Abebeche ê chề bá quyền bành trướng (3)
24/05/2009 | 6:00 sáng | 5 Comments
Category: Quan hệ Việt – Trung, Tạp văn, Thế giới
Thẻ: Trao đổi (các nước miền) Nam-Nam > Trung Quốc tại châu Phi > Vụ bauxite
Nếu trước kia, Trung Quốc đã lầm lẫn đau đớn khi theo Mỹ và chấm các người đẹp về sau bị thất bại ở đây và ở kia như phong trào UNITA ở Angola và KANU ở Zimbabwe, thì bây giờ Trung Quốc vui vẻ với lại các hoa hậu khôi nguyên, các tổng thống (mãn đời) nào có cần thì Trung Quốc xây thêm ngay cho một dinh mới!
Gbagdolite ở Congo là quê hương giang phong ngư hỏa đối sầu miên của Mobutu Sese Seko, một cái làng xó xỉnh giữa rừng bỗng nhiên có phi trường quốc tế và dinh thự mọc ra như nấm rạ sau mưa. Chủ tịch nước thì có những ba, dinh chính thức của bà vợ cả, dinh của bà hai (lại là chị em song sinh với lại bà đầu, nhưng đừng hỏi tôi tại sao). Dinh thứ ba (có lẽ là để ông được yên thân một mình) do Trung Quốc xây dựng, một phiên bản quái gở của Tử Cấm Thành giữa rừng già châu Phi. Nhưng nói thế, Thành Nội ở Huế có phải là một phiên bản quái gở của Tử Cấm Thành bên bờ sông Hương hay không, và các vua nhà Nguyễn chỉ khác gu ông Mobutu chỉ có một chút xíu hay là không khác một chút nào? Các chuyện này, thì cũng lại có một ông vương Ấn Độ cất cung điện theo mẫu Versailles ở Pháp và có một vua Saudi xây Toà Nhà trắng ở Tây Ban Nha (!) nhưng mà to lớn hơn bản chính. Thôi thì mỗi người một hàng nhái mô đen.
Có điều, trước khi trách Trung Quốc quá chiều quái nhân này thì phải nhớ các đấng sinh thành ra ông là cha Mỹ và mẹ Pháp, nuôi dưỡng ông nên… Thống tướng (“Người chiến sĩ chinh phục tất cả và đi từ chiến thắng này đến chiến thắng khác”), và khi ông không chiến thắng thì gởi Lê dương sang cứu (1977-78).
Tại Zimbabwe cũng thế, Trung Quốc trở mặt rất dễ dàng, ôm vai bá cổ các lãnh tụ ngày trước là thù địch hay ngay cả những lãnh tụ mà ai cũng muốn tránh. Ông Mugabe có bị coi là hủi ở đâu thì vẫn trông cậy vào được tình bạn của Bắc Kinh, đây này cầm lấy, giúi cho ông 200 triệu USD súng đạn (2004) trong lúc Zimbabwe bị nghiêm ngặt cấm vận.
Năng động và hữu hiệu, vỗ vai vài cái là hiểu, cần tiền là có liền, năm 2004, Angola nhận được 2 tỉ tiền cho mượn, bị quốc tế (nghĩa là Tây phương) trề môi ra phê bình là trong những điều kiện thiếu trong sáng. “Thiếu trong sáng” thì World Bank, IMF thì đừng nên mở miệng mắc quai với những ý đồ gì đây của các tổ chức này. Trung Quốc lại rộng rãi, khi không trả được thì… thôi, cười hề hề và quên đi 10 tỉ tiền nợ của lục địa. Năm 2007 phát triển của cả châu đạt mức +5,8% chưa từng thấy, riêng Angola năm 2006 đạt +26 %! Hẳn một phần nào nhờ vào quan tâm mới của cường quốc phương xa và dần dà bớt lạ này, mặc cho ngoại trưởng Jack Straw của Anh Quốc, tức là thực dân cũ, thực dân còn lắm quyến luyến và thực dân đang bị đẩy ra ngoài, mỉa mai mà “Xin chào những thực dân mới”.
