Giải pháp nào tối ưu cho Biển Đông
20/05/2009 | 1:43 chiều | 20 Comments
Category: Chưa phân loại
Để giải quyết hoàn toàn tranh chấp Biển Đông, cần giải quyết 2 vấn đề khó khăn nhất:
1. Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và bãi cạn Scarborough thuộc về nước nào?
2. Mỗi đảo trong các nhóm trên được bao nhiêu hiệu lực trong việc tính vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa?
Để giải quyết một phần tranh chấp, có thể giải quyết vấn đề 2.
Trên lý thuyết, có nhiều trả lời cho câu hỏi 2, thí dụ như:
a) Mỗi đảo được hơn 100% hiệu lực. Điều này có nghĩa nếu một quần đảo thuộc về nước X thì nước đó được EEZ tới gần bờ các nước khác hơn trung tuyến. Tất nhiên giải pháp này phi lý. Ranh giới lưỡi bò của Trung Quốc tương đương với giải pháp này.
b) Mỗi đảo được 100% hiệu lực. Điều này có nghĩa nếu một quần đảo thuộc về nước X thì nước đó được EEZ tới trung tuyến với bờ các nước khác. Thí dụ như Hoàng Sa thuộc về Việt Nam thì Việt Nam được EEZ tới trung tuyến giữa Hoàng Sa và Trung Quốc. Ngược lại, vì Trung Quốc đòi chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trung Quốc “có quyền” đòi EEZ tới trung tuyến giữa Hoàng Sa và các lãnh thổ khác của Việt Nam.
Trên diện pháp lý, chúng ta cần xem có bao nhiêu trường hợp chồng lấn trên thế giới mà các đảo nhỏ cỡ 1-2 km2 hoặc dưới 0.5 km2, như ở Hoàng Sa và Trường Sa được 100% hiệu lực so với đất liền.
Trên diện chiến lược, giải pháp này là con dao hai lưỡi. Trên lý thuyết, Việt Nam có thể dùng con dao đó để chém vào EEZ và thềm lục địa của Trung Quốc và các nước khác và, ngược lại, các nước này có thể dùng nó để chém vào EEZ và thềm lục địa của Việt Nam.
Đành rằng con dao đó là của Việt Nam, nhưng chúng ta cũng cần xem trên thực tế khả năng chúng ta sử dụng được con dao đó là bao nhiêu, và khả năng Trung Quốc sử dụng được con dao đó để chém chúng ta là bao nhiêu.
c) Mỗi đảo được 0% hiệu lực. Điều này có nghĩa không có đảo nào được nhiều hơn lãnh hải 12 hải lý, những đảo nửa nổi nửa chìm không được ngay cả lãnh hải 12 hải lý.
Giải pháp này là thái cực đối ngược với (b).
Trên diện chiến lược, nếu tất cả các nước Đông Nam Á và nhiều nước trên thế giới ủng hộ điều này thì nó sẽ cản trở phần nào việc Trung Quốc dùng tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa để chém vào EEZ và thềm lục địa của Việt Nam. Ngược lại, giải pháp này có nghĩa Việt Nam không dùng con dao đó để chém vào EEZ và thềm lục địa của các nước khác.
Trên diện pháp lý, có nhiều trường hợp chồng lấn với EEZ hay thềm lục địa từ đất liền trong đó các đảo cở các đảo Hoàng Sa, Trường Sa, hay lớn hơn, đông dân cư hơn được 0% hiệu lực trong việc tính EEZ, thềm lục địa.
d) Mỗi đảo được một phần hiệu lực, eg, 5%, 10%, 20%, vv, hoặc 18 hải lý, 24 hải lý, 30 hải lý, vv, có thể tuỳ theo kích thước của mỗi đảo. Đây là một giải pháp nằm giữa (b) và (c).
e) Mỗi đảo được một phần hiệu lực tuỳ theo vị trí của nó. Thí dụ như nếu đảo nằm trong phạm vi EEZ 200 hải lý của nước khác thì nó được từ 0 tới 10% hiệu lực, nếu nằm ngoài thì nó được 10 tới 50% hiệu lực. Đây là một giải pháp nằm giữa (b) và (c).
f) Xin Toà án Công lý Quốc tế ban một Ý kiến Tư vấn về mỗi đảo được bao nhiêu hải lý EEZ và thềm lục địa. Đây là giải pháp công bằng nhất. Tuy Ý kiến Tư vấn của Toà không có tính chất rang buộc, nó là cơ sở công bằng cho các biện pháp ngoại giao và là tiếng nói khách quan, mạnh mẽ để đối trọng cái lưỡi bò Trung Quốc.
