Công hàm Phạm Văn Đồng
15/05/2009 | 1:30 sáng | 31 Comments
Category: Vấn đề Biển Đông
Thẻ: Công hàm của TT Phạm Văn Đồng > Hoàng Sa-Trường Sa
Gần đây có một số ý kiến về “vô hiệu hoá” hay “hoá giải” công hàm thường được gọi là “Công hàm Phạm Văn Đồng” (CHPVD).
Tôi cho là một số ý kiến trong số đó hoàn toàn không có giá trị pháp lý.
Ý kiến thứ nhất được thể hiện qua việc kêu gọi Quốc hội Việt Nam tuyên bố rằng CHPVD không có hiệu lực.
Tuyên bố đó không có giá trị pháp lý.
Nếu CHPVD có hiệu lực ràng buộc đối với CHXHCNVN thì tuyên bố đơn phương của Việt Nam rằng nó không có hiệu lực, chính nó là một tuyên bố không giá trị pháp lý. Đó là ý nghĩa của từ “ràng buộc”.
Nếu CHPVD không có hiệu lực ràng buộc đối với CHXHCNVN thì việc Việt Nam tuyên bố rằng nó không có hiệu lực, cũng không có giá trị pháp lý.
Trên thực tế, Quốc hội Việt Nam (CHXHCNVN) đã ký công hàm sáp nhập Hoàng Sa, Trường Sa vào các tỉnh của Việt Nam và đã có một số động thái khác. Những động thái này có nghĩa Quốc hội Việt Nam cho là CHPVD không có hiệu lực ràng buộc Việt Nam phải công nhận là Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc, và Quốc hội Việt Nam đã thể hiện quan điểm đó qua các động thái. Nếu bây giờ tuyên bố rằng CHPVD không có hiệu lực ràng buộc Việt Nam phải công nhận là Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc, thì có thêm gì không?
Ý kiến thứ nhì là CHPVD làm cho Việt Nam ngày nay bị mất chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng nếu trong tương lai Việt Nam có một chính phủ phủ định Đảng Cộng sản, phủ định chính phủ Việt Nam ngày nay, đặc biệt là phủ định chính Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và tuyên bố là mình thừa kế di sản Việt Nam Cộng hoà, thì chính phủ đó sẽ có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa.
Trước khi nói thêm, tôi phải nói là ở đây tôi chỉ nói trong phạm trù chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, tôi không nói tới thể chế nào, ý thức hệ nào, đảng phái nào tốt xấu ra sao.
Ý kiến thứ nhì sai lầm vì nước Việt Nam trong tương lai bắt buộc phải và chỉ có thể (*) thừa kế từ nước Việt Nam ngày nay.
Nếu nước Việt Nam ngày nay không còn chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, thì không tồn tại chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo này để mà nước Việt Nam trong tương lai thừa kế.
Nếu Việt Nam ngày nay bị CHPVD ràng buộc thì Việt Nam trong tương lai cũng sẽ bị CHPVD ràng buộc.
Không có chuyện “cộng sản” không có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa nhưng “quốc gia” hay “dân chủ” thì có.
Không có chuyện CHPVD ràng buộc “cộng sản” nhưng không ràng buộc “quốc gia” hay “dân chủ”.
Không có chuyện Việt Nam (bao gồm hai miền Nam, Bắc) trong tương lai có thể chọn thừa kế từ Việt Nam Cộng hoà mà không thừa kế từ CHXHCNVN hay Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Có thể (nhưng chưa khẳng định được) là CHPVD ràng buộc miền Bắc trước 30/4/75 không được tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc (a).
Nhưng CHPVD không làm cho miền Nam trước 30/4/75 mất chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa.
Nước Việt Nam bao gồm hai miền Bắc Nam sau 30/4/75 thừa kế hai điều trái ngược nhau:
(a) Trách nhiệm, nếu có gây ra bởi CHPVD, không được tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc, thừa kế từ những gì Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã làm.
(b) Chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, thừa kế từ miền Nam.
Có ý kiến cho là tính không tồn tại sự thừa kế (b) vì chính phủ Việt Nam Cộng hoà không còn tồn tại, hay là chính phủ bị thua, hay là bị lật bằng bạo lực, hay là bị cho là “Ngụy”.