Với một số lớn quốc gia Phi châu, bất kể màu sắc chính trị gì, thì Trung Quốc là một gương sáng về nhiều mặt. Thứ nhất là về mặt quyền lực ổn định, biết lùa tăng ra quảng trường khi cần thiết và cho tôi nói lại, cái này thì nhiều nước châu Phi không cần phải học ở người bạn khổng lồ. Thứ nhì là về mặt kinh tế, dầu gì cũng phải nhận là Trung Quốc đã có một mức phát triển như mơ trong hai thập niên rồi, đưa 400 triệu người Trung Hoa ra khỏi nghèo khó. Hai việc này không phải là không có liên hệ, như một doanh gia Trung Quốc nhận xét (ở đâu tôi đã quên mất) là người ta không thể dùng tiền mua tình yêu được nhưng người dân nước ông đã lấy dân chủ và tự do đánh đổi với phát triển.
Đây là đế đạo, “Đất nước đi lên” mà các nhà cầm quyền châu Phi mong bắt chước. Bọn nghèo đói có miếng ăn không làm loạn, số lớn và rất lớn của phát triển thì rơi vào túi của nhóm quyền thế và củng cố chế độ.
Chẳng những Trung Quốc đối với châu Phi lại không có nợ nần tiền kiếp (khác với các đế quốc thực dân châu Âu, và khác với trường hợp của Việt Nam), chính quyền của nước này vừa vui tính xuề xoà mà lúc cần cũng biết sừng sỏ anh chị. Trung Quốc không dễ gì mà hăm dọa được, khi các nhân viên người Hoa tại Ogaden (Ethiopia, 2007) bị phiến loạn giết thì Trung Quốc vẫn phớt lờ chuyện nhỏ. Gặp trường hợp như vầy, các công ty Tây phương thì đã di tản thành phần chuyên gia nước ngoài hay là đóng hẳn cửa. Quan trọng hơn, là tác phong đại ca của Trung Quốc trong trường hợp Sudan. Đây là quốc gia xuất 60% sản lượng dầu sang Trung Quốc (7% số dầu Trung Quốc tiêu thụ) và từ 1999 đã nhận 3 tỉ tiền đầu tư của anh Ba. Khi vấn đề Darfur được Tây phương để ý đến và nghiêm khắc phê bình thì Trung Quốc đã không ngần ngại đưa đôi vai Từ Hải ra mà che chở bạn. Nghị quyết 1564 của Liên Hiệp Quốc không có phiếu của Trung Quốc và nước này hăm doạ sẽ dùng quyền phủ quyết nếu các đề nghị trừng phạt Sudan đi thêm một bước.
Đây, nhìn từ phía Tây phương có thể coi là một thái độ côn đồ nhưng nhìn từ phía Sudan và một số chính quyền châu Phi thì là một thái độ bảo bọc và đàn anh hiên ngang. Tương tự, ta có thể phê bình là số vũ khí bán cho lục địa này (2003-2006) đến 15,4% là do bởi thằng Trung Quốc. Thật kinh hoàng và ghê tởm thay đứa lái buôn súng đạn! Nhưng ngược lại, cũng trong thời gian này 84,6% vũ khí còn lại là được bán bởi do những thằng nào (hả ông Jack Straw)?
*
Tuy vậy, tuần trăng mật của Trung Quốc với Phi châu không phải là lúc nào và ở đâu cũng đẹp. Khác với các công ty Tây phương chỉ “nhập” vào chuyên gia và cán bộ nước ngoài, Trung Quốc mang cả công nhân lao động sang để thực hiện các dự án nên không giúp gì giải quyết nạn thất nghiệp rất cao tại lục địa. Có tiến bộ đôi chút về mặt giao tiếp (ở cấp chuyên gia), nhưng lao động Trung Quốc đại đa số không hội nhập với môi trường địa phương, sinh hoạt riêng rẽ và kín cổng cao tường, không đóng góp nhiều vào kinh tế của tiểu thương tại chỗ (tiêu thụ, ăn sài, thư giãn). Nếu lãnh đạo Trung Quốc vỗ bụng lãnh đạo châu Phi thì thường ngày, nhân viên Trung Quốc đối với các công nhân da đen dưới quyền không được gắn bó như vậy.
