talawas blog

Chuyên mục:

Hoàng Sa – Trường Sa, một bài học cho xứ nhược tiểu

13/05/2009 | 12:10 sáng | 28 Comments

Tác giả: Dũng Vũ

Category: Quan hệ Việt – Trung, Vấn đề Biển Đông
Thẻ:

Bài viết “Láng giềng hữu nghị” của ông Dương Danh Huy đăng trên talawas ngày 08.05.2009 và bản tin “TQ phản đối hồ sơ đăng ký của VN” đăng trên trang BBC tiếng Việt cùng ngày cho biết, Việt Nam và Mã Lai đã đồng nộp đơn lên Liên Hiệp Quốc đăng ký thềm lục địa mở rộng tại Biển Đông trong khi Trung Quốc ra sức chống việc này.

Thái độ Trung Quốc chống là lẽ đương nhiên.

Bất kỳ ai theo dõi về mối xung đột Hoàng Sa và Trường Sa bấy lâu nay đều có thể nhìn thấy trước một hậu quả bất công, rằng cái lý luôn thuộc về kẻ mạnh.

Lịch sử nhân loại đã nhắc nhở chúng ta biết bao lần như thế. Chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản là những ví dụ còn nóng hổi: Mạnh được yếu thua.

Thử ngẫm nghiệm, giả sử sau kỳ nộp đơn xin quốc tế công nhận vùng lãnh thổ trên Biển Đông, Việt Nam thành công, nghĩa là những gì đòi hỏi trên danh nghĩa lý thuyết đã thuộc về mình, thế nhưng câu hỏi thực tế lớn nhất vẫn là, Việt Nam có dám bảo đảm Trung Quốc không xâm phạm chủ quyền của mình không? Quốc tế có dám bảo đảm những gì họ công nhận không?

Chắc chắn là không.

Iraq là một nước có chủ quyền, Mỹ đánh Iraq, ai làm gì được Mỹ? Tây Tạng là một nước có chủ quyền, Trung Quốc chiếm, ai làm gì được Trung Quốc? Việt Nam cũng có chủ quyền được thế giới công nhận, nhưng mai mốt Trung Quốc đến chiếm, thì ai làm được gì Trung Quốc? Có ai dám bỏ xương máu bảo vệ Việt Nam trước mộng bá quyền của Trung Quốc không? Chắc chắn là không, nếu không có lợi.

Không ai lạ gì, “chủ nghĩa có lợi” từ lâu đã được các cường quốc phương Tây tôn vinh như một thứ chủ nghĩa thực dụng hạng nhất và được lấy làm triết sống. Đối với triết sống này, “đạo đức” chỉ là một khái niệm lạ. Mọi thứ khác không có lợi cho cái Tôi đều bị loại ra ngoài. Cuối cùng, cái còn lại không có gì khác hơn là lòng vị kỷ. Ai có lợi thì chơi. Thế thôi.

Đối diện trước một cái “thế thôi” lãnh đạm của kẻ mạnh như thế, Việt Nam thấy mình và Trung Quốc, ai là người có lợi cho kẻ đó? Ai là người đáng được kẻ đó lựa chọn? Dĩ nhiên là Trung Quốc.

Tôi không phải là người đi quảng cáo thuyết tiến hóa của Darwin, nhưng – cũng như mọi người vào lúc này – biết rõ một điều: con thằn lằn Trung Quốc đang từ từ hóa thân thành con khủng long của thế giới. Anh Đại Hán nhà quê rách rưới hôm qua chỉ là chuyện cũ, hoàn toàn khác với anh Đại Hán hôm nay đang làm chủ một kho bạc khổng lồ đầy Đô-la, Euro và nhiều thứ hấp dẫn khác đối với đám chủ nghĩa có lợi. Anh ta có thể làm nhiều chuyện không ai biết trước được.

Dẫu sao đi nữa phải công bằng mà nói, Trung Quốc trong nhiều thập niên qua đã muốn xóa bỏ thật nhanh tai tiếng lạc hậu để trở thành một nước hùng cường. Việt Nam cũng có đủ điều kiện nhưng làm quá chậm. Sự thành công không gây ấn tượng bằng căn bệnh kinh niên “làm ít, nói nhiều”, cường điệu đến lố bịch.