Lưu ý là sự thừa kế ở đây là thừa kế trong sự tiếp nối quốc gia, không phải là thừa kế trong sự tiếp nối chính phủ. Vì vậy, nếu cho là sự thừa kế (b) không tồn tại vì những lý do trên là không chính xác.
Câu hỏi là theo toà hay luật pháp quốc tế thì (a) hay (b) quan trọng hơn, phải bỏ cái nào để giữ cái nào.
Ghi chú
(*) Trừ khi sáp nhập với nước khác
(TT)
3. Cũng có thể có nguyên tắc khác nữa, và chúng ta cần nghiên cứu thêm. Thí dụ như phiên Toà Đông Greenland cũng không nói thẳng tới estoppel mà cũng làm cho Na Uy mất chủ quyền đối với Đông Greenland.
Về CHPVD, nếu nhà bình luận/nghiên cứu nghiệp dư nào khẳng định là mình biết sự thật là ràng buộc (hay không ràng buộc) thì người đó nói nhảm.
Phát biểu “CH PVD không có giá trị tương đương với 1 thoả thuận” của ông không rõ ràng. “Thỏa thuận” phải mang tính chất gì để ràng buộc được VNDCCH ?
1. Nếu có thỏa thuận song phương thì sẽ ràng buộc.
2. Nếu chỉ có tuyên bố đơn phương thì cũng có thể ràng buộc nếu đáp ứng các điều kiện của estoppel.
(TT)
Trong 1 số hoàn cảnh, thí dụ như hoàn cảnh đó đáp ứng các điều kiện cho estoppel, thì Toà có thể cho là bên tuyên bố bị ràng buộc không được nói ngược với tuyên bố của mình.
Lập luận của bà TĐMT là các hoàn cảnh chung quanh CHPVD không đáp ứng các điều kiện của estoppel, cho nên VNDCCH không bị ràng buộc.
Hoàn cảnh chung quanh tuyên bố của bộ trưởng ngoại giao Na Uy về Đông Greenland cũng có 1 số khác biệt với CH PVD có thể có nghĩa Na Uy bị ràng buộc nhưng không nhất thiết VNDCCH bị.
Nhưng vẫn còn nhiều rủi ro, và chúng ta không nên mãn nguyện mà cần nghiên cứu thêm.
Khi viết “Ý tưởng manh nhất của bà Minh Thu theo tôi là chủ quyền HS được khẳng định của VN từ ba thế kỷ nay, nên một ý kiến riêng không thể làm thay đổi chủ quyền đó.”, tôi có ý nói “ý kiến riêng” là công hàm năm 1958 của TT Phạm Văn Đồng về chủ quyền ở HS thuộc TQ.
Câu của bác dễ bị hiểu là phần “nên một ý kiến riêng không thể làm thay đổi chủ quyền đó” cũng thuộc ý tưởng của TĐMT. Nhưng mà bà TĐNT không nói CHPVD là “ý kiến riêng”.
2. Ngược lại, CH PVD chỉ là một quyết định tự nguyện của cá nhân, không được luật pháp VNDCCH công nhận, cho nên không thể bắt VNDCCH ràng buộc vào nó.
Nếu nói vậy chắc Toà sẽ không chấp nhận. Rõ ràng CH PVD nói rằng CP VNDCHH “ghi nhận và tán thành”, mà sau đó CP VNDCHH cũng không đính chính là “không rán thành”, không kỷ luật ông PVD.
Vì vậy, chúng ta phải phản biện với lý lẽ thuyết phục hơn.
3. Một thỏa thuận tự nguyện không bao giờ mang tính “PHẢI” (must), nên không tạo sự ràng buộc pháp lý.
Gần đúng hoàn toàn.
Nhiều người lý luận kiểu “TT PVD (hay CPVNDCH) nói vậy thì có nghĩa VNDCCH bị ràng buộc”. Lý luận đó sai vì tuyên bố đơn phương riêng nó không ràng buộc. Bác Dũng Vũ đúng về điều này.
Nguợc lại, không phải là trong bất cứ hoàn cảnh nào thì tuyên bố đơn phương cũng không ràng buộc.