Có người tưởng lầm là (b) là giải pháp tối ưu cho Việt Nam vì nó đòi hỏi tối đa biển cho Việt Nam. Trên thực tế, tối đa khác với tối ưu.
Trên thực tế, khi đánh giá một giải pháp, không thể chỉ đánh giá giá trị nếu thành công, mà phải tính cả tính khả thi và hệ quả nếu thất bại, thí dụ đại khái như sau:
x = a * s – (1 – a) * f
x = giá trị của giải pháp
s = giá trị của giải pháp nếu thành công
f = hệ quả của giải pháp nếu thất bại
a = xác suất giải pháp thành công
Đối với giải pháp (b), xác suất thành công khoảng zero cho nên giá trị x hầu như chỉ là tai hại f.
Những giải pháp (c) tới (f), tuy s nhỏ hơn của giải pháp (b) nhưng a lớn hơn của giải pháp (b) cho nên có
thể có giá trị x cao hơn của giải pháp (b).
Trong lựa chọn giữa các giải pháp từ (c) tới (f), một trong những yếu tố quan trọng là giải pháp nào sẽ được nhiều nước ủng hộ nhất.
Trong tất cả các giải pháp, giải pháp (f) là công bằng nhất và dễ được các nước trên thế giới ủng hộ nhất. Vì vậy, tôi thích giải pháp (f) nhất.
Phân tích này nằm trong phạm trù Việt Nam cần làm gì để thoát khỏi hoàn cảnh hiện nay trong tranh chấp Biển Đông, eg, bao gồm cả chưa giải quyết được vấn đề (1).
Nó không nằm trong những phạm trù phán xét luân lý, lịch sử, chính trị. Những phạm trù đó là của các quan toà, luật sư và bồi thẩm đoàn luân lý, lịch sử, chính trị (*).
Chú thích:
(*) Vì những trường hợp chụp mũ, đáng tiếc phải nhấn mạnh là tôi đưa ra phân tích này không phải để đứng trong những hàng ngũ đó.
Về “nội thủy”: Lối lý luận này của ông Hòa Nguyễn bắt chước Humpty Dumpty trong Alice through the Looking Glass:
‘But “glory” doesn’t mean “a nice knock-down argument,”‘ Alice objected.
‘When I use a word,’ Humpty Dumpty said in rather a scornful tone, ‘it means just what I choose it to mean — neither more nor less.’
1. Theo thông lệ, khái niệm internal waters/eaux intérieures được chuyển sang tiếng Việt thành “nội thủy” hoặc “nội hải”. Như vậy, ngoài biệt lệ Hòa Nguyễn, người ta coi đây là 2 cách dịch của cùng một khái niệm.
Cụ thể, phần nước bên trong đường cơ sở nầy bao gồm cả sông, suối, vịnh, vũng và các dạng thủy lộ trong đất liền, cho nên gọi “nội hải” như Trương Nhân Tuấn và một số người là không chính xác.
2. Khi viết phần nước bên trong đường nối liền các đảo gọi là “nội thủy”, có lẽ Hòa Nguyễn lại mang máng đến khái niệm vùng nước quần đảo/archipelagic waters/eaux archipélagiques.
Thật ra, vùng nước quần đảo được coi gần như nội thủy ngoại trừ quyền tự do qua lại của tàu thuyền quốc tế. Nhưng nói ngược lại, nội thủy là vùng nước quần đảo thì trật lất.
Đó là chưa kể đường nối liền các đảo không nhứt thiết là đường cơ sở quần đảo/archipelagic baselines và phần nước nằm trong đường nầy phải thỏa những điều kiện nhứt định thì mới được cho là vùng nước quần đảo.
Tóm lại, đề nghị Hòa Nguyễn chịu khó đọc luật, đừng sáng tác khái niệm mới, của riêng mình.