Cái khẩu hiệu “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa” đã dội lên đầu người dân suốt mấy chục năm liền, cuối cùng vẫn không chỉ được cho ai thấy mặt mũi “xã hội chủ nghĩa” là gì. Chán quá, người ta bèn thay thế nó bằng một khẩu hiệu mới “Toàn Đảng, toàn dân với trí tuệ ưu việt tiến vào thế kỷ 21” rồi lại đem trưng trên đường phố.

Chín năm trôi qua, nó vẫn chưa làm cho bộ mặt Việt Nam có trí tuệ hơn chút nào. Dưới sự lãnh đạo của người CSVN hôm nay, Việt Nam vẫn là một nước yếu kém, chỉ giỏi đem sức lao động rẻ mạt đi bán, trồng lúa bán, nuôi tôm cá bán, đào mỏ bán, đào được gì bán đó. Đã vào thế kỷ 21 rồi, tại sao Việt Nam vẫn chưa tự chế được một chiếc xe đạp hoàn hảo đủ sức cạnh tranh với Trung Quốc bán khắp thế giới, dù việc đó chỉ cần loại trí tuệ tầm thường, đừng nói gì ưu việt.

Tựa vậy, những khẩu hiệu “Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Hồ Chí Minh cũng được đem ra dạy dỗ các đồng chí CSVN và người dân triền miên suốt nửa thế kỷ nay. Quả là một việc làm phí công và thừa thãi. Chẳng cần dạy dỗ, mỗi công dân đều ý thức được chuyện đó. Những cuộc xuống đường của người dân trong nước gần đây phản đối hành vi Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa – Trường Sa là một ví dụ điển hình. Không phải dân mà chính Đảng CSVN đã không nghe lời “Bác” dạy, đã mặc nhiên chấp thuận cho ông Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký công hàm gửi CS Bắc Kinh công nhận Hoàng Sa – Trường Sa là lãnh thổ của Trung Quốc.

Cho nên không hẳn là ông Trương Nhân Tuấn không có lý khi cho rằng cái công hàm ô nhục kia là một yếu tố quan trọng được Trung Quốc khai thác tối đa để xâm chiếm Hoàng Sa và Trường Sa.

Tất nhiên tôi luôn ủng hộ tinh thần giải quyết vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa một cách hòa bình và minh bạch theo quy ước quốc tế, như các vị Phạm Quang Tuấn, Dương Danh Huy đã đề ra. Chỉ có điều đáng tư lự là giải pháp lý tưởng ấy có khả thi không; nói cách khác là Trung Quốc có chấp nhận giải quyết vấn đề theo “luật quốc tế” hay không?

Riêng cá nhân tôi, tôi không tin điều đó. Bằng cớ là vấn đề tranh chấp Biển Đông chưa được đặt lên bàn, Trung Quốc đã chống vụ Việt Nam và Mã Lai gửi hồ sơ đăng ký thềm lục địa mở rộng lên Liên Hiệp Quốc rồi, nhu đã biết.

Rõ ràng Trung Quốc muốn giải quyết vấn đề trên tư thế kẻ mạnh. Điều đó đặt cho chúng ta một câu hỏi đáng bi quan rằng cái “luật quốc tế” có thắng nổi cái “luật rừng” Trung Quốc hay không. Có lẽ câu trả lời có xác suất cao nhất là không.

Mối xung đột Biển Đông ngày càng gay gắt. Các nước Đông Nam Á ngày càng bị Trung Quốc lấn ép. Kinh nghiệm lịch sử cũng chỉ ra rằng toàn khối ASEAN họp lại vẫn là một tập thể yếu ớt và thiếu đoàn kết, huống gì tập thể vài ba nước thành viên của nó đang có mối quan tâm chung về vấn đề Trường Sa họp lại. Làm sao Việt Nam có thể đặt niềm tin vào đó?