(CT)
Ông Dương Danh Huy viết:
“Để phản biện lý lẽ của TQ, phải thành công trong 1 trong 2 điều:
a) Lý luận thành công rằng CH PVD không có giá trị tương đương với 1 thoả thuận cho nên không ràng buộc VNDCCH, như bà Từ Đặng Minh Thu cố gắng làm.
b)…” (miễn bàn)
Phát biểu “CH PVD không có giá trị tương đương với 1 thoả thuận” của ông không rõ ràng. “Thỏa thuận” phải mang tính chất gì để ràng buộc được VNDCCH ?
Về sự ràng buộc:
1. Nếu quốc hội VNDCCH công nhận CH PVD, thì có nghĩa VNDCCH chấp nhận ràng buộc vào nó.
2. Ngược lại, CH PVD chỉ là một quyết định tự nguyện của cá nhân, không được luật pháp VNDCCH công nhận, cho nên không thể bắt VNDCCH ràng buộc vào nó.
Ðiểm 1 và 2 không thể trùng nhau.
Về sự thỏa thuận:
3. Một thỏa thuận tự nguyện không bao giờ mang tính “PHẢI” (must), nên không tạo sự ràng buộc pháp lý. CH PVD là một thỏa thuận tự cá nhân ông PVĐ đối với Trung Quốc. Mà giả sử cả quốc hội VNDCCH có tự nguyện thỏa thuận với TQ đi chăng nữa, VNDCCH vẫn không bị ràng buộc. Nhưng trường hợp đó không xảy ra.
4. Sự thỏa thuận có tính cam kết (v.d. qua đổi chác) có thể tạo sự ràng buộc, nếu trưng ra được bằng chứng có văn bản. (Ðiều này tôi hơi ngờ vực, vì các xứ CS vốn nổi tiếng về “thỏa thuận miệng”, không có giấy tờ, tránh để lại bằng chứng có thể làm lộ “bí mật quốc gia”. Nhưng nếu cần, thì làm giấy giả. Thực tế là vậy, cả thế giới không lạ gì sở trường gian dối của người CS. Thành thử phải biết khai thác yếu tố “thiếu minh bạch” này mà tranh đấu cho VN)
Bác Huy,
Khi viết “Ý tưởng manh nhất của bà Minh Thu theo tôi là chủ quyền HS được khẳng định của VN từ ba thế kỷ nay, nên một ý kiến riêng không thể làm thay đổi chủ quyền đó.”, tôi có ý nói “ý kiến riêng” là công hàm năm 1958 của TT Phạm Văn Đồng về chủ quyền ở HS thuộc TQ. Tôi cho là ý tưởng giá trị nhất ở đây của bà Minh Thu, nhưng không nói là có giá trị về mặt pháp lý..
Thật ra, bà Minh Thu viết “tế nhị”, hay hơn :”…nó thiếu tính liên tục và trường kỳ để có thể làm mất đi chủ quyền của Việt Nam, với tư cách là một chủ thể duy nhất, đã hành xử và khẳng định quyết liệt từ hơn ba thế kỷ nay”.
Bác Huy lý luận khác với cách tranh luận bình thường hay ở trước tòa. CHXHCNVN thừa kế VNDCCH, vẫn là TT PVĐ, cùng một thể chế chính trị, là điều không có sự nghi ngờ gì. Riêng công hàm PVĐ là môt khẳng định rõ ràng, không phải có nội dung mập mờ gây hiểu lầm, hay “nói vậy mà không phải vậy”. Công hàm là văn kiện viết, ký tên bởi giới chức thẩm quyền, nên quan trọng hơn các chứng cớ khác mà TQ cũng nêu ra, và theo TQ công hàm ràng buộc CHXHCNVN về mặt pháp lý. Cho dù VN sau này có cho công hàm chỉ có giá trị ngoai giao (?), không ràng buộc gì đi nữa, thì nó cũng là cái “cớ ” tốt cho TQ dùng đánh chiếm HS và TS như đã làm. TQ vẫn còn tiếp tục sử dụng công hàm đó (để chiếm nốt TS, và biện minh cho cái “lưỡi bò”).
(TT)
Đọc những đoạn về CHPVD trong các bài viết của ông ây, tôi thấy những khẳng định và kết luận của ông ấy đi xa hơn thực tế nghiên cứu của ông ấy cho tới nay cho phép.
Thí dụ như phân tích estoppel của bà Từ Đặng Minh Thu nằm ở mức học thuật cao hơn những gì ông Trương Nhân Tuấn viết nhiều. Mà bà ấy kết luận ngược với ông Trương Nhân Tuấn.
