người Kinh cả với nhau) đang hỗn loạn, người Thượng đã phất cờ FULRO chiếm giữ Buôn Mê Thuột và các quận huyện trong một thời gian ngắn ngủi (Front Uni de Lutte des Races Opprimées, Mặt trận Thống nhất Đấu tranh của các Dân tộc bị áp bức, thành lập 1964). Nếu nói đến kháng chiến chống Cộng sản thì thành tích của họ hơn hẳn phong trào người Kinh sau này, chống cự của họ kéo dài hơn hẳn các lực lượng của Việt Nam Cộng hòa sau 1975. Những trận giao tranh với bộ đội ở cấp độ lớn tiếp tục khắp nơi cả một năm sau cho đến 1976, lúc Tây Nguyên thực sự bị khống chế. 2000 quân FULRO rút sang Kampuchea nhưng cứ địa Mondolkiri của họ bị trực tiếp tấn công vào năm 1979 khiến một số trở về Việt Nam hoạt động du kích.
Theo tác giả Nguyễn Văn Huy [5]:
1975 – 79, 8000 binh sĩ FULRO Dega bị loại khỏi vòng chiến.
1984, 358 FULRO Dega bị giết, 1734 bị bắt, tịch thu 600 vũ khí.
1985 – 90, 63 cuộc hành quân của bộ đội Việt Nam tại Tây Nguyên hạ sát 102 FULRO, bắt sống 167, 10.000 người dân Thượng bị dời về gần khu vực Kinh để dễ kiểm soát.
09.1991, Kampuchea hòa bình, tại Mondolkiri lực lượng UNTAC của Liên Hiệp Quốc bắt gặp 400 Fulro trong rừng với 175 súng, những người này được đưa sang Hoa Kỳ tị nạn.
05.1998, 6 người (3 đàn ông, 1 phụ nữ và 2 trẻ em) chỉ có võ trang bằng cung nỏ bị bắt tại Đắc Lắc và được coi là tàn dư cuối cùng của FULRO.
Phong trào Tây Nguyên chỉ xuất hiện trở lại dưới hình thức bất bạo động và dân sự vào đầu thế kỷ và nếu được quốc tế biết đến (dù chỉ qua quít) là nhờ lý do tôn giáo và sự vận động tại Hoa Kỳ của các tổ chức Ki tô Tin lành. Dân tộc Tây Nguyên không có sự ủng hộ của siêu sao Hollywood như Darfur, không có lãnh đạo tinh thần nổi tiếng thế giới như Tibet, không có cộng đồng đông đảo tại hải ngoại để hổ trợ phương tiện như Tamil.
Và nếu người Kinh ở nước ngoài quên đi kỳ thị và tự tôn dân tộc để giúp họ đánh kẻ thù chung vào ngày hôm nay thì cũng nên nhắc lại quan hệ Kinh -Thượng tại miền Nam trước 1975.
*
Vào năm 1955 700.000 người Thượng tại Tây Nguyên vẫn còn là đa số so với dân cư người Kinh nhưng đối xử phân biệt đã khiến có các cuộc biểu tình từ 1958 tại Kontum, Pleiku, Buôn Mê Thuột do phong trào BAJARAKA phát động (Bahnar, Djarai, Rhadé và Kaho là bốn sắc tộc chính). Chống đối bằng võ lực và cứ địa tại Mondolkiri bên kia biên giới cũng có từ 1964. Vào năm này Bù Đăng, Đức Lập bị phong trào FLHP chiếm (Front de Libération des Hauts Plateaux, Mặt trận Giải phóng Cao nguyên). Các đồn miền Nam trong khu vực bị đánh, quân Thượng tiến vào Buôn Mê Thuột kêu gọi đồng bào họ nổi dậy trên Đài Phát thanh thị trấn, 35 binh sĩ Kinh bị thiệt mạng.