Đối với Việt Nam nói riêng, vấn đề bây giờ là tìm đâu ra sức mạnh để chống lại con khủng long hung hãn kia đang muốn nuốt sống mình. Mà phải làm thật nhanh, vì nên nhớ, “chạy đua 100 thước” với thế giới là chủ trương của Trung Quốc hiện thời.

Có lẽ chỉ còn một giải pháp bất đắc dĩ cuối cùng là làm thế nào nắm được sức mạnh nguyên tử.

Stuttgart, 05.2009

© 2009 Dũng Vũ

© 2009 talawas blog

Bình luận

28 Comments (bài “Hoàng Sa – Trường Sa, một bài học cho xứ nhược tiểu”)

  1. Dương Danh Huy viết:

    Thật ra bác Trúc Lê dịch “estopped” thành “bác bỏ” là không chính xác. “Estop” có nghĩa như ngăn chặn chứ không phải bác bỏ.

    Kết luận chính của Greg Austin là

    (A)While Vietnam may have established a valid title through annexation in 1816 and through subsequent surveys, it would appear that France as the protecting power after 1884 may have presided over the lapse of any pre-existing Annamite title –by failing to protest or prevent the frequent exercise of sovereignty by China for a significant time and by expressly recognising Chinese sovereignty as late as 1929.

    (B) Had France maintained a title, on behalf of Annam, from the 1830s to 1931 (B.1), it is possible that such a title could probably now be claimed by the SRV as successor state to RVN (B.2), on the basis that the RVN maintained a claim to and a physical presence in the islands after the French withdrawal from Indochina until 1974.

    (C) There is, however, considerable room to conclude that the DRV’s recognition of PRC sovereignty over the Paracel Islands in 1958 and its lack of protest to the claim between 1958 and 1975 create an estoppel in respect of the SRV claim to the Paracel Islands.

    Chemiller-Grendreau phản biện (A) khá thuyết phục. Theo Chemiller-Grendreau thì (B.1) đúng.

    Tôi cho rằng (C) chỉ thuyết phục 1/3, vì 2 lý do:

    _Hành vi của DRV và TQ chưa đủ các điều kiện cho estoppel.
    _Giả sử DRV bị estopped, không nhất thiết SRV cũng bị estopped.

  2. hoangtruongsa viết:

    (tiếp theo và hết)

    Tuy nhiên CHND TH không cần nghỉ ngơi –và không nghỉ ngơi- trên hành vi bác bỏ (ét-tốp-pen) này. Một số những hành động khác của VNDCCH do CHND TH nại ra trên đây có thể được sử dụng như là bằng cớ thừa nhận của VNDCCH về tuyên bố chủ quyền của CHND TH.[109] Những hành động này gồm có việc xuất bản thường xuyên của các cơ quan chính quyền VNDCCH các bản đồ ghi rõ Quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ của CHND TH.[109] Mặc dù các bản đồ này không phải là bằng chứng bó buộc của sự thừa nhận của VNDCCH, tuy nhiên một cách hợp lý ta có thể xem chúng như là bằng cớ của một niềm xác tín trong chính phủ VNDCCH rằng Quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ của CHND TH.
    Quan trọng hơn nữa, việc VNDCCH không phản kháng sự chiếm đóng một phần hay toàn thể Quần đảo Hoàng Sa trong một thời gian 20 năm từ 1955 tới 1975 hầu như chắc chắn sẽ được diễn giải như là một sự thừa nhận.[110] Đáng lưu ý đặc biệt là sự thất bại của VNDCCH đã không lên tiếng phản đối việc CHND TH đã dùng vũ lực chiếm đóng Quần đảo Hoàng Sa vào đầu năm 1974 và sự thất bại sau đó của VNDCCH trong việc phản kháng việc chiếm giữ này cho đến khi các liên hệ chính trị đã suy sụp trầm trọng, làm cho tuyên bố chủ quyền của CHXHCN VN có vẻ như là một tuyên bố chính trị thay vì một tuyên bố pháp lý.