Nhưng tôi cũng không đồng ý với cách bà TĐMT đi tới kết luận và nghĩ là chưa chắc kết luận của bà ấy đúng. (Tôi sẽ nói lý do trong 1 bài trong tương lai).
Điều quan trọng khi chúng ta bàn về CHPVD là không nên khăng khăng là nó có hiệu lực ràng buộc VN hay không, mà nên có đầu óc khiêm nhường, cởi mở, tìm sự thật.
Sự thật duy nhất về CH PVD là những người bình luận nghiệp dư như chúng ta (bao gồm cả nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn) chưa nghiên cứu đủ về CHPVD để có thể khẳng định.
Bác Hoà
Bác nói
“Y tưởng manh nhất của bà Minh Thu theo tôi là chủ quyền HS được khẳng định của VN từ ba thế kỷ nay, nên một ý kiến riêng không thể làm thay đổi chủ quyền đó.”
Lập luận của bà TĐMT đâu có nói gì về ý kiến riêng. Bác viết vậy, người nào đọc có thể tưởng là và TĐMT nói rằng những “ý kiến” của VNDCCH là ý kiến riêng, có thể tưởng là bà ấy nói bậy.
Bác nói
Công hàm PVĐ chỉ là một trong nhiều lý lẽ TQ dùng trong tranh biện vụ HS với VN. Cho dù VN “hoá giải” được công hàm này cũng không làm thay đổi nhiếu trong lập luận chung của TQ (chỉ với chứng cớ ít hơn).
Đúng vậy, nhưng điều đó cũng nằm trong nguyên tắc tôi đã nêu ra, tức là:
1. Những gì VNDCCH nói, làm, không nói, không làm, có thể và có thể không gây ra 1 ràng buộc pháp lý d/v miền Bắc.
2. CHXHCNVN thừa kế
2.1 Ràng buộc đó (nếu có)
2.2 Chủ quyền d/v HSTS từ miền Nam.
3. Cần xác định 2.1 takes priority hay 2.2.
Tôi cho là chưa ai có thể khẳng định về 1 (có ràng buộc VNDCCH hay không), và chưa ai có thể khẳng định về 2 (2.1 takes priority hay 2.2).
Điểm sai cơ bản của ông Trương Nhân Tuấn là ông ấy khăng khăng khẳng định, xong rồi còn kết luận là làm thủ tục long trọng (sau hơn 34 năm) thì sẽ hoá giải được CHPVD.
(còn tiếp)
Trong phần Góp ý ở đây có nhắc đến lập luận của bà Từ Đặng Minh Thu. Để chuyện được sáng tỏ, và nhất là trung thực, xin chép lại ý kiến của bà Minh Thu về giá trị công hàm PVĐ trong vụ tranh chấp HS:
“Những lời tuyên bố trước đây của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về hai quần đảo này không có hiệu lực vì trước năm 1975 hai quần đảo này không thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam Cộng hoà. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không phải là quốc gia tranh chấp, nên những lời tuyên bố này chỉ là những lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không liên can. Hơn nữa, lúc đó nếu không chấp nhận rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia thứ ba, thì “estoppel” cũng không áp dụng trong những trường hợp này, vì Trung Quốc đã không bị thiệt hại gì, và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không hưởng lợi gì qua những lời tuyên bố đó.
Lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ là một lời hứa bị tác động bởi hoàn cảnh chiến tranh. Cuối cùng, nếu xem ba lời tuyên bố này như là của Việt Nam nói chung, thì nó thiếu tính liên tục và trường kỳ để có thể làm mất đi chủ quyền của Việt Nam, với tư cách là một chủ thể duy nhất, đã hành xử và khẳng định quyết liệt từ hơn ba thế kỷ nay”.(Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – Thử phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc ).
Y tưởng manh nhất của bà Minh Thu theo tôi là chủ quyền HS được khẳng định của VN từ ba thế kỷ nay, nên một ý kiến riêng không thể làm thay đổi chủ quyền đó.
