Abebeche ê chề bá quyền bành trướng (1)
22/05/2009 | 6:00 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Abebeche ê chề bá quyền bành trướng (1)
Category: Quan hệ Việt – Trung, Tạp văn, Thế giới
Thẻ: cô dâu Việt > Tây Nguyên > Trung Quốc tại châu Phi
Cô nhân viên hải quan nói:
Ni hao.
Anh phục vụ quán nước nói:
Ni hao.
Quán nước vào giấc này vắng chỏng chơ. Cái lobby to đùng như là một nhà kho bỏ không, chỉ có vài người qua lại đìu hiu. Cô quản lý tay khoanh dưới ngực nhìn ra phía ngoài mênh mông tường kính bẩn. Đằng sau cô, chỗ quầy tính tiền tôi thấy đốm đỏ của mấy cây thuốc lá “ChungHwa”, nốt màu độc nhất của cả một vùng xanh xám bao trùm không có cả đến vài cái pa nô quảng cáo.
Tôi trả tiền, cầm túi bước ra ngoài.
Anh bảo vệ ở cửa, áo bạc màu và AK bá gỗ xây sứt, cũng lại nói:
Ni hao.
Núi chung quanh tôi chập chùng và mây thấp. Trước mặt tôi là thành phố, mái tôn mái ngói lốm đốm và vài xây dựng cao được 5, 7 tầng màu trắng lờ mờ. Tôi đang ở trường bay quốc tế và Addis Ababa, thủ đô của liên bang Ethiopia đang vào mùa mưa.
*
Cô gái rất cao, nổi bật lên về tầm thước giữa đám đông chen chúc người Quảng. Ở đây cũng nhôm và cũng kính, cũng xanh và cũng xám nhưng ở đây thì thị giác bị níu kéo bởi các bảng hiệu chỉ dẫn và mời chào đủ những sắc ngột ngạt, đó là chưa kể đến người. Người và người xuôi ngược, tôi nhanh bước lấy cô này làm điểm để bám theo.
Vài mươi thước thì tôi bắt kịp, đứng ngay đằng sau cô ở hàng xếp chờ kiểm tra thông hành đường ra cửa khẩu. Hình Ly Cơ nhịp nhàng (“Tôi yêu Ly Cơ hình nhịp nhàng” Xuân Diệu), cô thiếu nữ này đẹp, thì con cháu Tây Thi, nhưng tôi nghĩ là miệt Bắc, dáng Yên Kinh hay là Harbin miệng rộng, tôi muốn nói là người đẹp này không giống các cô trên tranh lụa, trên những lịch cuốn thướt tha của các cửa hàng lưu niệm. Tôi dò xét một góc mắt, ở đây phi trường Hương Cảng Xích Lư Giác, cô cầm sổ thông hành Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc. Mỹ nhân Đại lục này thì cũng túi tay Burberry’s như mọi người ở đây, quần bò trễ nải và dây lưng to bản.
Tôi đi Bangkok, biết đâu, nếu không cùng cô một chuyến bay định mệnh và chỗ ngồi ngay bên cạnh (aisle or window?), chỉ cần chung một điểm đến thì cũng có thể hẹn nay mai ăn tối uống nước. Tôi đang suy nghĩ tìm một chốn khả dĩ để dìu dắt câu chuyện, tiệm ăn Ý trong Amari Atrium trên đường Pechtburi, hay là nếu cô có ra bờ biển… thì cô ta rút ra cầm sẵn trên tay thẻ lên tàu.
Tôi kiễng chân để đọc lén, boarding pass của cô đề Addis Ababa.
*
Đó là khoảng hơn một năm gì đó trước khi tôi đến thành phố này. Phi châu thì lúc nào chẳng huyền bí, nhưng ở phi trường Hương Cảng trên tay một thiếu nữ Hắc Long Giang gì đó thì mùi hương xa ngào ngạt bay đầy.