    Ý nghĩa pháp lý của việc thừa nhận của VNDCCH là như sau đây. Trong các trường hợp phân xét quyền sở hữu bất lợi về lãnh thổ, việc thừa nhận là điều cốt yếu trong tiến trình tậu được tư cách chủ quyền.[111] Các tuyên bố của CHXHCN VN về sự chiếm đóng Quần đảo Hoàng Sa của CHND TH là một sự sở hữu bất lợi như thế. Vậy mà trong suốt 20 năm chính phủ VNDCCH đã giữ im lặng. Trong hoàn cảnh của việc tranh chấp lãnh thổ này, thực không phải là không hợp lý nếu CHND TH lý luận rằng VNDCCH có nhiệm vụ phải phản kháng việc chiếm đóng nếu họ mong muốn giữ được bất cứ quyền nào tại đây.
    Câu trả lời duy nhất mà CHXHCN VN có thể nêu ra trước những phản bác như thế là một khi nhà cầm quyền Sài Gòn (nước VNCH) còn phản kháng và chống đối bằng hành động cụ thể trước việc chiếm đóng Quần đảo Hoàng Sa, thì không cần gì phải có thêm sự phản kháng và chống đối của VNDCCH nữa. Nước CHXHCN VN có thể lập luận rằng họ là quốc gia kế tục của VNCH, cho nên họ được thừa hưởng mọi quyền lợi của VNCH trong việc tranh chấp lãnh thổ với CHND TH. Tuy nước CHXHCN VN không nói rõ ra điều này nhưng trong các tuyên bố của họ đã rõ là có hàm ý điều đó. CHXHCN VN cũng lý luận rằng do hoàn cảnh cực kỳ khó khăn mà họ đã phải đối diện trong suốt cuộc nội chiến kéo dài họ bắt buộc phải tập trung toàn lực để đối phó với những vấn đề quan trọng hơn là việc về chủ quyền trên các đảo bị tranh chấp.[112]

    Tuy nhiên những phản biện này đã không đi vào vấn đề chính. Giá mà VNDCCH giữ im lặng, thì vấn đề có lẽ vẫn còn được bỏ ngỏ. Nhưng những bước chủ động do VNDCCH thực hiện để thừa nhận hoàn toàn mà không có chút ngần ngại lưỡng lự trước tuyên bố của CHND TH về chủ quyền lãnh hải trong đó có liệt kê Quần đảo Hoàng Sa như là lãnh thổ của CHND TH đã tạo cho CHND TH các căn cứ hợp lý để tin rằng VNDCCH đã không có cùng chủ quyền giống như VNCH đối các đảo này. Nếu VNDCCH giữ lại một chút kỳ vọng chủ quyền nào trên các đảo này, thì hầu như chắc chắn là họ bắt buộc phải đăng ký lập trường này khi họ nhận được lập trường chính thức trong bản tuyên bố chủ quyền của CHND TH. Sự thiếu vắng sau đó của phản kháng của VNDCCH/CHXHCNVN trong 20 năm đã nhân lên nhiều lần hiệu quả bất lợi cho CHXHCN VN trước sự thừa nhận của VNDCCH năm 1958.
    Hiệu quả pháp lý của sự bác bỏ quyền thụ lý này chỉ giới hạn vào các hành vi trước khi CHXHCN VN thay đổi chính sách và tuyên bố chủ quyền trên Quần đảo Hoàng Sa. CHXHCN VN hoàn toàn có tự do thay đổi chính sách và đăng ký tuyên bố chủ quyền, nhưng việc bị bác bỏ (ét-tốp) có nghĩa là, khi tuyên bố chủ quyền, CHXHCN VN chỉ được phép dựa vào những biến cố sau ngày thay đổi chính sách để hỗ trợ cho tuyên bố của mình. Cơ sở duy nhất cho tuyên bố chủ quyền này là kỳ vọng chủ quyền chứa đựng trong các tuyên bố và các bản văn lập pháp của CHXHCN VN sau năm 1975, không đủ sức mạnh để trục bỏ tư cách chủ quyền do CHND TH và nước Trung Hoa thành lập qua việc thực thi chủ quyền trên các đảo này giữa các năm 1920s và thời điểm này.

