Công hàm Phạm Văn Đồng
15/05/2009 | 1:30 sáng | 31 Comments
Category: Vấn đề Biển Đông
Thẻ: Công hàm của TT Phạm Văn Đồng > Hoàng Sa-Trường Sa
Gần đây có một số ý kiến về “vô hiệu hoá” hay “hoá giải” công hàm thường được gọi là “Công hàm Phạm Văn Đồng” (CHPVD).
Tôi cho là một số ý kiến trong số đó hoàn toàn không có giá trị pháp lý.
Ý kiến thứ nhất được thể hiện qua việc kêu gọi Quốc hội Việt Nam tuyên bố rằng CHPVD không có hiệu lực.
Tuyên bố đó không có giá trị pháp lý.
Nếu CHPVD có hiệu lực ràng buộc đối với CHXHCNVN thì tuyên bố đơn phương của Việt Nam rằng nó không có hiệu lực, chính nó là một tuyên bố không giá trị pháp lý. Đó là ý nghĩa của từ “ràng buộc”.
Nếu CHPVD không có hiệu lực ràng buộc đối với CHXHCNVN thì việc Việt Nam tuyên bố rằng nó không có hiệu lực, cũng không có giá trị pháp lý.
Trên thực tế, Quốc hội Việt Nam (CHXHCNVN) đã ký công hàm sáp nhập Hoàng Sa, Trường Sa vào các tỉnh của Việt Nam và đã có một số động thái khác. Những động thái này có nghĩa Quốc hội Việt Nam cho là CHPVD không có hiệu lực ràng buộc Việt Nam phải công nhận là Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc, và Quốc hội Việt Nam đã thể hiện quan điểm đó qua các động thái. Nếu bây giờ tuyên bố rằng CHPVD không có hiệu lực ràng buộc Việt Nam phải công nhận là Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc, thì có thêm gì không?
Ý kiến thứ nhì là CHPVD làm cho Việt Nam ngày nay bị mất chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng nếu trong tương lai Việt Nam có một chính phủ phủ định Đảng Cộng sản, phủ định chính phủ Việt Nam ngày nay, đặc biệt là phủ định chính Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và tuyên bố là mình thừa kế di sản Việt Nam Cộng hoà, thì chính phủ đó sẽ có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa.
Trước khi nói thêm, tôi phải nói là ở đây tôi chỉ nói trong phạm trù chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, tôi không nói tới thể chế nào, ý thức hệ nào, đảng phái nào tốt xấu ra sao.
Ý kiến thứ nhì sai lầm vì nước Việt Nam trong tương lai bắt buộc phải và chỉ có thể (*) thừa kế từ nước Việt Nam ngày nay.
Nếu nước Việt Nam ngày nay không còn chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, thì không tồn tại chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo này để mà nước Việt Nam trong tương lai thừa kế.
Nếu Việt Nam ngày nay bị CHPVD ràng buộc thì Việt Nam trong tương lai cũng sẽ bị CHPVD ràng buộc.
Không có chuyện “cộng sản” không có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa nhưng “quốc gia” hay “dân chủ” thì có.
Không có chuyện CHPVD ràng buộc “cộng sản” nhưng không ràng buộc “quốc gia” hay “dân chủ”.
Không có chuyện Việt Nam (bao gồm hai miền Nam, Bắc) trong tương lai có thể chọn thừa kế từ Việt Nam Cộng hoà mà không thừa kế từ CHXHCNVN hay Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Có thể (nhưng chưa khẳng định được) là CHPVD ràng buộc miền Bắc trước 30/4/75 không được tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc (a).
Nhưng CHPVD không làm cho miền Nam trước 30/4/75 mất chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa.
Nước Việt Nam bao gồm hai miền Bắc Nam sau 30/4/75 thừa kế hai điều trái ngược nhau:
(a) Trách nhiệm, nếu có gây ra bởi CHPVD, không được tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc, thừa kế từ những gì Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã làm.
(b) Chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, thừa kế từ miền Nam.