Cô Trung Quốc này là ai, làm gì mà thân gái dặm trường Sừng lục địa. Phải cô đi Âu đi Mỹ thì bình thường, cô về nước hay sang Nhật cũng có thể, đâu đó Đông Nam Á trong vùng thì đương nhiên. Cô có đi Trung Đông tôi cũng không lấy làm lạ, tôi nghe kể là các bar trong căn cứ không quân Balad ở Iraq, cứ 7 giờ chiều là xe ca từ đâu chẳng hiểu mang đến bạn gái người Hoa cho các quân nhân-nhà thầu-tiểu thương Mỹ và tứ xứ vơi nỗi nhớ nhà (việc này tôi chưa có chứng kiểm, và người thông tin của tôi có lẽ không phân biệt được giữa người Hán và người Cebuano, Ilocano hay là Tagalog). Nhưng châu Phi! Châu Phi thì làm gì có bánh bao xá xíu, châu Phi làm gì có xíu mại, há cảo, châu Phi làm gì có bia Thanh Đảo, châu Phi làm gì có hoành thánh mì.
Đó là tôi nghĩ thế và tôi bâng khuâng chậm bước chân lại, trả cô về với dòng người và định mệnh của riêng cô. Vì hồi nãy tôi có hơi cường điệu, cô có cao có đẹp thì chung quanh đây thiếu nữ người Hoa chẳng thiếu, nhìn phải cũng có mà nhìn trái cũng có, tôi chẳng cần gì phải làm quen bắt chuyện để mà mong có ngày gặp lại bạn-một-lần-đường này ở tận Ethiopia.
*
Hai cô phục vụ đứng uốn éo trong bộ sường xám đỏ, thứ bằng vải nhiễu bóng và xẻ cao trên đùi, mỗi cô hai chữ “lộc” dồi dào và chần dần trên ngực (đây lại là một lối tả cường điệu, chứ chữ “lộc” hay “phúc” trên những thứ vải này thì nằm khắp người và trên mông cũng có nữa chứ chẳng chừa.) Giày đế cao lách cách, đây là nhà hàng Trung Hoa trên đường Debre Zeit và khung cảnh trang trí thì y như một nhà hàng Trung Hoa tầm trung ở bất cứ đâu trên thế giới. Thực đơn thì cũng vậy, súp chua cay và mì xào hải vị, tuy có phần giới hạn về lựa chọn và tương đương với nhà hàng Trung Hoa, tôi nói ví dụ, ở một tỉnh lẻ nước Pháp.
Tôi có biết nhiều nhà hàng Trung Hoa ở nhiều nơi. Ở Ba Lan một thời các nhà hàng này là do người Việt đội lốt, nhân viên nhà hàng bẻ chữ Nhất ra làm đôi mà phát âm với giọng Nghệ Tĩnh. Ở Beirut ngày nay tại nhà hàng Chopsticks trên con phố Hamra, đến 20 cô cũng nhiễu lam nhiễu điều nhưng các cô này đều là Philippines hết.
Nhưng tại Addis, lần đầu tôi mới thấy thiếu nữ Phi châu cải trang thành Susie Wong.
Tóc em mềm anh chẳng tiếc mùa xuân
Và trên đời cũng chẳng có giai nhân
Vì anh gọi tên em là nhan sắc
Và đẹp thì có, nhưng giống thì không giống, hơi bị đen. Có thể nhại Nguyên Sa là “Da em đen anh không cần giấy bản” (và mực Tàu). Ở đây, để khỏi bị vu oan vớ vẩn là kỳ thị, tôi xin nhấn mạnh là màu da không ảnh hưởng gì đến đẹp xấu, “than nhường” màu da thì cũng đẹp vậy (ai mà không tin thì hãy việc nhìn gần nhìn kỹ trước khi phát biểu); có khi còn đẹp hơn là tuyết nữa là, và Black is Beautiful.
Nhưng thử tưởng tượng bạn là người Phi châu, vào một nhà hàng Phi châu ở Trung Quốc, thấy các cô phục vụ Trung Hoa mặc boubou có in hình Tổng thống (thí dụ, Omar Bongo) ở trên mông và trên ngực thì bạn cũng mỉm cười.