    Kết luận

    Tuyên bố chủ quyền của CHND TH trên Quần đảo Hoàng Sa có lẽ nên được xem như là đã được chứng minh bởi những bằng cớ trong thảo luận trên đây, chủ yếu là dựa vào cơ sở của sức mạnh tương đối của các tuyên bố chủ quyền của CHND TH so sánh với các tuyên bố của CHXNCN VN, đặc biệt là trước “thời điểm tới hạn” hợp lôgic nhất là năm 1931.

    Kết luận này không dựa vào các tuyên bố quyền sở hữu lâu đời. Sự thiếu sót bằng cớ rõ ràng về hành sử qua tư cách chủ quyền của cả hai phía Việt Nam hay Trung Quốc trong thời trung cổ đã làm hao mòn (yếu đi) giá trị của các tài liệu do hai bên trưng dẫn thuộc giai đoạn trước năm 1816. Trong khi Việt Nam có lẽ đã thành lập được tư cách chủ quyền hợp pháp qua việc sáp nhập vào năm 1816 và qua các cuộc thám sát theo sau, nhưng có vẻ là Pháp quốc, như là chính quyền bảo hộ sau 1884, đã ngự trị gây nên sự thất cách của tư cách pháp nhân của An Nam được thành lập trước đó- qua sự thất bại đã không phản kháng và ngăn cản việc hành sử chủ quyền thường xuyên của người Trung Hoa trong một khoảng thời gian đáng kể và qua sự thừa nhận chủ quyền của Trung Hoa trễ nhất là năm 1929.
    Giá mà nước Pháp giữ được tư cách chủ quyền, thay mặt cho An Nam, từ những năm 1830s tới 1931, thì có lẽ là tư cách này có thể được nước CHXHCN VN tuyên bố như là quốc gia kế tục của VNCH, trên cơ sở là VNCH đã giữ được khẳng định chủ quyền và sự hiện diện cụ thể trên các đảo này kể từ lúc Pháp rút ra khỏi Đông Dương cho đến năm 1974. Tuy nhiên, có nhiều căn bản đáng kể để kết luận rằng việc VNDCCH thừa nhận chủ quyền của CHND TH trên quần đảo Hoàng Sa vào năm 1958 và việc họ đã không phản kháng tuyên bố của Trung Quốc trong thời gian từ 1958 đến 1975 đã tạo ra một ét-tốp-pen (tức là bác bỏ quyền thụ lý tranh chấp – ghi chú của Trúc Lê) đối với tuyên bố chủ quyền của CHXHCN VN trên Quần đảo Hoàng Sa.
    Trọng lượng bằng chứng có vẻ cho thấy khẳng định chủ quyền của CHND TH trên Quần đảo Hoàng Sa là mạnh hơn của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

    Greg Austin

  3. Dương Danh Huy viết:

    Thật ra tôi cũng đồng ý ít nhiều với bài của Greg Austin ở điểm tôi cho rằng có thể là hành vi của VNDCCH đã làm VNDCCH trước 30/4/75 bị ràng buộc không được tranh chấp HSTS với TQ.

    Nhưng (tôi nghĩ) phân tích của Greg Austin sai ở điểm không tính đúng khía cạnh:

    1. Cho tới 30/4/75 miền Nam dưới CP VNCH không hề mất chủ quyền đối với HSTS.

    2. Sau 30/4/75, nước VN thống nhất thừa kế chủ quyền đối với HSTS tờ miền Nam.

    3. Tức là VN ngày nay thừa kế 2 điều trái ngược nhau:

    3.1 Chủ quyền đối với HSTS từ miền Nam.
    3.2 Trách nhiệm không được tranh chấp HSTS với TQ từ miền Bắc.

    Tôi nghĩ nếu cho là chỉ tồn tại 3.2 (như Greg Austin) hay chỉ tồn tại 3.1 đều không chính xác, chỉ là nhìn 1/2 vấn đề.

    Tôi nghĩ sự thật là tồn tại cả 3.1 và 3.2 và nếu ra Toà thì Toà sẽ xét xem điều nào takes priority. Và đó có thể là điều chúng ta cần nghiên cứu.