3. Việc Phạm Quang Tuấn tố cáo sự vi phạm của các ông hoangtruongsa và Trương Nhân Tuấn là chính đáng. Nên nhớ, đây là hành động hack/cố ý vượt rào, không phải chuyện phạm nội quy thông thường.
Phải hiểu làm sao gợi ý của Hòa Nguyễn: Nhưng may BBT chỉ nhắc nhở chung (khá nhẹ)?
Ông Vũ Hữu San dùng từ “nội hải” chỉ phần biển nằm bên trong đường cơ sở và đầt liền (“Biển Đông”, Ch.8.5). Và ở đây, từ “nội thủy” dùng đến khi thảo luận về phần biển nằm trong các đảo ở TS (và cho TQ không có được vì không là nước quần đảo). Từ đó khi viết ở đây tôi dùng phân biệt hai từ tiếng Việt như vậy.
Trong khi góp ý về HS tôi nhắc tới Bạch Long Vĩ vì muốn so sánh với Tri Tôn, với những số liệu theo trí nhớ, và đã sai về vị trí đảo. Sách “Biển Đông” của VH-San viết về đảo BLV như sau:
“Khi được hỏi, Bộ trưởng Ngoại-giao Nguyễn Dy Niên đã trả lời phỏng vấn TTXVN mà VietNamNet ghi lai nội dung: Đường phân định đi cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải-lý, tức đảo được hưởng lãnh-hải rộng 12 hải-lý, vùng đặc-quyền kinh-tế và thềm lục-địa 3 hải-lý (25% hiệu lực?) (Chu+o+ng 8.4)”.
Thường những thông tin như thế chỉ được biết qua những phỏng vấn rải rác đây đó, nên khó có được sự chính xác, đầy đủ, và không thể tra cứu ở đâu.
Như vậy, Bạch Long vĩ, dài 4.5 km, rộng 1.6 km, có 1000 dân sinh sống, không được hưởng gì về đặc quyền kinh tế của một đảo có người cư ngụ và kinh tế tự túc theo UNCLOS. Trong khi Tri Tôn thì sao ? Không ai biết chắc vì chỉ dựa vào phỏng đoán, nhưng cũng sách “Biển Đông” cho biết đảo Lý Sơn nằm cách lưỡi bò TQ chỉ 40 HL (Ch. 8.8.2). Nếu TQ cho 41 hl làm vùng đánh cá chung giữa Lý Sơn và Tri Tôn là đáng mơ ước! Nhưng sự thật thế nào, ai biết được ? Dù sao, trong góp ý trước, tôi đã nhận lẫn lộn giữa vùng đánh cá chung ở vịnh Bắc bộ với miền Trung.
[…] Giải pháp nào tối ưu cho Biển Đông […]
Cho phép tôi biện minh cho NN CSVN nữa:
Tôi hiểu phần nước bên trong đường cơ sở gọi là “nội hải”, phần nước bên trong đường nối liền các đảo gọi là “nội thủy”.
Bác hiểu hơi sai.
Cho nên “lưỡi bò” được gọi là nội thủy (trong đường nối các đảo TQ cho là của họ) nằm ngoài đường cơ sở của TQ. Nếu dựa vào UNCLOS, TQ chỉ giải thích được như vậy.
Lưỡi bò mà là trong đường nối các đảo hỉ bác? Bác xem bản đồ nào đó? Theo các bản đồ lưỡi bò tôi biết tới thì đường lưỡi bò nằm ngoài đường nối các đảo.
Bạch Long Vĩ thì bác bảo nằm trong EEZ TQ, được lãnh hải 3 HL…
Giữa Lý Sơn, Tri Tôn thì bác bảo có ranh giới và vùng đánh cá chung…
Xin Ý kiến Tư vấn của TACLQT thì bác bảo, “để xoa dịu tạm thời bức xúc của dư luận”…
Ông Nghiêm Quang viết: “1. Nội thủy là phần nước bên trong đường cơ sở”.
Tôi hiểu phần nước bên trong đường cơ sở gọi là “nội hải”, phần nước bên trong đường nối liền các đảo gọi là “nội thủy”. Cho nên “lưỡi bò” được gọi là nội thủy (trong đường nối các đảo TQ cho là của họ) nằm ngoài đường cơ sở của TQ. Nếu dựa vào UNCLOS, TQ chỉ giải thích được như vậy.