Dư luận địa phương bắt đầu thấy họ cũng có cung cách coi thường và kỳ thị, tuy nói chung sự kỳ thị này thể hiện ở sự xa cách lầm lì hơn là ở sự hống hách khinh khi. Đây đó, có bộ trưởng (lao động) không được vào xem xét công trường do công ty Trung Quốc quản lý; có quan chức tỉnh, huyện không được vào thăm cư xá công nhân người Hoa. Tiếng xấu đồn xa, dư luận Angola hô lên là số người Trung Quốc sống ở trong nước họ lên đến ba hay bốn triệu! Vặn hỏi sao ra đường không thấy ¼ đó đâu cả (dân số Angola là 13 triệu) thì được trả lời là vì họ sống tại các công trường rừng núi! Thật ra cũng không ai biết số lượng này là bao nhiêu, các ước tính từ 30 ngàn cho đến 100. Điều chắc chắn, là năm 2008, hàng không quốc gia TAAG khánh thành đường bay thẳng từ Luanda đến Bắc Kinh, một tuần bốn bận và trong năm 2007, sứ quán Angola đã cấp 22.000 visa cho người Trung Quốc. Họ đến thì sợ họ tràn đầy nên họ đi thì chẳng ai tiếc. Khi công trình đường ray Lobito (Angola) bị bỏ dở, một anh bảo vệ gác các cư xá bỏ hoang của lao động Trung Quốc cho biết “Chẳng rõ bao giờ họ trở lại. Họ thịt hết chó và bỏ đi rồi”.
Việc 70% của quỹ trợ giúp Angola 2 tỉ được dành cho các công ty Trung Quốc từng bị doanh gia Angola phản đối vì phần của họ chỉ còn có 30% (quỹ này đã lên đến 7 tỉ hiện nay). Tuy nhiên, lấy một thí dụ hẳn là cực đoan, thì doanh gia Angola còn may mắn. Chính quyền (Bảo hộ) Lâm thời (CPA) của L. Paul Bremer tại Iraq năm 2003-2004 tiêu hộ hết 12 tỉ tiền vào túi các doanh gia Mỹ mà theo thanh tra đặc biệt Stuart Bowen (của chính phủ Mỹ) là có đến 8,8 tỉ không biết dùng vào việc gì! Khi bị vặn hỏi thì trả lời đã sẵn, đây là tiền của Iraq và đúng vậy, không phải tiền viện trợ Mỹ nên không cần sổ sách! “Thiếu minh bạch” ở đây mới là ý nghiã, không tin tôi thì hỏi Ủy ban Quốc hội Hoa Kỳ.
Các tập đoàn Trung Quốc có lúc không trả lương cho công nhân lao động như là ở Nam Phi, hoặc điều kiện lao động cơ cực khiến công nhân địa phương bỏ việc như là ở Congo. An toàn lao động thấp, một nhà máy thuốc nổ ở Zambia thì… phát nổ, làm 50 người thiệt mạng. Tại mỏ Chambishi (Zambia), các công nhân phản đối điều kiện sinh sống bị an ninh nổ súng làm sáu người bị thương. Công nhân Angola ở cấp cầm cuốc cầm xẻng kể là các xếp Trung Quốc chỉ biết nói có một chữ địa phương là “Đào đi, đào đi”. Phê bình này mà nghe người da trắng kể mới thú vị, tiếng địa phương ở đây là tiếng Bồ Đào Nha chứ không phải là một thổ ngữ Bantu. Bọn mọi lười ối thây này muốn xếp nói gì đây, Hạc quy lai hề, quy lai quy lai hề bằng ngôn ngữ của Fernando Pessoa cho chúng mày nghe (O heron passa eh, passa passa eh theo bản dịch vi tính Babelfish) ?
*
Mặc dù có những sứt mẻ này, Tổng thống Zambia là Rupiale Banda mới đây vẫn chọn công ty Trung Quốc NFC Africa để khai thác quặng mỏ (đối thủ không may của ông là Michael Sata thì từng dọa là sẽ đuổi Bắc Kinh đi để công nhận Đài Loan nếu ông trúng cử và nào ai sẽ làm gì nhau). Vẫn biết, Zambia không có quần đảo bị xâm chiếm và Zambia cũng không có ý định mua lại sáu tàu ngầm của hải quân Serbia tuy cả hai quốc gia này đều ở chung một hoàn cảnh địa lý là không có bờ biển.