Đây là chuyện chắc là không có. Tại nhà hàng Kilimanjaro ở khu Đông Thành, Bắc Kinh, các cô phục vụ là người Hoa và không phải Phi châu nhưng các cô mặc quần bò cho nên không làm tôi mỉm cưởi. Tôi không mỉm cười, ở Bắc Kinh cũng như Addis, vì tôi không phải người Phi châu và răng tôi không được trắng mấy.
*
Anh lễ tân khách sạn gặp tôi cũng chào Ni hao, em bé tan trường đang ôm cặp về nhà cũng gọi với theo Ni hao, khiến tôi phải nghĩ, đấy là tiếng chào thông dụng ở địa phương này! Phi châu thì rất nhiêu khê cái kiểu chào, không có cái thói trống không và vào thẳng vấn đề mà phải rào trước đón sau, Phi châu là một văn hóa nghi lễ. Thí dụ (ở Uganda):
Eradde? Hồ có yên tĩnh? (Uganda ở sát hồ Victoria mênh mông).
Eradde. Hồ yên tĩnh.
Bwera? Có nhiều hạt kê (có đủ gạo)?
Bwera. Nhiều hạt kê.
Mirembe? (Nơi bạn ở/Nhà bạn) có yên lành?
Mirembe. Yên lành.
Balamu? (Gia tộc/Gia đình bạn) có khoẻ?
Balamu. Khoẻ.
Kulikaekkubo. Cảm ơn bạn đến thăm.
Awo. Thì đây.
Wasuze otyanno. Chào bạn (sáng).
Nusula mutya? Bạn thế nào?
Bulungi Gqwe osula otya? Tôi cũng được, còn bạn?
Bulungi. Tôi thì OK.
(Richard Dowden, Africa, Altered States, Ordinary Miracles, Public Affairs, New York, 2009)
Lôi thôi như thế, cho nên giờ ai cũng Ni hao cho nó tiện và trả lời Ngã hảo lớ là xong. Từ chào hỏi này thông dụng và trẻ con cũng biết một là bởi vì nó đơn giản dễ nhớ và hai là vì hiện giờ ở Ethiopia có rất nhiều người Trung Hoa.
*
Họ đầy đường, ở Addis đi đâu cũng từng tốp năm hay ba mạng, quần áo chỉnh tề và xách cặp bằng da đựng máy vi tính kiểu copy nhãn Tumi. Cô thiếu nữ của câu chuyện phi trường Hương Cảng hẳn phải là một biệt lệ, vì người Hoa tuy nhiều nhưng tôi không hề thấy một phụ nữ nào, cũng như không thấy người già, em bé mà 100% là đàn ông ở lứa tuổi lao động. Ở khu mua sắm trên đại lộ Bole họ tụm nhau từng nắm. Trước Satellite Bar nổi tiếng (là xác của một cái máy bay phản lực cũ được dùng làm quán nước) tôi cũng không thấy cái cô tôi đeo đuổi từ Xích Lư Giác năm ngoái hiện ra ở đây mà Đào hoa y cựu tiếu phi cơ . Chỉ có mấy vị Hoa kiều đứng phì phà thuốc lá và xí xô tiếng Tàu (chẳng lẽ là xi xô tiếng Việt, từ “xi xô” tôi nghĩ là ta chỉ dùng cho tiếng nước ngoài chứ người Việt ta không bao giờ mà lại xi xô). Đây và đó, những người duy nhất tôi gặp ở đất nước này mà không mở miệng chào Ni hao lại là người Hoa!
Họ nhìn tôi trân trân, không hiểu là nghĩ gì vì thực ra tôi không những chỉ giống họ ở ngoại hình mà quần áo tôi mang trên người, trong ngoài và cho đến giầy vớ, có xác suất 80% là sản xuất tại Trung Quốc. Nhưng thế cũng chưa đủ để cho họ mỉm cười cầu thân qua quít. Mà cũng may, vì làm quen để bàn về “Mâu thuẫn luận” thì tiếng phổ thông tôi không đủ từ vựng.