Nhờ trung gian của Hoa Kỳ, chính quyền Việt Nam Cộng hoà đã đi đến nhân nhượng khiến phong trào Tây Nguyên phân hoá, một số đầu hàng và một số sang Cam Bốt thành lập tổ chức FULRO, tiếp tục giải pháp võ lực. Cuối năm 1965 lực lượng này chiếm Tiểu khu Quảng Đức, đồn Krong Pách, đồn Phú Bổn hô hào:
“Cao nguyên của người Cao nguyên!”
“Thực dân Kinh cút đi!”
Đòi hỏi tự trị Cao nguyên không được thoả mãn nhưng chính quyền Việt Nam Cộng hoà đã có những biện pháp xoa dịu liên tiếp trong các năm 1966, 67, 68. Kết quả các nhượng bộ này đi đến thoả thuận năm 69, Hội đồng Sắc tộc được thành lập, Bộ Phát triển Sắc tộc được hoạt động (Tổng trưởng Paul Nưr). Hiệp ước Việt Nam Cộng hoà và FULRO được ký kết trọng thể tại Buôn Mê Thuột với hiện diện của Tổng thống và Thủ tướng Việt Nam Cộng hoà , cờ vàng và cờ FULRO và biểu ngữ “Tình đoàn kết Kinh Thượng muôn năm.”
Tác giả Nguyễn Văn Huy cho đây mở đầu một thời kỳ tốt đẹp và tích cực trong quan hệ Kinh – Thượng (69-75). Mặt khác ông Nguyễn Văn Huy nhận xét là giải pháp sắc tộc của Việt Nam Cộng hòa vẫn thiếu sót vì không ngó ngàng gì đến các đòi hỏi của người Khmer Krom và người Chăm vì họ sinh sống ở đồng bằng. Vì vậy, thành phần này tiếp tục hoạt động tại Cam Bốt cộng với các thành phần Thượng bất đồng với chính sách hoà hoãn của chính quyền. Năm 1970 tại đây, lực lượng võ trang Khmer Krom và Khmer Chăm của tướng Lès Kossem được sử dụng vào việc tàn sát Việt kiều. Nhưng nhu cầu của chiến tranh ngay sau đó khiến chính quyền Lon Nol dùng lực lượng này vào việc đánh Khmer Đỏ thay vì giải phóng các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Hai lữ đoàn sắc tộc này thuộc những đơn vị cuối cùng bảo vệ Phnom Penh năm 1975.
Việc Thủ tướng Việt Nam Cộng hoà Trần Thiện Khiêm bác bỏ quy chế đặc biệt dành cho người Khmer (được 98 dân biểu ủng hộ tại Quốc hội tháng 10.1969) cho thấy những yêu sách của các dân tộc thiểu số chỉ được đáp ứng khi họ chiếm một vị trí chiến lược như là ở Tây Nguyên và sau khi họ liên tục đòi hỏi bằng vũ lực. Một yếu tố quan trọng khác đưa đến nhượng bộ và hòa hoãn của chính quyền miền Nam là áp lực “nói vào” của Hoa Kỳ, sau khi Mỹ nhận định tầm quan trọng của các sắc tộc ở khu vực Tam Biên trong cuộc chiến Đông Dương. Mà Hoa Kỳ đã nói thì chính quyền Việt Nam Cộng hoà dù có ấm ức thì cũng phải ậm ực và rút cuộc là ậm ừ. Người Chăm, người Khmer, vì không có tầm chiến lược và chẳng có ích lợi hay lợi hại gì hết, đã bị chính sắc sắc tộc của miền Nam bỏ quên.
*
Lịch sử của các sắc tộc Tây Nguyên là một lịch sử lánh nạn, tị nạn từ mấy ngàn năm qua. Họ phải bỏ bờ biển, đồng bằng hết lượt này đến lượt khác, hết thế kỷ này qua thế kỷ khác, từ thượng cổ qua các thời đại Chiêm Thành, Chân Lạp, Việt, Khmer.
Người xót xa buồn lắm phải không
Không, sao bỏ phố lên rừng
Đi làm mây cao trên đèo vắng
Đến độ Đông sang có chạnh lòng?