(tiếp theo) Kiểu làm việc tùy tiện theo cá nhân nếu có chăng là ở những xứ “luật rừng” tiêu biểu như CS. Ðiển hình là cái công hàm của ông Phạm Văn Ðồng. Dẫu vậy tôi cũng không tin TƯ Ðảng CSVN đã ký giấy, hoặc quốc hội đã biểu quyết cho phép ông ta làm chuyện đó. Ðối với văn hóa trọng luật pháp, dân chủ, nhân quyền của Tây Âu, CH PVD khó có thể được công nhận khi nó mang tính cá nhân, độc tài mà nhân dân VN không được phép cùng quyết định. Chúng ta phải chỉ cho quốc tế thấy điều đó, nếu muốn vô hiệu hóa CH PVD.
Còn Trung Quốc – như anh Dương Danh Huy lo ngại -, nó có thể trưng ra giấy tờ gì, chẳng hạn đã chuyển vào account ông Phạm Văn Ðồng 1 triệu Ðô la bảo ông ta cam kết không tranh giành miếng đất HS-TS với Trung Cộng không ? Tôi không tin. Mà giả như có giấy tờ đàng hoàng, thì cũng là phi pháp như kiểu Mafia vậy.
Ngoài ra giả sử cái CH PVD có được tòa án quốc tế công nhận đi nữa, thì vẫn còn giải pháp là phát động toàn dân Việt đứng lên chống án, chống lại sự bất công; chỉ ra cho thế giới thấy mặt mũi một tòa án phản tiến bộ, cần đóng cửa ngay lập tức, vì nó công nhận quyết định tùy tiện mang tính cá nhân, công nhận kẻ độc tài, công nhận sự vi phạm dân chủ, chống lại quyền quyết định được làm chủ đất nước của người dân thấp cổ bé họng.
Anh Dương Danh Huy thân mến,
ban đầu tôi viết: “Không cần bận tâm tới công hàm Phạm Văn Ðồng, nếu chứng minh được nó vô giá trị về mặt pháp lý (vi hiến, phi pháp, không thông qua quốc hội, …)”
thì anh hồi ý: “Trong phiên toà về Đông Greenland, Na Uy cãi là tuyên bố của bộ trưởng ngoại giao Na Uy không đáp ứng luật Na Uy về lãnh thổ, nhưng toà cho là việc không đáp ứng luật Na Uy (eg không thông qua QH) không quan trọng, điều quan trọng là tuyên bố đó đáp ứng các điều kiện của luật quốc tế để tạo ra 1 sự ràng buộc cho Na Uy.”
Vậy thì CH PVD có khác lời tuyên bố của ông bộ trưởng ngoại giao (BTNG) Na Uy không ? Ông ta đã tuyên bố những gì ? Theo anh “Tuyên bố đó đáp ứng các điều kiện của luật quốc tế”, vậy các điều kiện đó là gì ? CH PVD có đáp ứng các điều kiện đó không ?
Tôi là người sống ở Tây Âu đã lâu, tôi biết người ở xứ không cộng sản này thường minh bạch, correct. Hơn nữa, phương Tây là cha đẻ pháp luật, không dễ dàng chấp nhận chuyện cá nhân tùy tiện vô lý, nhất là đối với vấn đề quốc gia đại sự. Cho nên không có chuyện ông BTNG Na Uy uống rượu say, tuyên bố bậy bạ. Không có tòa án quốc tế nào dám đi công nhận hành vi một cá nhân, biết đâu đó là một thằng khùng hay một kẻ độc tài, muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm. Ở bên này, mỗi người lãnh đạo muốn quyết định việc gì đều phải “nhân danh quốc gia, dân tộc” cả. Có vậy tòa quốc tế mới dám công nhận, chứ còn không, sẽ đánh mất hết uy tín và sự kính trọng của công dân địa cầu. (còn tiếp)
Công hàm PVĐ chỉ là một trong nhiều lý lẽ TQ dùng trong tranh biện vụ HS với VN. Cho dù VN “hoá giải” được công hàm này cũng không làm thay đổi nhiếu trong lập luận chung của TQ (chỉ với chứng cớ ít hơn).
Stein Tonnesson, rõ là thiên TQ, (xem lại phần dẫn chứng của Trúc Lê) lý luận rất chặt chẽ trong vụ HS, cho là VNDCCH đã có hai động thái khác nhau nhưng bổ túc cho nhau:
1/ Tiêu cực: không nhận HS là của VN khi không phản đối TQ chiếm một phần HS năm 1956, và chiếm hết phần còn lại năm 1974.
2/ Tích cực: công nhận HS là của TQ, mà công hàm PVĐ là một trong nhiều chứng cớ .