Zambia có quặng mỏ và Việt Nam có quặng mỏ, đều do Trung Quốc khai thác.
Zambia không có bờ biển, không có tàu ngầm.
Việt Nam không có tàu ngầm, có bờ biển.
Serbia có tàu ngầm nhưng không có bờ biển từ khi Montenegro trực thuộc trở thành độc lập.
Đến đây tôi nghĩ ra tại sao Việt Nam lại không bán cho Serbia bờ biển, vậy là khỏi phải lo việc bảo vệ lãnh hải nhưng tôi sợ là độc giả sẽ không muốn đọc tôi tiếp.
Một nhà bình luận ở ngoài nước, trong một bài viết nghiêm túc về nhức nhối Tây Nguyên http://www.viettan.org/spip.php?article8551, trong khi đang đặt những câu hỏi rất chính đáng lại buột miệng “Có thật đã có những vụ đòi lấy vợ Việt và chửa hoang ở nơi có công nhân Trung Quốc?”. Hóa ra chẳng phải tôi vớ vẩn khi đề cập đến chuyện lấy chồng Đài Loan ở trên. Đây mới là quan ngại thật của các ông chăng? Chửa hoang chẳng dính dáng gì đến quyền lợi kinh tế của quốc gia và đòi lấy vợ thì đã sao? Lấy vợ không phải là hủy hoại môi sinh của cả nước hay là môi sinh của các sắc tộc trong vùng.
Thế có chuyện đòi lấy vợ sơn nữ hay không ở nơi có người Việt đến trồng càfé?
Có thật đã có những vụ đòi lấy vợ Mỹ ở Westminster, California, đòi lấy vợ Pháp ở quận 13 Paris, vợ Đức, vợ Úc… cái này không thể chối cãi và che giấu mãi!
Chuyện không phải là công nhân Trung Quốc kéo sợi chỉ hồng đến tận Lâm Đồng và cán bộ nhà máy Đài Loan kéo sợi chỉ này đến tận Gò Vấp mà là chuyện lao động Việt Nam bị chèn ép ở trong cơ xưởng, chủ quyền Việt Nam bị đe dọa ở trên biển, môi sinh Việt Nam bị đe dọa ở đất liền. Chứ còn họ lấy vợ cho thì đã phước, ai mà chả thích lên quần áo đẹp đi dự tiệc nhà hàng.
*
Tang Ming nhận nhiệm sở mới ở Kenya, vừa yên phần nhà cửa, là chàng vời Abebeche sang ngay. Họ có những tuần đi Mombasa tắm biển, khi kể lại cho tôi nghe mắt cô vẫn còn long lanh nắng Ấn Độ Dương. Khi người ta yêu nhau, khi người ta yêu một người Trung Quốc, thì Reef Hotel là resort 3 sao cũng thần tiên ngang ngửa với lại White Sands những 4. Cuộc sống đầm ấm, du dương, đầy đủ và ở nước ngoài này kéo dài tưởng như không bao giờ dứt.
Nhân một dịp hân hoan quá độ và quên cả thận trọng, Tang Ming đánh bạo làm liều, chụp ảnh chung hai người gởi về giới thiệu với gia đình. Anh và cô đứng trước biển xanh sẫm và trên cát vàng, trời thì màu xanh nhạt, cây dừa thì màu xanh lá cây và mây lại trắng nhưng Abebeche thì chỉ một màu đen.
Mở attached file ra từ hộp thư yahoo.com.cn mẹ chàng suýt nữa thì đột quỵ, cô láng giềng của Tang Ming đang đứng cạnh màn hình oà lên khóc và bỏ chạy về phòng đóng kín cửa lại. Sau một ngày nhịn cơm, mẹ cô này phải ra đúng nhà hàng Nanxiang Mantou Dian mua xiaolongbao mang đến tận giường để vực cô dậy. Vừa thắt lại nơ hồng trên cặp bím cô vừa thút thít “Nếu muốn làm nhục con sao anh ấy không lấy quách một đứa… Tibet, mang nó về mà thờ cùng với thằng cha Đạt Lai Lạt Ma!”