Phần EEZ tôi nói tính từ HS và TS ra 200 HL là giả định TQ làm vậy để biện minh cho cái lưỡi bò “hiện nay” (không lý do tồn tại khi có UNCLOS).
Ông Phạm Quang Tuấn viết: “Ông Hòa Nguyễn vừa tranh luận với ông DD Huy vừa chụp mũ, mỉa mai (snigger) là ông DD Huy ‘biện minh’ cho nhà nước VN“.
Trước khi tôi viết góp ý đó, ông Huy đã viết: “Vì vậy bác, bác Trương Nhân Tuấn, bác Hoà Nguyễn không nên đả kích tôi ‘chạy tội cho CS’, ‘dọn sân’, ‘loa’, ‘biện minh’.”
Thật sự tôi thấy ông Huy và PQ-Tuấn biện minh nhiều lần cho quan điểm của nhà nước VN về HS & TS (không nói về chính trị), và chống lại ai nói bất lợi, nhưng chỉ viết nhẹ nhàng thôi, chỉ để ông Huy hiểu được, và ông Huy đáp ứng bằng dùng cách nói gộp “Trương Nhân Tuấn, hoangtruongsa et al”. Vậy là công bằng thôi.
Ông PQ-Tuấn thường chụp mũ mọi người, rồi tự tạo cho mình, và bạn bè, là nạn nhân của những chụp mũ, thì hơi buồn cười. Mới đây, lại tố cáo ông hoangtruongsa vi phạm luật gửi bài là để loại ông ấy vì lý do khác? Nhưng may BBT chỉ nhắc nhở chung (khá nhẹ).
Ông Hòa Nguyễn,
1.Nội thủy là phần nước bên trong đường cơ sở, trong khi EEZ lại tính từ đường nầy trở ra biển. Làm gì có chuyện “có khi hai thứ đó trùng lấp nhau”? Càng không thể khẳng định EEZ của Hoàng Sa, Trường Sa tạo thành nội thủy rộng choán cả biển Đông.
Hơn nữa, quyền tài phán đối với EEZ của quốc gia có chủ quyền yếu hơn rất nhiều so với nội thủy.
Biển 9 gạch của Trung Quốc hoàn toàn không dựa trên bất cứ điều khoản nào của UNCLOS 1982. Tìm cách lý giải cơ sở pháp lý của nó là chuyện vô ích.
2.Nếu là một nước quần đảo như Phi thì đòi EEZ 200 hl từ đảo Thitu (rất gần VN mà xa Phi) được sao? Tôi nhớ nước quần đảo chỉ được hưởng về nội thủy.
Nếu không có thời gian đọc Công ước Luật biển LHQ, ông có thể liếc qua wikipedia: “vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển mở rộng từ các quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo”, nằm bên ngoài và tiếp giáp với lãnh hải. Tại sao lại cấm quốc gia quần đảo không được có EEZ?
Ông Hòa Nguyễn vừa tranh luận với ông DD Huy vừa chụp mũ, mỉa mai (snigger) là ông DD Huy “biện minh” cho nhà nước VN. Nhiều khi hỏi một câu, DD Huy chưa kịp trả lời đã chụp trước! “Đây là dịp biện minh cho nhà nước VN?”, “Ông Huy chỗ này có biện minh cho VN không?”. Ông Trương Nhân Tuấn cũng làm y hệt. Đó là một lối tranh luận rất hèn.
Chụp mũ như vậy quá dễ. Chỉ cần bịa một cái gì về nhà cầm quyền VN (chẳng hạn: Hồ Chí Minh có hai cái sừng”), người tôn trọng sự thực sẽ sửa: HCM đâu có sừng, vậy là chụp mũ được ngay rằng họ biện minh cho CS!
Ông Huy viết: Phi không đòi Macclesfield.
Thử tìm trên Wiki sẽ thấy Phi-TQ đang tranh chấp tại đó (thêm Đài Loan). Nhưng vì là đảo ngầm nằm dưới nước biển nên không bên nào cho quân trú đóng được. Bãi ngầm này nằm gần TQ hơn VN một chút, nhưng nằm trong TLĐMR 350 HL tính từ VN. Đây là dịp biện minh cho nhà nước VN?