Không thể nói như bà Từ Đinh Minh Thu là công hàm không giá trị (chính phủ có quyền công nhận một nước huống chi là một nhóm đảo nhỏ), và không thể cho CHXHCNVN không phải kế thừa VNDCCH (cứ xét thành phần chính phủ, và TBT Đảng CSVN trước và sau ngày VN thống nhất). Nhưng tôi nghỉ chính phủ, qua Thủ Tướng, có thể đưa ra Sách Trắng giải thích lại ý nghĩa công hàm, nếu có thể giải thích được. Nhưng như trên đã nói, dù bỏ đi công hàm cũng không làm thay đổi nhiều.
Những ý tưởng thấy bàn tới như hàng triệu dân miền Nam vẫn còn nghĩ tới HS, và nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ… , tôi thấy chỉ dựa vào cám tính không thể dùng tranh luận với TQ hay trước toà án quốc tế (mà TQ sẽ không dự). Biên giới các nước có thể thay đổi theo dòng lịch sử, như ở Pháp, Đức, Ba Lan, Nga…. Tình tự dân tộc đáng tôn trọng, có thể viết thành bài xã luận hay, nhưng không dùng gì được trong tranh biện này.
@Bác Dũng Vũ,
Lập luận của bác có kẽ kở khá to.
Giả sử có một vụ tranh chấp đất đai nào đó giữa hai người A và B, tôi là người đứng ngoài, nhưng vì có cảm tình với một người, chẳng hạn như với chị A, tôi bảo rằng: miếng đất này của chị A. Vậy chị A có thể tin phát biểu của tôi là một quyết định pháp lý có giá trị được không ?
Giả sử bác có thoả thuận với chị A, “Chị cho tôi cái XYZ, tôi trả lại bằng công nhận miếng đất đó là của chị”.
1. Dĩ nhiên thoả thuận đó không có gía trị pháp lý làm anh B mất “chủ quyền” d/v miếng đất.
2. Dĩ nhiên riêng thoả thuận đó không làm cho “chủ quyền” d/v miếng đất thuộc về chị A.
Nhưng thoả thuận đó 1 giá trị pháp lý khác có rất nhiều ý nghĩa thực tế:
3. Nó có gía trị pháp lý ràng buộc bác không được tranh chấp miếng đất đó với chị A.
Bác có hiểu implication của (3) không? Bác và nhiều người lý luận về CHPVD dựa trên 1 và 2 nhưng 3 mới là v/d của CHPVD.
Cụ thể là có thể là VNDCCH có thể bị ràng buộc không được tranh chấp HSTS với TS.
Để phản biện lý lẽ của TQ, phải thành công trong 1 trong 2 điều:
a) Lý luận thành công rằng CH PVD không có giá trị tương đương với 1 thoả thuận cho nên không ràng buộc VNDCCH, như bà Từ Đặng Minh Thu cố gắng làm.
b) Lý luận thành công rằng CH PVD nếu có ràng buộc VNDCCH trước 30/4/75 thì cũng không ràng buộc CHXHCNVN. Eg việc thừa kế chủ quyền từ VNCH takes priority over sự ràng buộc thừa kế từ VNDCCH.
Thưa Bác Huy,
Bác nói rất đúng khi bảo chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc về nhân dân Miền Nam VN (và toàn quốc) bất chấp sự hiện hữu của chế độ VNCH (hay chế độ VNDCCH). Chủ quyền này đã có trước khi xuất hiện VNCH (và VNDCCH) và nó vẫn còn khi chế độ VHCH (hay VNDCCH) đã chết. Dĩ nhiên tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định này, nghĩa là, nói một cách thật sự công bình và có tính tuyệt đối, khi phân xử về chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của một quốc gia, điều tối cao phải lưu ý là yếu tố sở hữu (lãnh thổ hay lãnh hải) của nhân dân thuộc quốc gia đó (được ghi nhận qua hành động pháp lý của các chính quyền đại diện cho nhân dân của quốc gia). Nếu xét trên quan điểm tuyệt đối này thì, theo tôi, qua những bằng chứng lịch sử mà VN hiện có, Hoàng Sa rõ ràng là thuộc chủ quyền của VN ta, và tuyên bố chủ quyền của TQ là hoàn toàn không có cơ sở.