Đoạn này tôi chỉ hư cấu có phần đầu. Thật ra, mẹ cô phải điện cho đúng Pizza Hut giao bánh pepperoni-cheese-mushroom đến tận nơi; cô hôn thê quê nhà của Tang Ming thật ra nhuộm tóc vàng chói và nơ hồng thật ra cô chỉ có một cái, không phải trên tóc mà đính vào sau đít quần lót g-string để lòi ra phía sau trên quần đai xệ. Phần phát biểu của cô về Tibet thì tôi giữ nguyên và khi lặp lại, Abebeche còn hỏi tôi ông Dalai Lama là ông nào.
Abebeche vùng vằng bỏ Kenya về xứ. Công nhân Trung Quốc (ở đây là phó giám đốc ) mà lấy cô thì cô chỉ mong có vậy! Cô sống với Tang Ming vì tình cảm, những tưởng răng long đầu bạc, và có một đàn bé nhôm nhôm màu nâu đậm nhạt nô đùa cạnh bờ sông Hoàng Phố hay cạnh hồ Tana trong khi đợi bố xách cặp da lái xe con điều hòa đi làm về. Abebeche không phải là gái bao gái nhảy, cô có ăn có học, cha cô trước kia là sĩ quan trong hải quân Ethiopia (Ethiopia không còn bờ biển khi Eritrea trở thành độc lập năm 1993 và binh chủng này chỉ còn có giòng Nile Xanh để mà thao diễn bằng ghe ) . Nhưng sau thời gian gá tình gá nghĩa với Tang Ming, cuộc sống của cô đã đổi khác. Trở về nước, cô không còn là sinh viên trong trắng (hay trong đen, cho tôi nói lại) của chỉ hơn năm về trước. Mới 21 tuổi, Abebeche đã ê chề, thân em giờ hoang phế (Vũ Thành An). Đêm đêm cô theo bạn gái vào những vũ trường uống rượu Bồ đào bằng chén dạ quang mà thẫn thờ cổ lai Trung Quốc kỷ nhân hồi.
Cho đến khi tôi gặp nàng, Tang Ming vẫn còn tiếp tục từ Thượng Hải gọi điện mà khóc lóc ỉ eo nhưng mang nàng về nước thì vì chữ hiếu và vì xã hội cay nghiệt, Tang Ming không thực hiện được. Họ Đặng có bảo “Mèo đen hay mèo trắng không cần biết, miễn là bắt được chuột” để mở đầu Tứ hiện đại hoá, ở Trung Quốc câu này vẫn chưa áp dụng được vào với phụ nữ.
Tang Ming đành chịu, Đường Minh, và đây là tên tôi đặt ra cho chàng trai bất hạnh này sau khi chàng tặng cho Abebeche một dải lụa bạch chứ không phải là tên thật:
Tôi tưởng tôi là Tang Ming Hoàng
Đang đêm nhớ nàng Dương Hắc Phi
(Xuân Diệu)
Tôi nhìn Abebeche (cũng không phải tên thật, ngoài các tên ra thì câu chuyện này trung thực và chính xác đến mức có thể). Tôi nhìn Abebeche:
Tôi cũng không mang cô về Trung Quốc được, tôi chỉ có thể dậy cô làm nước mắm cá.
*
Cách đây đã mươi, hai mươi năm, tôi có được xem một bộ phim tài liệu về trao đổi giữa các nước miền Nam, nghĩa là Nam bán cầu hay nói cách khác, là trao đổi trực tiếp giữa các nước thuộc thế giới thứ ba.