Có ý kiến cho là tính không tồn tại sự thừa kế (b) vì chính phủ Việt Nam Cộng hoà không còn tồn tại, hay là chính phủ bị thua, hay là bị lật bằng bạo lực, hay là bị cho là “Ngụy”.
Lưu ý là sự thừa kế ở đây là thừa kế trong sự tiếp nối quốc gia, không phải là thừa kế trong sự tiếp nối chính phủ. Vì vậy, nếu cho là sự thừa kế (b) không tồn tại vì những lý do trên là không chính xác.
Câu hỏi là theo toà hay luật pháp quốc tế thì (a) hay (b) quan trọng hơn, phải bỏ cái nào để giữ cái nào.
Ghi chú
(*) Trừ khi sáp nhập với nước khác
Ông bạn Dương Danh Huy thân quý,
tôi không ngờ lại có chuyện rắc rối vậy. Nhưng không sao. Chúng ta tìm một cái Tautologie mới trong logic học.
Tôi nghĩ đến một câu chuyện như thế này:
Giả sử có một vụ tranh chấp đất đai nào đó giữa hai người A và B, tôi là người đứng ngoài, nhưng vì có cảm tình với một người, chẳng hạn như với chị A, tôi bảo rằng: miếng đất này của chị A. Vậy chị A có thể tin phát biểu của tôi là một quyết định pháp lý có giá trị được không ? Và cả anh B nữa, hay là anh B sẽ tặng tôi một quả đấm ngàn cân vào mặt: “Chú là ai mà xía vô chuyện người ta. Ði chỗ khác chơi”.
Như vậy là lời nói của tôi không có giá trị, vì tôi không phải là ông quan tòa.
Như vậy, chỉ có hai bên tranh chấp và ông quan tòa – tức những đối tượng trực tiếp có thẩm quyền – mới quyết định được kết quả. Hoặc chị A công nhận miếng đất ấy của anh B và ngược lại, hoặc, nếu câu chuyện không ngả ngũ thì nhờ đến ông quan tòa. Giá trị của sự quyết định chỉ nằm trong ba người đó thôi; chứ sự công nhận của tôi chẳng có nghĩa lý gì. (còn tiếp …)
Bác Nguyễn Nhật Anh
Người Việt cần nghiên cứu xem luật quốc tế nói gì, các án lệ lên quan nói gì, Toà sẽ phán thế nào trước mắt là cho những mục đích sau:
_Nếu BNG TQ nói với thế giới ABC,
_Nếu các học giả TQ viết bài trên các tạp chí luật, dầu khí, biển, vv, nói DEF,
_Nếu các nhà báo viết GHI,
mà có nguỵ biện có hại cho VN thì mình còn biết đường mà phản biện. Như vậy không hơn câm như hến, bật băng “VN có đủ cơ sở pháp lý…”, hay dùng lý lẽ sai, không ai chấp nhận hay sao?
Như vậy chưa đủ lý đo để nghiên cứu hay sao?
Mà cũng cần phải các định càng chính xác càng tốt là nếu ra Toà thì sẽ thắng hay thua.
Điều đó không đủ là lý do để nghiên cứu hay sao?
Còn chuyện thật sự ra Toà với TQ thì xa vời quá. Mấy cái “nếu” của bác thì chắc bác cũng biết rồi\
Cho hỏi anh Huy vài điều:
1) Tòa án nào sẽ xử vụ này?
2) Nếu 2 bên chịu ra tòa thì nếu như Việt Nam thua thì sao?
3) Còn nếu như TQ thua thì sao? Tôi nghĩ là TQ sẽ theo phán quyết của tòa án và cử hành nghi lễ giao trả Hoàng Sa lại cho VN. Đồng thời xin phép VN cho thời hạn rút lính ra khỏi HSTS.
4) Nếu TQ thua thì chúng ta tính sao với bước kế tiếp khi kiện TQ về việc bắn chết hàng loạt chiến sĩ ở HS năm 74 và TS năm 88?
5) Khi ra toà thì luôn có những yếu tố bất ngờ có thể làm thay đổi toàn bộ cục diện. Vậy theo anh thì TQ có những yếu tố bất ngờ nào không? Ví dụ như lúc đó lòi thêm “Công Hàm Hồ Chí Minh” thì lúc đó phái đoàn VN có nước chui xuống lổ.