“Và bác Hoà bị lẫn lộn EEZ với nội thuỷ trong đoạn trên.”
Tôi không hiểu lầm nội thủy với EEZ. Có khi hai thứ đó trùng lấp nhau, thì dùng một từ cũng đủ. Tôi dùng nội thủy vì EEZ của HS và TS còn cách nhau, dù nối liền nhau cũng không thành lưỡi bò, còn phải kể hiệu lực các đảo TS của Phi mà TQ đòi.
Ông Huy viết:
1) Indonesia là quốc gia quần đảo (bác đọc
UNCLOS về ý nghĩa của điều này).
2) Indo đòi đảo của họ có 100% hiệu lực so với Côn Đảo, khác với việc đòi HSTS 100% hiệu lực so với đất liền.
3) Indo không thực hiện được đòi hỏi của họ.
1/ Nếu là một nước quần đảo như Phi thì đòi EEZ 200 hl từ đảo Thitu (rất gần VN mà xa Phi) được sao? Tôi nhớ nước quần đảo chỉ được hưởng về nội thủy.
2/ Côn Sơn nằm trên đường cơ sở của VN.
3/ Xem bàn đồ 1 trong đệ trình của Mã-VN, sẽ thấy đường ranh VN-Indo là trung tuyến giữa Natuna với Côn Sơn, lấn vào trong ranh EEZ 200 hl của VN. Bản đồ này do VN vẽ. Sách của VH-San xác nhận điều này.
Ông Huy chỗ này có biện minh cho VN không?
Tôi không nói ông Huy biện minh cho chế độ toàn trị, nhưng nếu VN không là thế thì dễ tìm được đồng minh để chống lại TQ hơn, nhưng đây là suy đoán không liên quan.
e/ Theo thỏa hiệp riêng giữa hai nước. Thí dụ Bạch Long vĩ của VN nằm trong EEZ của TQ được lãnh hải 3 hl.
Ai bảo bác BLV nằm trong EEZ của TQ và được 3 HL lãnh hải đó?
f/ Tham vấn tòa án quốc tế chỉ là chuyện “câu thời gian”, để xoa dịu tạm thời bức xúc của dư luận. Vì ai cũng thấy trong trường hợp có câu trả lời của tòa án thì cũng không ràng buộc ai, do đó không giá trị thực tiễn.
Sẽ có nhiều giá trị tuyên tuyền, ngoại giao với thế giới đó bác. Thí dụ:
_Toà nói các đảo TS chỉ được 24 HL EEZ thì VN có thể nói 1 cách thuyết phục với thế giới và các cty dầu khí là vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính không thuộc TS, hoàn toàn thuộc VN.
_CLCS và thế giới sẽ thấy rõ rằng phản đối của TQ là vô lý.
_VN có thể nói rõ ràng với thế giới những khi TQ dùng tranh chấp HSTS để lấn quá sâu vào biển VN.
Chưa kể nếu có ý kiến của Toà thì sẽ dễ dẫn tới sự đồng thuận giữa các nứớc ĐNA.
Thật sự tôi thắc mắc tại sao bác Hoàng Trường Sa và bác không chấp nhận giải pháp f.
Có phải 2 bác cho là VN phải được và có thể giành được nhiều hơn ý kiến của Toà?
Bãi cạn Scarborough thuộc về Phi, và TQ hiện tranh chấp. Bãi ngầm Macclesfield, ở Đông Nam HS, Phi và TQ cũng tranh chấp, rất tiếc là VN không dự phần đòi chủ quyền bãi ngầm này.
Luật quốc tế không cho đòi chủ quyền d/v bãi ngầm như d/v đảo. Phi không đòi.
a/ vô lý. Và nên thấy “lưỡi bò” TQ hiện nay còn tồn tại vì TQ dựa vào: EEZ 200 hl tính từ HS giáp với (hay gần giáp) 200 hl tính từ TS (khi HS, TS coi như của TQ), do đó tạo thành nội thủy rộng choán cả Biển Dông.
Nếu HSTS được EEZ ra tới lưỡi bò hay tới 200 HL thì hoá ra HSTS được hơn 100% hiệu lực. Giả sử HSTS có được 100% hiệu lực đi nữa thì EEZ chỉ ra tới trung tuyến thôi.