(Châu Kỳ, “Bỏ phố lên rừng”)
Đây có thể gọi là một lịch sử khốn nạn, và đã lên rừng rồi còn không được yên thân! Người Tây Nguyên tiếp tục lãnh giáo lãnh gươm rồi lãnh bom lãnh đạn của những tranh chấp trong vùng trong suốt chiều dài lịch sử. Vào cuối thế kỷ 20, là một sự kiện chưa hề xảy ra trước đây và hết sức mới mẻ. Phố lấn lên rừng! Và hiện nay 1,6 triệu người Tây Nguyên trở thành thiểu số ngay trên vùng đất của họ. 30% người Thượng chìm lấp trong 5,4 triệu cư dân Tây Nguyên, một trường hợp không khỏi nghĩ đến Tibet tuy ở đây chỉ mới bị đe dọa bởi di dân gốc Hán [6]. Từ 1976, hơn ba triệu người Kinh đến Tây Nguyên sinh sống, vì ai mà chẳng phải sinh sống (người Hán ở Tây Tạng cũng phải sinh sống vậy).
Rừng bị khai thác triệt để đến trơ trọc, đất đai canh tác bị chiếm đoạt, các nguồn nước, nguồn suối bị trấn đóng bởi người Kinh. Giá càfé trên thị trường thế giới trong thập niên 90 đưa vào Tây Nguyên một đợt di dân mới, riêng tại Đắc Lắc chiếm 74.000 mẫu vừa khai vừa phá theo đúng nghĩa của cụm từ. Việt Nam trở thành nước sản xuất càfé thứ nhì chỉ sau có Brazil. Năm 2005, 2.6 triệu người sống nhờ lãnh vực sản xuất này, số sản xuất 2008-09 là 21 triệu bao càfé (60kgs/bao), năm 2007-08 là 18.3 triệu bao, mang về 2.1 tỉ USD. 96% số càfé này là hàng xuất cảng và chỉ có 4% là dành cho những người thất tình trong nước ngồi trầm ngâm nhìn giọt đắng nhỏ xuống đáy sữa đặc có đường.
Điều may càfé của cả nước trở thành hoạ của người Tây Nguyên, ở đây cũng không khỏi nghĩ đến niềm may dầu hoả của Sudan và họa của người Darfur xa vời. Trong bối cảnh đã bi quan này thì ai đó phát hiện là Tây Nguyên có bô-xít!
Này nhé, có lên rừng trú thân mà muốn yên thì lần sau nhớ kiếm chỗ nào mà không có bô-xít! Kiếm chỗ nào mà không có gì hết! Sau những tranh chấp bá đồ vương và ý thức hệ, sau khi là chiến địa của Lào, Thái cho đến Việt, Chiêm, là giành giật giữa Tư bản với Xã hội Chủ nghĩa, Tây Nguyên trở thành một miếng ngon kinh tế.
Càfé đã mang lại gì cho người Thượng Tây Nguyên?
Bô-xít, cho dù khai thác bởi Chalieco (Trung Quốc) hay Alcoa (Hoa Kỳ) sẽ mang lại gì cho họ?
Họ có tiếng nói gì trong việc này hay không?
Tôi nghĩ là không, bởi vì tôi chưa thấy kiến nghị của người dân tộc, tôi chưa thấy từ “Thượng gian” (như Việt gian, Hán gian…) xuất hiện bay đầy không… gian.
Và như vậy 50 năm qua với riêng tôi vẫn chưa có gì thay đổi từ ngày lần đầu thấy một gia đình Thượng đi ngang một vườn dâu “của” người Kinh.
Bọn này vẫn là mọi và để trị họ thì sợ gì, vẫn có cao bồi.
*
Tôi xin lỗi người đọc vì đã dùng một tựa bắt mắt mà không khai triển vấn đề một cách nghiêm túc, nói thẳng ra là đặt tựa bậy cho vui thôi.
Tây Nguyên thì dính dáng gì đến Tây Tạng?