Tại Sénégal có một làng đánh cá, khi mất mùa thì không nói làm gì, khi hiếm hoi được mùa thì phải để hư thối. Nước Phi châu này, tuy tương đối mở mang nhưng cũng như những nước Phi châu khác, thiếu hạ tầng đường xá, mà khoảng cách ở đây lại bao la. Muốn mang đi nơi khác bán thì phải có phương tiện, có xe tải, và phải có đường. Muốn giữ thì phải có kho lạnh, muốn đóng hộp thì phải có nhà máy, tức là phải có điện. Những chuyện này không biết khi nào mới có thể thực hiện, phương Tây thì không muốn ngó mắt, còn Trung Quốc thì dần dà cũng có thể mang công nhân đến, nhưng đó là phải sau khi đã khai thác hết bô-xít ở Việt Nam.
Trong khi chờ đợi, một cơ quan thuộc Liên hiệp quốc hay một NGO quốc tế, tôi đã quên mất, bèn nảy ra sáng kiến là gởi sang làng này dăm ba chuyên gia Việt Nam gốc Phú Quốc hay là Phan Thiết. Các chuyên gia này giúp dân làng khi dư cá thì làm vựa mà cất nước mắm! Tuy không hề dùng qua nước mắm, dân làng Sénégal này cũng tập chan vào hạt kê, lại có ý làm dư đóng chai để xuất cảng! Việc ăn cho quen dần thì tôi hiểu, càfé và bánh mì thịt cũng chẳng phải là những món ăn món uống Việt Nam truyền thống nhưng ngày nay người Việt nào mà không biết, không dùng. Nhưng còn việc xuất cảng thì xuất cảng đi đâu, chẳng lẽ xuất cảng nam pla Sénégal sang Thái Lan? Tôi nghĩ là chỉ có thể xuất sang những chỗ cộng đồng Việt kiều còn hung hãn, tẩy chay về nước du lịch, tẩy chay hàng sản xuất trong nước (áo Timberland, giày Adidas, quần The North Face v.v…) Đây là nước mắm Made in Sénégal không phải là nước mắm Made in (Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa) Việt Nam.
Và ăn nước mắm mãi, người Sénégal biết đâu cũng sẽ nảy ra thêm ca sĩ, và chương trình Thuý Nga-Dakar có thể mang họ sang Casino Morongo, Casino Pala mà biểu diễn không sợ bị chống đối?
Chuyện nước mắm này có hậu để kết luận một bài viết không ra đầu đuôi. Đó là hợp tác bình đẳng và vừa tầm giữa những quốc gia cùng một mức phát triển như Việt Nam và Ethiopia chẳng hạn. Thiết lập một quan hệ bạn bè và có lợi cho cả đôi bên vì học thày không tày học bạn. Việt Nam không phải là cha chú Anh Pháp, không phải là thày đời Mỹ Nga, và không phải anh Hai Đài Loan, anh Cả Trung Quốc. Việt Nam ngang hàng cho nên chơi được và trong khi chờ đợi Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm viếng 38 nước Phi châu như phó thủ tướng Tiền Kỳ Tham trước đó đã làm, trong khi chờ đợi Chủ tịch Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng công du lục địa, trong khi chờ đợi thì tôi nói với Abebeche:
Anh đến thăm, áo anh mùi nước mắm.
(Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng, Nguyễn Văn Đông)
Abebeche đang đỏ hoe đôi mắt (to, đẹp và rung rinh), tôi thấy lóe sáng một nụ cười trên khuôn mặt tối sầm và đen thui.
*
Bạn đọc có thể xem Richard Dowden http://www.amazon.com/Africa-Altered-States-Ordinary-Miracles/dp/184627155X/ref=sr_1_1?ie=UTF8&s=books&qid=1242434644&sr=1-1, có cả một chương dành cho quan hệ giữa Trung Quốc và châu Phi (được tác giả đặt là “Asia and Africa” có lẽ để cân xứng hai lục địa mặc dù Asia ở đây chỉ là Trung Quốc). Quyển sách này về những nước châu Phi đọc dễ như là thể loại truyện và có một cái nhìn tích cực và lạc quan, khác với dư luận thông thường.
Đi vào chi tiết và tranh luận, lục lạo trên mạng có rất nhiều, điển hình như ở đây http://www.cfr.org/publication/12622/is_chinese_investment_good_for_africa.html, tốt xấu ra sao http://www.yesmagazine.org/article.asp?ID=1700, nhìn từ Phi châu www.fahamu.org/downloads/cia_download.pdf (dưới dạng pdf để tải về) hay là một bảng tổng hợp thông tin như ở đây www.chinavest.com/pdf/China-Africa%20Investments.pdf (dưới dạng pdf để tải về).