Mong anh trả lời.
Theo tôi thì anh Huy nên làm trong chính phủ 10 năm, đi ngoại giao và quan hệ quốc tế thêm 20 năm. Lúc đó tôi bảo đảm anh sẽ ngồi ngẫm nghĩ lại những bài viết hiện giờ của anh tại đây để thấy rằng thế giới này là bàn cờ mà những đại kiện tướng là các siêu cường với khả năng thấy trước 20 nước, còn VN ta thì chắc chỉ 5 nước là hết.
Tôi đồng ý với bác Dũng Vũ về 1 số điểm.
Nhưng điểm 1 thì không chính xác
1. Không cần bận tâm tới công hàm Phạm Văn Ðồng, nếu chứng minh được nó vô giá trị về mặt pháp lý (vi hiến, phi pháp, không thông qua quốc hội, …)
Trong phiên toà về Đông Greenland, Na Uy cãi là tuyên bố của bộ trưởng ngoại giao Na Uy không đáp ứng luật Na Uy về lãnh thổ, nhưng toà cho là việc không đáp ứng luật Na Uy (eg không thông qua QH) không quan trọng, điều quan trọng là tuyên bố đó đáp ứng các điều kiện của luật quốc tế để tạo ra 1 sự ràng buộc cho Na Uy.
Chúng ta luôn nhớ một chân lý thế này: “Các gì thuộc về mình là của mình”. Logic ! (về mặt lý thuyết, pháp lý). Thành thử bàn đến vấn đề HS-TS về mặt pháp lý, theo thiển ý của tôi, chúng ta:
1. Không cần bận tâm tới công hàm Phạm Văn Ðồng, nếu chứng minh được nó vô giá trị về mặt pháp lý (vi hiến, phi pháp, không thông qua quốc hội, …).
2. Bắt buộc phải dựa vào nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ mà lý luận, đồng thời bảo vệ nguyên tắc ấy bằng mọi giá. Nhờ đó, cũng không cần đặt vấn đề Nam Bắc, thể chế. Lãnh thổ không thuộc về thể chế mà là dân tộc đó, đất nước đó.
3. Bắt buộc phải chứng minh được HS-TS thuộc về người Việt Nam và đất nước Việt Nam trong triều Nguyễn hoặc trước đó. Phải có bằng chứng thuyết phục về mặt pháp lý, lịch sử, hành chính, … Bởi vì phải có cái gì thuộc về Việt Nam đời trước thì mới truyền lại được cho đời sau, không cần biết đời sau sống bằng thể chế gì, có chia đôi đất nước hay không.
4. Phải chỉ ra cho quốc tế thấy được những bằng chứng về chủ quyền HS-TS của Việt Nam, càng xưa càng tốt, càng có liên quan đến người ngoại quốc càng tốt (để họ làm chứng cho mình, v.d. thực dân Pháp thời nhà Nguyễn).
có nên tạo ra một dàn xếp nội bộ bằng hình thức điều chỉnh pháp lý để tự thoát xác và từ bỏ gia tài sai sót do VNDCCH để lại
Nếu sai sót VNDCCH để lại có ý nghĩa của 1 nghĩa vụ trong công pháp quốc tế, cụ thể là 1 international obligation không được tranh chấp HSTS với TQ, thì không có một sự dàn xếp nội bộ nào mà có thể làm cho Việt Nam thoát khỏi nghĩa vụ có tính chất quốc tế đó.
Nhiều bác cứ làm như CHPVD là trò đùa, có thể “hoá giải” bằng cách QH CHXHCNVN tuyên bố vô hiệu hoá, bằng cách bây giờ làm thủ thục nghi lễ liên quan tới 1 CP đã chết cách đây 34 năm, bằng cách giàn xếp nội bộ.
Nếu CHPVD thật sự ràng buộc VN trong công pháp quốc tế thì những cách trên không thể nào hoá giải được sự ràng buộc đó.