Trong chuyện Tây Tạng, Trung Quốc không thấy mình là bá quyền xâm lược mà chỉ thấy chính sách can thiệp của Tây phương, hễ nhắc đến Tây Tạng là họ nhớ lại cái nhục của Chiến tranh Nha phiến. Trung Quốc bé nhỏ ngay trở lại trong vai trò nạn nhân. Tây Nguyên mà đòi quyền lợi, tự trị hay độc lập thì người Kinh không thấy đó là nguyện vọng chính đáng của người Thượng mà là âm mưu chia cắt sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Bất quá thì trưng cầu thử xem, và người Thượng ngay tại Tây Nguyên ngày nay cũng không còn đủ số đông mà đưa một Evo Morales[7] đóng khố lên làm tổng thống.
Trong quá khứ, người Thượng đã phải luôn dựa vào những thế lực bên ngoài, phía phải và phía trái, phía trên và phía dưới, kể cả Tây phương Pháp và Mỹ. Ngày hôm nay, họ có hy vọng dựa được vào Trung Quốc để khỏi bị người Kinh hà hiếp hay không? Phải chăng đây là mối họa “chiến lược” mà mọi người (Kinh) lo ngại tuy chẳng ai nói ra rành mạch? Trong cuộc tranh luận bổ ích và cần thiết về vấn đề khai thác bô-xít, mọi khía cạnh đã được đề cập đến ngoại trừ vấn đề những dân tộc Tây Nguyên đã và đang sinh sống tại đây. Những câu to tát như là “Ai nắm Tây Nguyên sẽ cai trị Đông Dương” không áp dụng được với người Thượng, họ ở ngay tại chỗ mấy ngàn năm mà chỉ có bị hết thằng này đến thằng kia “chiến lược” dài dài.
Hay là ngược lại, thay vì thông đồng với kẻ thù Đại Hán, Tây Nguyên sẽ được Trung Việt đề huề hay tứ lục mà vui vẻ chia nhau khai thác, như ở Darfur? Ai cũng làm ăn với chủ cả, không ai làm ăn với tớ, tôi hùn hạp với lại thằng đang cầm Sổ Đỏ.
Nói về lợi ích kinh tế, nạn thất nghiệp, công ăn việc làm phải giải quyết cho hàng triệu người Kinh, chắc chắn là ta sẽ không chấp nhận 1,6 triệu người Thượng đổ xuống đồng bằng làm rãy trên các… sân Golf ta mới vừa kỳ công xây dựng và thả voi trên phố nơi nào sẵn có hàng nước mía. Nhân tiện, nếu họ đồng hóa người Kinh luôn, bắt phụ nữ ra vào cơ quan công sở phải để ngực trần thì sao?
Một cái nhìn công bằng cũng khó lắm và khó chứ. Người Thượng đã góp phần xây dựng Mỹ Sơn, Đồ Bàn, Tượng binh của họ đã đánh Toa Đô cùng với quân nhà Trần, lính của họ đã theo Tây Sơn ra đến Bắc, họ là thành phần của cộng đồng Việt Nam thì nguyện vọng ngày nay của họ là gì ?
Nếu ta muốn giữ Tây Nguyên trong căn nhà của Việt Nam, thì cũng như trong quan hệ gia đình hay đôi lứa mà thôi và cũng dễ. Đó là lầm lỗi trong quá khứ thì phải xin tạ tội, quỳ xuống mà cầm tay. Chăm sóc, chìu chuộng tặng hoa vào ngày sinh nhật, chia sẻ bổn phận là thể hiện của yêu thương giữa những người cùng một mái nhà và cùng một định mệnh. Có vậy thì may ra mới mong giữ được trái tim sơn cước.
Còn nếu họ rũ áo ra đi, thì là quyền của họ vậy.
Sau cùng, xin nhắc lại lời cảm ơn với công trình rất hiếm hoi tìm hiểu các sắc tộc của Nguyễn Văn Huy, về Thượng , cũng như Chăm, hay nói qua luôn thể, người Hoa .