Và bác Hoà bị lẫn lộn EEZ với nội thuỷ trong đoạ trên.
Đã xảy ra trường hợp tương tự. Nhóm đảo Natuna của Indo, nằm xa về phía Bắc Borneo, vậy mà họ đòi chia bằng trung tuyến với Côn Sơn của VN (hay bờ biển VN),và được vậy.
Đoạn này sai vì thiếu hoặc sai 3 yếu tố quan trọng:
1) Indonesia là quốc gia quần đảo (bác đọc UNCLOS về ý nghĩa của điều này).
2) Indo đòi đảo của họ có 100% hiệu lực so với Côn Đảo, khác với việc đòi HSTS 100% hiệu lực so với đất liền.
3) Indo không thực hiện được đòi hỏi của họ.
(CT)
Cái công thức để tính giá trị của các giải pháp mà Bác Huy đề ra (sử dụng luôn cả xác suất) xem rất hay vì có vẻ toán học, nhưng tôi nghĩ cũng không dùng được vì nói cho cùng nó chỉ là lý thuyết suông. Thử hỏi có cách nào để biết chính xác xác suất thành công của mỗi giải pháp đề ra trong công thức? Liệu độ đáng tin của các xác suất đề ra la bao nhiêu ?
Đó là phương pháp Decision Tree trong lãnh vực Strategic Analysis. Lãnh vực Risk Assessment cũng có phương pháp tượng tự eg, probability * impact.
Dĩ nhiên chỉ có thể ước lượng xác suất, nhưng dù ước lượng thì
a) Phương pháp đó cũng là một cái khung để phân tích chiến lược, rủi ro, cơ hội. Cái khung đó phải có 2 yếu tố: probability và impact.
b) Cũng hơm cách suy nghĩ của bác, bác TN Tuấn, bác Hoà Nguyễn: các bác chỉ xét theo impact (đòi nhiều là tốt) mà không xét tới probability thành công là bao nhiêu, nếu thất bại sẽ bị thiệt hại gì.
Giải pháp tốt nhất của VN, theo tôi, là Dân chủ hóa đất nước
VN có dân chủ hoá thì cũng không thực hiện được (b) và vẫn có nguy cơ TQ thực hiện được (a).
Vì vậy, nếu có dân chủ hoá thì cũng vẫn cần nghĩ tới c, d, e, f.
Mà các biện pháp c, d, e, f đâu có cấm cản dân chủ hoá gì đâu.
Vì vậy bác, bác Trương Nhân Tuấn, bác Hoà Nguyễn không nên đả kích tôi “chạy tội cho CS”, “dọn sân”, “loa”, “biện minh”.
Nếu theo cách suy luận của bài này, sẽ không đi đến đâu. Nhưng thử góp ý từng phần.
Bãi cạn Scarborough thuộc về Phi, và TQ hiện tranh chấp. Bãi ngầm Macclesfield, ở Đông Nam HS, Phi và TQ cũng tranh chấp, rất tiếc là VN không dự phần đòi chủ quyền bãi ngầm này.
a/ vô lý. Và nên thấy “lưỡi bò” TQ hiện nay còn tồn tại vì TQ dựa vào: EEZ 200 hl tính từ HS giáp với (hay gần giáp) 200 hl tính từ TS (khi HS, TS coi như của TQ), do đó tạo thành nội thủy rộng choán cả Biển Dông.
b/ Nếu đảo Phú Lâm , TQ chiếm của VN năm 1956, được biến thành nơi có kinh tế tự thân,thì từ đó TQ có thể đòi EEZ 200 hl, và VN nên phòng bị trường hợp này. Trước hết, TLĐMR VN vừa đệ trình LHQ có hình tam giác đáy ở trên, sẽ gần như bị xóa sạch (và sẽ thuộc EEZ TQ). Kế đó, EEZ VN tính từ đảo Lý Sơn sẽ bị thu hẹp. Tất nhiên là điều VN không muốn, nhưng không thể ngăn tham vọng TQ.