Những ý kiến thảo luận về Công hàm PVĐ do Bác Dương Danh Huy đưa ra, theo tôi, là rất lý thú và đáng cho chúng ta tìm hiểu và đào sâu hơn.
Tuy nhiên, để thấy rõ hậu quả tai hại của Công hàm Phạm Văn Đồng, thay vì lý luận như Bác Huy, xin quý vị thử đặt ngược vấn đề và xem xét lại liệu giá trị pháp lý về chủ quyền của VN trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ như thế nào nếu vào năm 1975 kẻ chiến thắng là VNCH (Miền Nam) chứ không phải là VNDCCH (Miền Bắc).
Theo tôi, nếu điều đó xảy ra thì nước VN thống nhất hiện nay có lẽ sẽ mang tên là nước Việt Nam Cộng Hòa, kẻ thừa kế hợp pháp tư cách pháp nhân của Quốc gia Việt Nam (thời Quốc Trưởng Bảo Đại) và Việt Nam Cộng Hòa (hậu thân của Quốc gia Việt Nam, tức là hậu thân trực tiếp của An Nam dưới thời Pháp thuộc và nước Đại Việt dưới triều Nguyễn thời phong kiến). Nếu thế thì giá trị pháp lý về chủ quyền VN trên HS và TS là liên tục và rõ ràng, hoàn toàn ưu thắng so với tuyên bố chủ quyền mù mờ của Trung Quốc, mà khâu mạnh nhất là sự thừa nhận chủ quyền này của TQ qua Công hàm PVĐ, đương nhiên đã bị loại bỏ vì nước VN hiện nay là kế thừa của VNCH chứ không phải VNDCCH, kẻ đã ký Công hàm PVĐ. Công hàm PVĐ, cùng với mọi hậu quả tai hại của nó đều đã được vô hiệu hóa một cách tuyệt diệu.
Tiếc thay, lịch sử đã xảy ra như là một tai nạn khủng khiếp cho nhân dân VN khi kẻ chiến thắng là VNDCCH vào ngày 30-04-1975. Kể từ ngày đó, nước ta đã bị suy thoái trầm trọng, đã trở nên một quốc gia nghèo hèn thua chúng kém bạn và bị mất nhiều đất, biển vào tay người láng giềng TQ qua hai Hiệp định biên giới bất bình đẳng trên bộ (1999) và trên biển (2000) do chính quyền CHXHCN VN ký với TQ. Ngoài ra, VN hiện nay lại phải bị ràng buộc vào Công hàm PVĐ mà TQ đã sử dụng vô cùng hiệu quả để tuyên bố chủ quyền trên 80% Biển Đông.
Như thế, việc hiện nay nước ta (gồm cả hai miền Nam, Bắc) là nước CHXHCN VN là điều tốt hay xấu, và liệu chúng ta, vì quyền lợi tối hậu và vì sự trường tồn của Tổ quốc, có nên tạo ra một dàn xếp nội bộ bằng hình thức điều chỉnh pháp lý để tự thoát xác và từ bỏ gia tài sai sót do VNDCCH để lại và tái cấu trúc để trở nên kẻ thừa kế của nước VNCH, là một nước tuy bại trận (vào tay của những nười anh em Miền Bắc) nhưng lại là kẻ kế thừa tự nhiên không những chỉ về mặt pháp lý (đối với hai quần đảo HS và TS) mà còn về mặt dân tộc và truyền thống ngàn đời của nước ta từ thời phong kiến, qua thời thuộc Pháp cho đến thời độc lập ngày nay. Một điều lợi nữa là ta sẽ dứt bỏ trọn vẹn mọi lấn cấn về ân nghĩa với nước láng giềng TQ mà nước VNDCCH đã mang nặng qua giai đoạn chạy theo TQ bằng tình cảm quốc tế vô sản mụ mị và bị TQ lợi dụng lừa dối nhiều lần, để ngẩng mặt lên mà sánh vai với TQ và thế giới trong tư cách một quốc gia độc lập và kiêu hãnh.