Sau cùng, tôi mong là đã tạo được sơ sài bằng một cách lăng nhăng sự quan tâm nơi người đọc Việt với châu Phi.
Về ca sĩ Sénégal, dĩ nhiên là Akon không phải đợi DVD Việt Nam để nổi tiếng thế giới và MC Solaar không phải đợi Thúy Nga để nổi tiếng Paris.
Angola được nhắc đến trong bài là một trường hợp gần gũi, cùng một hoàn cảnh nội chiến trong nhiều thập niên (1975-2002) với sự ủng hộ của hai khối, với kết quả là phe “XHCN” (MPLA) cầm quyền. Nhờ tài nguyên dầu hỏa, tổng sản lượng bình quân của Angola cao gấp ba lần Việt Nam (năm 2008 là 8.800 USD so với Việt Nam 2.800 USD, PPP, theo CIA World Factbook), và mức độ tăng trưởng cũng nhanh gấp hai hay là ba. Về tham nhũng, Angola cũng hơn nốt (Transparency International xếp hạng 158/180, Việt Nam là 121/180 vào năm 2008). Nhưng điều hơn cuối và hơn hẳn là năm 2008 Angola đã tổ chức bầu cử quốc hội đa đảng với sự tham dự của kẻ thù trong thời chiến (UNITA, FNLA). Tuy xảy ra trong điều kiện xa vời với lý tưởng và khó gọi là trong sạch hoàn mỹ, kết quả MPLA 81% và UNITA 10% đã được UNITA sau cùng chấp nhận (trong cuộc bầu cử 1992 trước khi nội chiến bùng nổ lần thứ nhì UNITA chiếm 40% và MPLA 60% phiếu). Năm nay 2009, Angola sẽ tổ chức bầu cử Tổng thống.
Hiện diện của Trung Quốc tại châu Phi ngoài việc thông tin là giờ có cháo lòng tại Harare và trứng vịt muối tại Lusaka, cũng là gợi ý để nhận định và so sánh với quan hệ Trung – Việt, như hiện nay trong chuyện khai thác bô-xít.
Dĩ nhiên tại đây và trong chuyện chúng ta này, ngoài lợi ích kinh tế (và tập đoàn Mỹ Alcoa cũng chẳng phải là một hội từ thiện), ngoài môi trường phải được bảo vệ (và tập đoàn Mỹ Alcoa cũng chẳng phải là một hội tranh đấu cho môi sinh), ngoài chủ quyền (tập đoàn này thì hẳn là không có ý thành lập và quản lý một huyện gọi là Tây Sa) có phải nói đến ý kiến của các dân tộc Tây Nguyên?
Cô sơn nữ nghĩ gì?
Khi không bô-xít người ta
Mà sao sơn nữ Phà Ca lại buồn?
Không hiểu là cô ta, những buổi chiều khi nhìn trăng lên, khi nhìn mây bay (Trần Hoàn) và hong tóc bên bờ suối (cạn kiệt và ô nhiễm), cô ta thích ngồi ngắm người Hoa khai thác bô-xít hay là nhìn người Việt gặt hái càfé, nhưng đây đã là chuyện ngoài lề.
– Hết –
Bình luận
5 Comments (bài “Abebeche ê chề bá quyền bành trướng (3)”)
Như vậy theo thông tin của chị Trần Hà Tiệp (dưới đây) thì các đệ tử của giáo phái Mouride (gốc Sénégal, Gambia) đã đến các vỉa hè Trung Quốc! Hầu như bất cứ người nào bán đồ lưu niệm Phi châu, ví đầm hàng nhái hay đồng hồ nhãn giả, ở Paris cũng như ở New York, là thuộc giáo phái gốc Hồi Sufi này do Amadou Bamba người Wolof thành lập vào cuối thế kỷ 19 (http://en.wikipedia.org/wiki/Mur%C4%ABdiyya) .