Đã xảy ra trường hợp tương tự. Nhóm đảo Natuna của Indo, nằm xa về phía Bắc Borneo, vậy mà họ đòi chia bằng trung tuyến với Côn Sơn của VN (hay bờ biển VN),và được vậy.
d/ là giả định không thể quyết dịnh gì được.
e/ Theo thỏa hiệp riêng giữa hai nước. Thí dụ Bạch Long vĩ của VN nằm trong EEZ của TQ được lãnh hải 3 hl. Nhưng Tri Tôn hiện của TQ nằm trong EEZ của VN, chắc chắn TQ đòi nhiều hơn.
f/ Tham vấn tòa án quốc tế chỉ là chuyện “câu thời gian”, để xoa dịu tạm thời bức xúc của dư luận. Vì ai cũng thấy trong trường hợp có câu trả lời của tòa án thì cũng không ràng buộc ai, do đó không giá trị thực tiễn.
hoangtruongsa nói: “Giải pháp tốt nhất của VN, theo tôi, là Dân chủ hóa đất nước, thay thế chế độ độc tài toàn trị CS hiện nay bằng một chế độ thật sự tự do, dân chủ để đoàn kết toàn dân trong và ngoài nước, cùng nhau xây dựng lại nội lực dân tộc, để nhanh chóng đưa nước ta ra khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu, và đưa nước ta vào hàng ngũ những nước thật sự văn minh, tôn trọng dân quyền và nhân quyền, được thế giới có cảm tình và kính nễ (như Nhật Bản chẳng hạn). Từ vị thế đó, ta sẽ đứng ra đối mặt và đương đầu với TQ không những chỉ ở Biển Đông mà còn trên mọi lãnh vực khác trong thế mạnh mà TQ cũng sẽ phải hiểu và tìm cách thỏa hiệp.”
Nếu VN phát triển nhanh gấp rưỡi TQ, tức là khoảng 11-12% (xưa nay chưa có nước dân chủ nào phát triển nhanh như vậy cả) thì tính sơ sơ cũng chừng hơn 100 năm GDP của VN mới bằng TQ. Mà vẫn chưa có bom nguyên tử như nó. Lúc ấy dầu lửa thì bị hút hết tiêu từ lâu rồi, phần lớn đảo cũng chìm dưới mặt biển đang dâng, một phần ba đồng bằng Cửu Long đã chìm dưới nước biển (http://ideas.repec.org/p/wbk/wbrwps/4136.html), người Việt thiếu gạo, dân tị nạn tràn ngập Tây Nguyên, hy vọng việc này không ảnh hưởng lên tốc độ phát triển GDP kỷ lục của VN! Còn trở thành như Nhật (tức là kinh tế thứ hai trên thế giới)? Đúng là tự sướng!
Trước hết tôi xin cám ơn Bác Dương Danh Huy đã kiên nhẫn chịu khó viết bài để phân tích lợi hại trong việc tìm một giải pháp tối ưu cho vấn đề Biển Đông. Theo tôi, bài viết này rất khúc triết và có giá trị.
Tuy nhiên, tôi nghĩ ta cần phân biệt rõ ràng giữa lý thuyết và thực tế. Việc TQ trắng trợn tuyên bố chủ quyền trên vùng lưỡi bò ở Biển Đông rõ ràng là xâm phạm trầm trọng vào chủ quyền của VN và các nước khác như Phi Luật Tân, Mã Lai Á v.v… Theo tôi hiểu thì thì ngay từ nguyên thủy (dưới thời Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch) phía TQ đã vẽ bản đồ lưỡi bò một cách tùy tiện bao trùm cả hai quần đảo HS, TS và chiếm gần 80% Biển Đông. Sự thật là như vậy, chứ không phải là vì họ tranh giành chủ quyền ở HS, TS và sử dụng sự tranh chấp này để chém vào Biển Đông của VN và các nước Đông Nam Á. Sự thật là họ đòi tất cả trong cùng một lúc, và chiến lược đầu tiên của họ là chiếm đóng một phần của HS trước đây (khi họ chưa có đủ thực lực để tiến xa hơn về phía Nam) và sau đó chiếm thêm một số đảo khác ở TS. Khâu quan trọng nhất mà họ đã thực hiện thành công trong âm mưu làm chủ lưỡi bò TQ là cái Công hàm Phạm Văn Đồng của VN thưà nhận HS, TS (và vùng lưỡi bò TQ) là thuộc về TQ. Ở đây tôi không muốn nhắc lại những phê phán về lỗi lầm của ông Hồ và đảng CSVN khi ký cái Công hàm này. Chỉ muốn nói là phía VN đã bị lâm vào cảnh “há họng mắc quai” kể từ ngày đó và cho đến hôm nay vẫn chưa tìm ra cách để thoát ra khỏi cái vấn nạn lưỡi bò TQ này.