(TT)
Vì vậy, theo tôi chỉ có 2 câu hỏi là
1. CP VN ngày nay có tư cách để đại diện cho chủ quyền của nước VN d/v HSTS không?
Có lẽ có người lầm lẫn v/d này với v/d “Ngày nay có tồn tại chủ quyền VN d/v HSTS không?”.
Theo tôi, LHQ cho là CP VN ngày nay có tư cách để đại diện cho những chủ quyền lãnh thổ mà nước VN có.
2. Câu hỏi thứ nhì là “Ngày nay có tồn tại chủ quyền VN d/v HSTS không?”.
Trả lời cho câu hỏi này không phụ thuộc vào v/d “CP VN ngày nay có tư cách để đại diện cho chủ quyền của nước VN d/v HSTS không?”.
Tôi cho là nó phụ thuộc vào câu hỏi:
Toà sẽ phán quyết thế nào, luật quốc tế nói gì về:
Quyền của nhân dân miền Nam đối với HSTS (mà VN ngày nay thừa kế) quan trọng hơn, hay trách nhiệm của miền Bắc đối với TQ, nếu có, (mà VN ngày nay thừa kế) quan trọng hơn? Cái nào cần được tôn trọng hơn?
Tôi nghĩ đó mới là câu hỏi quan trọng mà chúng ta cần trả lời, chứ những việc “vô hiệu hoá”, “thủ tục bàn giao long trọng” hơi vớ vẩn.
Nếu chủ quyền VN d/v HS đã chết cùng với CP VNCH (như Tonnesson quan niệm) thì chủ quyền VN d/v TS cũng đã chết cùng với CP VNCH.
Nếu chủ quyền VN d/v HS hay TS hay cả hai đã chết cùng với CP VNCH thì những thủ tục, lễ nghi long trọng mà ông Trương Nhân Tuấn, Hoàng Trường Sa et al đề nghị cũng không làm nó sống lại được.
Ông Trương Nhân Tuấn et al có thể đưa ra 1 đạo luật/công ước/án lệ nào chứng minh 1 nước nếu không làm thủ tục như đề nghị thì không có chủ quyền d/v 1 vùng lãnh thổ, nhưng nếu làm thủ tục, dù sau 35 năm, thì có chủ quyền không?
Mà tôi không tin Tonnesson là chủ quyền VN đối với HS đã chết cùng với CP VNCH. Tôi tin là (khác với khẳng định là) chủ quyền lãnh thổ là thuộc về đất nước, không thuộc về bất cứ CP nào. CP chỉ có vai trò đại diện cho đất nước trong v/d chủ quyền lãnh thổ.
Nếu CP chết, không có nghĩa là đất nước chết. CHVNCH chết, nhân dân miền Nam vẫn còn đó, quyền của họ – hàng chục triệu người, d/v HSTS vẫn còn đó. Quyền đó có trước khi CP VNCH ra đời và không có gì bắt buộc là nó phải chết cùng với CP VNCH.
Nếu quyền của nhân dân miền Nam đối với HSTS không chết đi cùng với CP VNCH thì ngày nay nước Việt Nam, vì bao gồm cả miền Nam, phải có quyền đối với HSTS. Sự tồn tại hay không tồn tại của quyền đó không phụ thuộc vào tính chất của CP VN, không phụ thuộc vào những thủ tục mà ông TN Tuấn đề nghị.
(còn tiếp)
Ông Huy nói:
Không có chuyện “cộng sản” không có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa nhưng “quốc gia” hay “dân chủ” thì có. Không có chuyện CHPVD ràng buộc “cộng sản” nhưng không ràng buộc “quốc gia” hay “dân chủ”.
Không phải vấn đề quốc gia hay CS ở đây, mà là thực tế chính trị vào thời trước 1975. Lúc đó, chỉ VNCH (quốc gia) tuyên bố chủ quyền trên HS năm 1956, và thực sự chiếm giữ một phần đảo (chia với TQ). Chính phủ CM Lâm Thời Miền Nam chỉ tuyên bố chủ quyền ở HS tháng 6-1976, là quá chậm nếu tính từ thời điểm chiếm miền Nam, và nếu so với thời điểm TQ tuyên bố chủ quyền HS. Tuyên bố này lại làm vào lúc HS đã trong tay TQ, nên thiếu thực chất (khác trường hợp TS, VN vẫn còn giữ).