Tổ chức này dựa trên sự tương trợ và tin tưởng lẫn nhau của các huynh đệ đồng đạo trong Hội (3 triệu người trên thế giới), lấy lương thiện và cần cù làm tôn chỉ, nhờ đó đã phát triển khắp nơi trong lãnh vực buôn bán ít vốn này (http://newhumanist.org.uk/1855) .
Nếu biết chào họ bằng kiểu chào đặc thù của giáo phái (nắm tay lại đưa áp vào mặt nhau), hẳn sẽ được hưởng giá đặc biệt dành cho người “đồng hội danh dự” mà khỏi phải kì nèo, dù là da trắng hay vàng!
“Abebeche đang đỏ hoe đôi mắt (to, đẹp và rung rinh), tôi thấy lóe sáng một nụ cười trên khuôn mặt tối sầm và đen thui.”
Bác nào vui lòng giải thích hộ em. Có lẽ do trình độ thẩm thấu còn kém nên em không rõ tác giả muốn nói gì?
Đỗ Kh. rất là hóm hỉnh về lục địa đen và Trung Quốc. Kh. có nhận xét rất đúng. Văn phòng công ty tôi ở Bắc Kinh có thuê hai anh da đen người Senegal, tốt nghiệp đại học Chao Tung nổi tiếng. Vừa rồi công ty cử tôi thuyết trình cho một số quan chức Trung Quốc. Tôi nói bằng tiếng Anh và anh Senegal phiên dịch qua tiếng Trung. Cảnh cũng hơi ngộ là một cô da vàng thì nói tiếng Anh, tiếng Trung ú ớ còn một anh da đen thì nói tiếng Trung thành thạo. Sau đó có một ông quan hỏi tôi là tôi có phải là “Hoa chảo” (Hoa Kiều) không?). Tiếng Trung học lỏm của tôi chỉ đủ để trả lời mình là người “Mậy quố rận” gốc “Duê Nạn” (người Mỹ gốc Việt). Ông chỉ vào mặt tôi mà nói “Người Duê Nan thì cần phải học tiếng Trung hơn nữa, bây giờ ai cũng phải học tiếng Trung, nhìn cậu Senegal này thì biết!”. Nghe rất ớn lạnh bởi câu nói đầy tính bành trướng đó.
Ờ Thượng Hải, Bắc Kinh hay các khu du lịch bắt đầu lác đác xuất hiện các bác châu Phi đứng bán hàng lưu niệm như ở các vỉa hè hay metro của Paris (dân Việt mình kì thị gọi là Rệp). Có thể như Kh. viết, chơi với Trung Hoa ít bị kì thị hơn. Tiền ở đâu cũng xanh hoặc đỏ (đồng Nhân Dân Tệ và Đô HK thì đỏ nhiều hơn) như nhau, người Trung Quốc còn nghèo nên kì thị cũng ít. Sự xuất hiện của người châu Phi ở Trung Hoa như đánh dấu sự mở đầu của một đế quốc mới: đế quốc Trung Hoa.
Người Việt sẽ phản ứng như thế nào để tồn tại, hay là một ngày nào đó, ở Quốc vụ Viện Trung Quốc, cái áo dài VN lại đứng bên cạnh các sắc phục của người Yao, Miao…
Khoan hãy nói chuyện bành trướng, chuyện bá quyền (đại bá, tiểu bá hay là mới manh nha… thì cũng vậy), chuyện truyền thống, chuyện ý thức hệ… vân vân…, (mình còn nhiều thời gian mà), lần nào đọc Đỗ Kh. tôi cũng có cảm giác như được cùng anh đi chu du khắp năm châu với rất nhiều điều kỳ thú. Tác giả như có vẻ là một hướng dẫn viên du lịch rất chuyên nghiệp, nhiều lúc đưa người ta vào những ngóc ngách, những ngõ tối bí hiểm ẩn chứa nhiều câu chuyện (cả xưa và nay) rất bất ngờ.
Và chỉ vậy thôi cũng đã là rất vui vẻ rồi.
Xin cám ơn anh.
Văn bác Đỗ Kh. đọc dài lê thê, nhưng buồn và đẹp như một chiều mưa Buôn Mê. O heron passa eh, passa paasa eh!