Trong bài viết của Bác Huy, mục tiêu duy nhất của Bác là tìm một giải pháp “tối ưu” để thoát ra khỏi cái gọng kìm của Công hàm PVĐ và cái thế yếu của VN trước âm mưu xâm lược lấn chiếm Biển Đông của TQ. Bác đòi hỏi mọi người bỏ qua mọi khía cạnh khác, chỉ chú trọng vào một mục đích duy nhất là phá cái lưỡi bò này để giành lại một phần biển mà đáng lý VN phải có. Một điều quan trọng trong giải pháp của Bác là phải tìm đồng minh để cùng nhau hợp lực chống lại sự xâm lấn của TQ. Điều này tôi hiểu được và đồng ý. Tuy nhiên, khi Bác mượn giải pháp chia Biển Đông mà xem như không có HS, TS của Tiến sĩ Mark Valencia và đề nghị VN nên theo để “tối ưu hóa” quyền lợi của VN trong hoàn cảnh hiện nay, cá nhân tôi nghĩ rằng đây chẳng qua chỉ là giải pháp của kẻ cùng đường, tìm cách giới hạn tối đa các thiệt hại gây ra do Công hàm PVĐ (giải pháp mà tôi gọi là “cực tiểu hóa thiệt hại”). Một điều tôi thấy rõ nhất là khi sử dụng giải pháp này của Bác, VN bị thiệt rất nhiều ở TS cũng như ở HS. Trong một ý kiến trong bài “Tìm hiểu hồ sơ thềm lục địa cua VN” tôi đã cố gắng chứng minh rằng khi sử dụng giải pháp của Bác kẻ được lợi nhất là Phi Luật Tân và kẻ bị thiệt nhất vẫn là VN. Sự thật là ngoài việc tìm thêm đồng minh và chịu nhượng bộ Phi ở TS, xem ra giải pháp này cũng khó thực hiện được trước sự chống đối hung hăng của TQ. Thời gian sẽ trả lời là mọi chuyện sẽ kết thúc ra sao. Ta hãy chờ xem.
Cái công thức để tính giá trị của các giải pháp mà Bác Huy đề ra (sử dụng luôn cả xác suất) xem rất hay vì có vẻ toán học, nhưng tôi nghĩ cũng không dùng được vì nói cho cùng nó chỉ là lý thuyết suông. Thử hỏi có cách nào để biết chính xác xác suất thành công của mỗi giải pháp đề ra trong công thức? Liệu độ đáng tin của các xác suất đề ra la bao nhiêu ? v.v…
Giải pháp tốt nhất của VN, theo tôi, là Dân chủ hóa đất nước, thay thế chế độ độc tài toàn trị CS hiện nay bằng một chế độ thật sự tự do, dân chủ để đoàn kết toàn dân trong và ngoài nước, cùng nhau xây dựng lại nội lực dân tộc, để nhanh chóng đưa nước ta ra khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu, và đưa nước ta vào hàng ngũ những nước thật sự văn minh, tôn trọng dân quyền và nhân quyền, được thế giới có cảm tình và kính nễ (như Nhật Bản chẳng hạn). Từ vị thế đó, ta sẽ đứng ra đối mặt và đương đầu với TQ không những chỉ ở Biển Đông mà còn trên mọi lãnh vực khác trong thế mạnh mà TQ cũng sẽ phải hiểu và tìm cách thỏa hiệp. Đó mới là giải pháp tối ưu cho VN nói chung và Biển Đông nói riêng, chứ không phải vừa ôm 16 chữ vàng, vừa tụng 4 tốt lại vừa nhượng bộ các nước láng giềng để cố vùng vẫy thoát khỏi bàn tay sắt của người đồng chí vĩ đại TQ.