Theo Stein Tonnesson (tài liệu Trúc Lê giới thiệu) khi VNCH mất thì chủ quyền đó cũng mất. Đây là lý lẽ mà TQ chắc chắn sẽ dùng (Tonnesson phát biểu ở Hongkong).
Tới đây sẽ là tranh luận về chính phủ CMLTMN có là kế thừa VNCH không, để tiếp nhận chủ quyền HS. Tôi thấy không đơn giản, vì sau 30-4-1975, tất cả mối liên hệ ngoại giao và hiệp ước quốc tế mà VNCH ký, tôn trọng, và thi hành trước kia đều bị hủy bỏ, không tiếp tục. Thêm nữa, trước 1975, HS còn đang tranh chấp, nên chưa nước nào công nhận HS thuộc về VN (có lẽ trừ Pháp). Nhưng nên để cho các luật gia công pháp quốc tế sẽ làm việc cho VN và TQ tranh cãi chuyện này, nếu TQ bằng lòng đưa ra tòa án quốc tế.
[…] Ghi chú: (*) Trừ khi sáp nhập với nước khác Nguồn: talawas […]
Theo tôi, lý luận của Dương Danh Huy là hoàn toàn chính xác .
Vấn đề khá phức tạp và CHPVD làm cho phức tạp hơn 1 chút nữa . Tuy nhiên việc chính vẫn là chứng minh CHPVD không có giá trị công nhận 2 quần đảo HS – TS là của Trung Cộng, bằng chính những lời lẽ trong Công Hàm. Và bằng lý do Thủ tướng PVD thời đó không có thẩm quyền gì với 2 quần đảo HS – TS .
Chào talawas blog,
Vấn đề công hàm của PVĐ đưa ra trao đổi của tác giả Dương Danh Huy vào lúc này thật thích hợp. Chỉ khi nào phân tích cặn kẽ quá khứ để hiểu biết được đâu là “sự dại dột” lỡ há miệng mắc quai, sự cả tin mù quáng và cả sự ngu dốt đặt lên bàn cân mà đối trọng còn lại vận mệnh của dân tộc Việt, để những ai sở hữu “đỉnh cao trí tuệ” biết cân nhắc cẩn trọng và lắng nghe tiếng nói lòng dân thì đâu có chuyện “mình làm khổ mình” như cái “gia tài khó nuốt” để lại cho hậu thế như ngày nay.
Rất cám ơn tác giả Dương Danh Huy.
Công hàm PVĐ, như mọi người đều rõ, là một thực tế đau đớn và ô nhục mà mọi con dân VN (bất kể quan điểm chính trị) đều phải gánh chịu trong hiện tại và con cháu chúng ta trong tương lai đều phải chia phần về những mất mát, nếu có, do nó (nghĩa là do cha đẻ của nó, tức là ông Hồ Chí Minh và đảng Lao Động VN) gây ra.
Bởi vậy, nhắc đến Công hàm PVĐ mà không một lời phê phán sự sai lầm của những kẻ đã tạo ra nó là một điều thiếu lương thiện. Lại càng thiếu lương thiện và trơ trẽn hơn khi tìm đủ mọi cách để lấp liếm, che đậy và ngăn cản không cho người khác bàn về những tai hại do Công hàm ô nhục này gây ra, viện cớ là sẽ có hại cho quyền lợi của VN nếu TQ biết được những sai sót của phía VN ta. Nói như thế là ta đã quá xem thường TQ.