*
Sự hiện diện của Trung Quốc tại châu Phi không hẳn vì những nguyên tắc cao đẹp của Hội nghị Phi liên kết tại Bandung 1955 nhưng bắt đầu vì chuyện giành giật ghế tại Liên hiệp quốc với lại Đài Loan. Phi châu thì không biết, nhưng ở đây nói qua, thì Trung Quốc hay là Đài Loan cũng đều là kẻ thù truyền kiếp của ta. Riêng Đài Loan từ khi đổ xô sang Việt Nam lấy vợ thì trở thành kẻ thù truyền… giống!
Nhân dịp và mở dấu ngoặc (tức là lạc đề hoàn toàn và bước hẳn sang một lãnh vực khác), tôi không hiểu tại sao dư luận người Việt lại lên án và phê bình gắt gao việc này, tuy ai cũng biết là không có gì riêng tư hơn là quyết định phối ngẫu cũng như không có gì thân thiết hơn là quan hệ vợ chồng. Thành hôn, kết hôn không phải là chuyện xấu, hẳn vậy, nếu không thì đã chẳng có phải in thiệp rêu rao, mở tiệc chiêu đãi và cúng ông cúng bà rồi khiêu vũ tưng bừng. Như vậy, vấn đề ở đây là lấy chồng nào chứ không phải là lấy chồng. Nghe đâu là lấy chồng Đài, chồng Sing, chồng Hàn, thì dễ bị bạc đãi còn đàn ông Việt ta thì đều biết sợ vợ, chỉ cần xem các màn tấu hài. Nhưng tôi nghĩ phụ nữ Việt lấy chồng Đài Loan có bị bạc đãi thì cũng bằng bếp ga bếp điện, trong khi lấy chồng Việt thì bị bạc đãi bằng củi tạ cho nên mới không có công ty nào môi giới chồng Việt cho các cô Đồng Tháp, Sơn La. Nói cho cùng thì đây là những phụ nữ Việt trưởng thành và chẳng ai ép buộc, ngoại trừ hoàn cảnh, và lấy ai vẫn là quyết định của các cô. Chẳng qua là tính sở hữu thiếu nữ “nội” của các ông Đại Cồ Việt bị xúc phạm. Tôi lấy ai thì kệ xác tôi, bộ tôi không lấy anh thì anh ức hả, anh buồn. Anh có biết hát karaoke Mùa thu lá bay bằng nguyên tác không mà anh đua đòi?
Trở lại châu Phi, Trung Quốc hiện diện đầu tiên là vì chuyện trong nhà, để cạnh tranh ảnh hưởng với họ Tưởng. Hiện vài nước như Chad, Burkina Faso, Gambia, Sao Tome & Principe, Swaziland còn công nhận hòn đảo. Trong thập niên 90, các người bạn khác của Đài Loan lần lượt nghe lời đường mật mà đổi ý, Lesotho năm 94, Niger năm 96, Cộng hòa Trung Phi, Nam Phi năm 98, Liberia năm 2003. Malawi năm 2008 cũng lên thuyền sang eo biển mà xây lâu đài tình ái với Bắc Kinh, bỏ lại một Đài Bắc nước mắt sụt sùi…
Một lý do khác, là Trung Quốc còn kình với Liên Xô trong khối Xã hội Chủ nghĩa. Về mặt này, chính sách của Bắc Kinh giản dị là ai thân với Moscow thì họ chống lại, khỏi cần suy nghĩ. Và như vậy trong thời gian này tại Lục địa, Trung Quốc trở thành đồng minh khách quan của Hoa Kỳ và phương Tây. Việc “ăn theo” Mỹ và chống Liên Xô một cách máy móc này khá nhiều xui xẻo và thành công chỉ có thể kể đường ray TanZam. Công trình vĩ đại khiến lục địa vẫn còn thiện cảm với chế độ kế nghiệp Thiên triều của Mao tiên sinh là đường xe lửa Tazara Vạn lý, còn gọi là TanZam, nối liền một Zambia đất liền vây hãm với bờ biển Tanzania.