Quan điểm của người Thượng cũng không được phổ biến nhiều, xin xem Montagnard Foundation.
[1] Tại Tibet thì không rõ, nhưng tại Afghanistan, nghe kể là trong quân của lãnh chúa Ismael Khan ở Herat, sĩ quan thì đeo hai cuộn giấy vệ sinh ở thắt lưng, hạ sĩ quan thì đeo một cuộn. Không hiểu đây là nhờ khai sáng của Anh, của Liên Xô hay của Mỹ.
[2] Nổi loạn Nghĩa hòa Đoàn 1898-1901 chống ảnh hưởng Tây phương và Ki tô giáo dưới đời nhà Thanh (Boxer Uprising).
[3] Trực thuộc Hoa Kỳ và ăn lương Mỹ, sau này chuyển biên chế sang Biệt động quân Biên phòng của miền Nam.
[4] Giờ nếu hội đoàn này muốn tìm ra thiếu nữ từ Cộng hoà Dagestan (thuộc Nga) tha phương sang đây thì chắc phải hỏi tôi thôi. Để bài viết của tôi có được chí ít là một thông tin thực dụng và không xuyên tạc lịch sử, xin tiết lộ là ở khách sạn Dynasty Inn tại Soi 3 Sukhumvit, từ 5 giờ chiều trở đi và vào lobby sẽ không nhìn thấy, nếu đã dễ thế thì nói làm gì. Bạn phải rẽ phải từ bên trong lobby vào nơi gọi là quán Internet, cũng sẽ không thấy nốt, mà chỉ có mấy anh địa phương dạng để râu quai nón. Các anh này vu vơ ngồi nhìn trần chứ không xem mạng và cũng chẳng tỏ gì vồn vã. Bạn phải đứng giữa quán, cũng nhìn trần và đọc thơ Lermontov bằng nguyên tác, thí dụ
В полдневный жар в долине Дагестана
С свинцом в груди лежал недвижим я,
Caucaz thung lũng ngày trưa
Tôi nằm thẳng cẳng đạn vừa trúng tim
thì sẽ được họ hướng dẫn lên phòng gặp thiếu nữ Dagestan để nói chuyện thi ca. Ở đây là Cộng hoà Dagestan, nói cho chính xác, còn cộng đồng Kazakh hay là Uzbek thì đã dễ rồi, ở phía Soi 1 ngay đường cái, xin đừng nhầm với mà cho là tôi vênh váo.
[5] Những thông tin trong bài về dân tộc Thượng được lấy từ công trình nghiên cứu của tác giả này http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=184
[6] Mặc dù có nhiều tranh cãi về con số, xem http://www.tibet.com/Humanrights/poptrans.html , năm 2000 thống kê chính thức về “Đại Tibet” (tức các khu vực Tibet lịch sử) của chính quyền cho là chỉ có 34,5% người Hán (49,8% người Tây Tạng. Tại Vùng Tự trị Tibet (TAR), các con số này là 92,8% người Tibet và 6,1% người Hán, xem http://en.wikipedia.org/wiki/Tibet#cite_note-ZH-122, dẫu gì cũng vẫn còn rất xa số người Kinh định cư tại Tây Nguyên Việt Nam.
[7] Tổng thống thổ dân đầu tiên ở Bolivia. Các sắc tộc Quechua, Aymara chiếm 55%, người lai chủng mestizo 30%. Người da trắng chỉ có 15% tuy họ nắm quyền lực chính trị từ thời Tây Ban Nha cho đến 2005.
Bình luận
5 Comments (bài “Tây Nguyên, Tây Tạng”)
“Thịt” thà mà nói em rất khoái các bài viết và cách viết của anh Đỗ Kh.
Mấy đề nghị của anh hôm qua em có đi dự thính (vì em làm bồi bàn) cuộc họp bàn của Bộ “chính chị” CSVN tại quán thịt chó Sơn Hải (ven sông Tô Lịch) và Bác Lông có nói: “Đảng và nhà nước cần cảm ơn và tiếp thu ý kiến đóng góp của anh Đỗ Kh.” (mặc dù chưa là Đại tướng). Chỉ đạo bác Nhân khẩn chương xem xét dự án mở “chuồng” tiếng Anh gì đó để phục vụ đồng bào (học không mặc kệ chúng mày, các công ty của mình XD xong thanh quyết toán rồi a lê hấp, như khi XD hệ thống các nhà máy mía đường).