Trở lại vấn đề thừa kế chủ quyền của VN trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa do tác giả Dương Danh Huy đưa ra, tôi đồng ý với Bác Huy là nước CHXHCN VN hiện nay, ít nhất là trên nguyên tắc, vừa chịu trách nhiệm về sai trái do Công hàm PVĐ gây ra (với tư cách là kẻ thừa kế nước VNDCCH ở Miền Bắc) đồng thời cũng CÓ THỂ là thừa kế chủ quyền của VN trên hai quần đảo HS, TS (qua tư cách là kẻ thừa kế nước VNCH ở Miền Nam). Tuy nhiên, đứng trên phương diện công pháp quốc tế mà nói, theo tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ từ năm 1945 đến nay, việc nước CHXHCN VN thừa kế nước VNDCCH, theo tôi nghĩ là đương nhiên và rất rõ ràng, nhưng trái lại, việc nó thừa kế nước VNCH là rất mù mờ, không minh bạch, và có thể nói là bất hợp pháp. Lý do chính yếu là kể từ năm 1945 đến nay, chính quyền nước VNDCCH (tiền thân của CHXHCN VN) luôn tuyên bố tự nhận mình là đại diện duy nhất và hợp pháp của TOÀN THỂ nước VN (từ Ải Nam Quan tới mũi Cà Mâu) và bác bỏ sự hiện hữu của nước VNCH, xem đó là NGỤY, mặc dù con số các nước trên thế giới công nhận VNCH đông hơn hẳn số nước công nhận VNDCCH. Sau năm 1975, sau khi dùng vũ lực xâm lăng chiếm trọn Miền Nam, đảng CSVN đã cưỡng bách sáp nhập Miền Nam vào Miền Bắc (mà không thông qua bất cứ hành động pháp lý hợp pháp nào, như bằng cách hỏi ý kiến của nhân dân Miền Nam, vốn là công dân nước VNCH trước đây, trong đó có cả cá nhân tôi). Do đó, hành vi này chính là việc hiện thực hóa chủ trương nhất quán của đảng CSVN rằng Miền Nam VN chỉ là vùng do địch tạm chiếm, và nay đã lấy lại được sau khi thống nhất đất nước. Điều này, theo tôi, sẽ làm suy yếu trầm trọng giá trị pháp lý của việc CHXHCN VN thừa kế chủ quyền của VNCH trên HS và TS trước con mắt pháp luật của các nhà trọng tài quốc tế.
Bởi thế, tôi đồng ý với tác giả Trương Nhân Tuấn rằng chính quyền VN hiện nay cần tổ chức thực hiện việc thừa kế nước VNCH (ở Miền Nam VN) một cách long trọng và chính thức, qua những thủ tục hợp với công pháp quốc tế. Lý tưởng nhất, nhưng e rằng những người cầm quyền trong nước khó mà chấp nhận, là thực hiện việc thừa kế này bằng cách tái lập (trên hình thức pháp lý) sự hiện hữu của hai nước VNCH (kế tục của Miền Nam VN trước năm 1975) và VNDCCH (kế tục của Miền Bắc VN trước 1975) bằng hai chính quyền tạm thời, và thực hiện tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Sau đó tuyên bố thành lập nước VN mới với danh xưng mới (nước Cộng Hòa Việt Nam chẳng hạn) với quốc kỳ, quốc ca, quốc huy, quốc hiệu mới v.v…
Vì sự tồn vong của Tổ quốc, vì quyền lợi lâu dài của các thế hệ VN tương lai, tôi nghĩ đảng CSVN cần sáng suốt thực hiện những điều này để bảo vệ chủ quyền của VN trên Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông. Việc ta tự lấp liếm bằng lời để biện hộ hóa giải những thiệt hại do Công hàm PVĐ gây ra, theo tôi, chỉ là hành động tự sướng kiểu A Quy, hoàn toàn vô bổ, nếu không muốn nói là vô cùng tai hại khi vì thế mà HS, TS đã hoàn toàn lọt vào tay Tàu.
Hoàn toàn đồng ý với bác Huy về vấn đề Quốc hội Việt Nam đừng bao giờ tuyên bố rằng CHPVD không có hiệu lực.
Làm thế vô hình chung Việt Nam công nhận là CHPVD đã có giá trị pháp lý trong quá khứ!
Đây là một hành động rất dại dột vì tự chúng ta tăng giá trị của CHPVD từ 0% lên một tỷ lệ nhất định nào đấy, i.e. 50%, về mặt pháp lý.
Trung Quốc sẽ không có mong ước nào hơn.