Tuy nhiên, thực tế lại thường không giản dị như vậy mà trái lại mọi tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia đều (ít ra là trên lý thuyết nếu ta bỏ qua thực tế hiển nhiên nhất về việc sử dụng vũ lực) phải được phân xử qua một tòa án quốc tế. Những vị thẩm phán trong các tòa án quốc tế này, tương tự như các vị thẩm phán trong các tòa án thông thường trong các xứ dân chủ văn minh, đều dựa vào các điều luật cũng như các tiền lệ để phân xử. Chính vì thế mà Công hàm PVĐ sẽ đóng một vai trò quan trong trong việc thắng hay bại của VN (nếu giả sử TQ đồng ý để vấn đề này giải quyết trong một tòa án quốc tế).
Thế nhưng, ngay cả việc nước CHXHCN VN có được tranh chấp hay không về chủ quyền của VN trên HS (và TS) cũng không chắc chắn vì phía VN có thể bị loại ra khỏi vụ tranh chấp trên căn bản pháp lý của việc ét-tốp-pen (tức là bị ngăn chận) do Công hàm PVĐ gây ra khi tiền thân của CHXHCN VN là VNDCCH. Như thế, việc chứng minh rằng CHXHCN VN là kẻ thừa kế chủ quyền trên HS và TS của VNCH là điều vô cùng quan trọng trước những tòa án quốc tế. Nhưng, theo tôi hiểu, Công pháp quốc tế thông thường được dựa rất nhiều vào HÌNH THỨC (tức là FORMALITY) được quy định rõ ràng để phân xử. Ở đây yếu tố bàn giao chủ quyền từ VNCH (hay Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam VN) cho chính phủ CHXHCN VN là rất quan trọng. Nhưng tiếc thay, thực tế lịch sử, qua các hành động của đảng CSVN sau ngày 30-4-1975 đến nay, đã chứng tỏ rằng việc chính thức bàn giao này là hoàn toàn thiếu sót (về hình thức pháp lý).
Còn nói cho cùng, trên khía cạnh tuyệt đối công bình, nhân dân Miền Nam VN (và toàn quốc) không thể nào lại phải chịu những thiệt thòi vô cùng lớn lao và phi lý (là bị phán xét mất vĩnh viễn HS và TS vào tay TQ) chỉ vì hành động sai trái và thiếu suy xét của ông Hồ Chí Minh và đảng Lao Động (tiền thân của đảng CS) VN. Như Bác Huy đã nói, chủ quyền của nhân dân Miền Nam trên HS và TS là có trước (và độc lập với ông Hồ hay đảng Lao Động VN). Tiếc thay, nhân dân VN lại không thể ra biện hộ trước một tòa án quốc tế dễ dàng như chúng ta đang bàn cãi ở đây.
(… tiếp theo) Trường hợp Việt Nam tựa vậy. HS-TS vốn là của dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam, nhưng sau khi hai miền chia cách, mỗi miền đều nhận quyền sở hữu phần đất của mình và lo giữ, quản lý nó một cách độc lập. Trong bối cảnh đó, HS-TS là của miền Nam, v.d. của chị A kia. Nay anh B, tức Trung Quốc đến tranh chấp với chị A, thì Dũng Vũ tôi đây – tức miền Bắc – lại xía vô công nhận HS-TS là của anh Trung Quốc. Bởi tôi không phải là đối tượng tranh chấp hoặc quan tòa, cho nên sự công nhận của tôi hoàn toàn không có giá trị.
Thử tưởng tượng giả như miền Bắc công nhận đảo Guam là của Trung Quốc; Trung Quốc đến lấy, bị Mỹ đánh cho vỡ sọ, chẳng lẽ Trung Quốc đi kiện Mỹ rằng “thằng Việt Nam đàn em tôi, nó công nhận đất này của tôi, nên tôi đến lấy, tại sao lại đánh tôi” (?).
Cũng giống trường hợp đó, cái công hàm Phạm Văn Ðồng hoàn toàn không có giá trị như tôi đã công nhận đảo Guam thuộc về Trung Quốc.
Điểm 1 mà ông bạn Dương Danh Huy chưa đồng ý đã được làm sáng tỏ. Có thể nói vậy được không, hay là lý luận của tôi chưa ổn mấy ? Nếu vậy, tôi cần có thêm informations của ông.