BCT còn đang xem xét đổi tên nước ta thành cái gì đó cho nó hạp hơn với yêu cầu của thời đại như như “Nam Châu” chẳng hạn để cho bọn Quảng Châu, Hằng Châu, Tô Châu choáng không dám coi thường ta nữa.
À có tin mới được “bật mí” chuẩn bị BCT ra nghị quyết cấm được buôn bán, vận chuyển, lưu trữ và đặc biệt không được chén tất cả các loại, chủng loại liên quan đến “bạch tuộc” vì đó là những hành vi phạm pháp, xúc phạm nghiêm trọng đến nguồn gốc thủy tổ các “đỉnh cao chói lóa” của hai nước anh em. Quốc hội sẽ thông qua sớm (giơ tay mà) vì từ trước đến nay chưa bao giờ có “tiền lệ” QH dám cưỡng BCT cả.
Bác Đỗ Kh. ơi! Căng quá, đầm nuôi tôm nhà E còn 15 con bạch vào loại CỤ của các CỤ, nếu cấm thì thằng dân ngu như em chắc phải từ bỏ thân phận ông chủ để lên Tây Nguyên học tập và rèn luyện ở cái chuồng kia để thành tôi tớ cho nhân dân em thôi bác ạ.
Chúc bác cố đào sâu, hiểu thấu và thực hành nhuần nhuyễn tư tưởng HCM bác nhé!
Câu “Ai kiểm soát Tây Nguyên sẽ làm chủ Đông Dương” xin được chữa thành ai khai thác lâm sản sẽ làm chủ sàn chứng khoán:
http://vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/Kinh-nghiem/2009/01/3BA08CCA/,
phóng Ferrari trên những con đường đất đỏ ngoằn ngòe phố núi:
http://chomuaban.vn/showthread.php?t=1207,
thay vì đôi chân đi bộ, đôi vai mang gùi.
Vào năm ngoái, tôi có biết đến một dự án còn đang phôi thai sau khi điều nghiên kỹ càng nhu cầu của thị trường đầu tư vào tương lai tại Tây Nguyên. Đó là thành lập một trường tư thục cấp 1 giảng dạy bằng tiếng nước ngoài. Xin những người lo ngại về an ninh quốc phòng yên tâm, đây không phải là một trường tiếng Hoa phổ thông mà là dự án của một trường giáo trình hoàn tòan bằng Anh ngữ, đại khái cũng y như là tại phố núi San Bernardino (CA) vậy, với dự trù 300-800 học sinh và học phí 500 USD mỗi tháng.
Mặc dù trường này chưa hoạt động, xác suất mẹ của các em học sinh này là làm rãy trong khi cha của các em làm quản tượng, và các em thuộc người dân tộc, vẫn có thể nghĩ sẽ là rất thấp.
Hoan hô đồng chí Đỗ Kh.
Đa chiều sự thật làm tao hoang màng
đàn t’rưng con trai không muốn đánh
con gái không muốn múa rông chiêng
văn hóa tàn theo khu rừng trọc
buồn làm sao dân tộc tây nguyên
Người Việt Online ngày 10 thg 4, 2009 loan tin ca sĩ Chế Linh “đại diện cho dân tộc Chăm” đã gởi thư kêu cứu, phản đối dự án bauxite. Thư nầy doạ sẽ có đổ máu “do sự vùng dậy của chúng tôi”.
Người Chăm là một trong những sắc tộc chính ở Tây Nguyên.
http://nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=93364
Tài liệu của ông Nguyễn Văn Huy về sắc tộc mà Đỗ Kh. nêu ra cống hiến một số chi tiết cần thiết để biết về vấn đề.