Đầu thập niên 70, Zimbabwe (lúc đó là Rhodesia) và Nam Phi còn ở trong tay thiểu số da trắng và kỳ thị, đường ray TanZam được mệnh danh là đường ray “Tự Do” (Uhuru). Chỉ trong vòng 5 năm (1970-75) con đường này được hoàn tất bởi chuyên viên và 25.000 công nhân Trung Quốc. Nhìn nhà ga Dar Es Salaam đồ sộ ta có cảm tưởng như là đang ở một thành phố Trung Hoa. Chắc là để tiết kiệm quỹ hơn là vì cố ý, ai đó đã mang hoạ đồ có sẵn của một nhà ga Trung Quốc đặt vào giữa thủ đô Tanzania. Nhưng các đế quốc thực dân cũng đã đều làm như thế, từ Delhi cho đến Hà Nội, Macau… Một cô bạn Việt của tôi định cư tại Anh sau khi vượt biên và lần đầu sang thăm Paris đã buột miệng “Sao ở đây thấy giống hệt… Sài Gòn!”
Vào lúc đó, Tây phương, các công ty tư cũng như là chính quyền, các cơ quan quốc tế do Tây phương kiểm soát, không ai muốn dính xa gần vào những dự án hạ tầng tầm cỡ như vầy. Phải nói, TanZam là biểu hiện của tình đoàn kết của Trung Quốc khiến châu Phi hãnh diện và biết ơn cho đến ngày nay. Cho đến ngày nay, vào đầu thế kỷ này, bởi vì sau khi Nam Phi trở thành dân chủ đa số (tức dân chủ da màu) và Rhodesia trở thành Zimbabwe, xuất cảng của Zambia lại theo đường lộ xe tải và đường ray TanZam trở thành lỗ lã, bỏ hoang như một xa lộ Route 66 của Hoa Kỳ.
Nghe đâu là công ty Tazara đang được tư hữu hoá theo trào lưu mới của nhân loại, mà tư hữu hoá cho ai? Một công ty của nhà nước Trung Quốc chứ còn ai mà trồng khoai (trồng Ngô, trồng Sở) đất (Tanzania và Zambia) này!
Thời điểm đó, tin đồn trong giới chị em ăn sương địa phương là đàn ông Trung Quốc cực kỳ yếu sinh lý. Họ có mặt rất nhiều, toàn là phái nam và đi từng đoàn, tức là dạng đối tác lý tuởng kiểu cả một tàu thủy thủ viễn dương mới vừa cập bến. Nhưng không hiểu đàn ông Trung Quốc thoả mãn nhu cầu (chắc cũng phải có) này ra sao mà lúc nào họ cũng làm mặt nghiêm từ chối lời mời đối tác cho dù chị em có khẩn khoản, khuyến mãi và hạ giá. Họ xem Bạch Mao Nữ và đọc Mao tuyển để qua những đêm dài hay là bởi vì dạo đó chưa có tiền mua bột sừng tê giác (dạo đó nhân viên ngoại giao Việt Nam ở Phi châu cũng chưa buôn sừng tê giác)? Nhưng sang thập niên 80, thủ tướng Lý Bằng vác xác đến tận nơi và quan hệ Trung Quốc-Phi châu chuyển sang giai đoạn mới.
Đó là “hợp tác có lợi cho cả đôi bên”, bất kể ý thức hệ.
Cổ áo đại cán được mở một khuy rồi hai, rồi ba, chẳng mấy chốc mà áo thun ba lỗ được vén lên lòi cả rốn. Đầu thiên niên kỷ mới, về Trung Quốc xa vời, phụ nữ ở châu Phi cũng bắt đầu phải thay đổi tư duy.
(Còn 2 kì)
Bình luận
Không có bình luận (bài “Abebeche ê chề bá quyền bành trướng (1)”)