  4. hoangtruongsa viết:

    (tiếp theo)

    The legal effect of this estoppel is confined to acts before the SRV changed its policy and claimed the Paracel Islands. The SRV is perfectly free to change its policy and register a claim, but the estoppel means that in making its claim, the SRV can only rely on events after the change of policy to support a claim. The only basis of such a claim is the pretension to sovereignty contained in SRV statements and legislation after 1975, which are inadequate to displace the title established by the PRC and China through exercise of sovereignty in the islands between the 1920s and that date.

    Conclusion

    The PRC claim to sovereignty over the Paracel Islands probably can be taken as proven by the evidence discussed above mainly on the basis of the relative strength of PRC claims over those made by the SRV, particularly before the most logical “critical date” of 1931.
    This conclusion does not rest on the claims of immemorial possession. The absence of clear evidence of acts à titre de souverain either by Vietnam or China in the medieval period undermines the value of documentary materials from before 1816 to either side in the territorial dispute. While Vietnam may have established a valid title through annexation in 1816 and through subsequent surveys, it would appear that France as the protecting power after 1884 may have presided over the lapse of any pre-existing Annamite title –by failing to protest or prevent the frequent exercise of sovereignty by China for a significant time and by expressly recognising Chinese sovereignty as late as 1929.
    Had France maintained a title, on behalf of Annam, from the 1830s to 1931, it is possible that such a title could probably now be claimed by the SRV as successor state to RVN, on the basis that the RVN maintained a claim to and a physical presence in the islands after the French withdrawal from Indochina until 1974. There is, however, considerable room to conclude that the DRV’s recognition of PRC sovereignty over the Paracel Islands in 1958 and its lack of protest to the claim between 1958 and 1975 create an estoppel in respect of the SRV claim to the Paracel Islands.
    The weight of evidence would appear to suggest that the claim of the People’s Republic of China to sovereignty of the Paracel Islands is stronger than that of the Socialist Republic of Vietnam.

    Greg Austin
    ————————–
    Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã bác bỏ (estopped) tuyên bố chủ quyền của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
    (trích cuốn “Biên Giới Đại Dương của Trung Quốc” của Greg Austin, trang 126-130)

    Những lý lẽ mạnh nhất do nước CHND TH (Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa – ghi chú của Trúc Lê) đưa ra để hỗ trợ cho những tuyên bố chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa là các tuyên bố này đã được thừa nhận bởi quốc gia kế tục An Nam, nước VNDCCH (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – ghi chú của Trúc Lê), sau khi được độc lập đã lâu từ nước Pháp vào năm 1945. Nước CHND TH đã nêu ra những lý lẽ trên trong bức thư do Đại Diện Thường Trực của CHND TH gửi ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc ngày 23 tháng 11 năm 1980.[96] Bức thư khẳng định:
    Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã là lãnh thổ của Trung Quốc từ thuở xa xưa… Đây là một sự kiện mà phía Việt Nam, qua các tuyên bố và các công hàm của chính phủ, qua các báo chí và tập san và qua các bản đồ và sách giáo khoa, đã nhiều lần trịnh trọng lên tiếng thừa nhận và tôn trọng.[97]
    Nước CHND TH nêu ra một công hàm ngoại giao do ông Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng nước VNDCCH, gửi cho CHND TH ủng hộ tuyên bố về lãnh hải của nước CHND TH vào năm 1958.[98] Công hàm của ông Phạm Văn Đồng không đặc biệt đề cập đến Quần đảo Hoàng Sa nhưng bởi vì bản tuyên bố của CHND TH có đề cập đến quần đảo này, CHND TH cho rằng việc thiếu sót của Việt Nam đã không phản kháng việc ghi quần đảo này như lãnh thổ của CHND TQ là một minh chứng rõ ràng là VNDCCH đã thừa nhận tuyên bố chủ quyền này của CHND TH.[99] Bức thư, trích dẫn công hàm của Việt Nam, đã nói rằng Việt Nam “thừa nhận và ủng hộ” bản tuyên bố và “tôn trọng quyết định này” của CHND TH.[100] Vào ngày 6 tháng 9 năm 1958, Nhân Dân, tờ nhật báo của Đảng Lao Động Việt Nam, đã đăng trang trọng lên trang đầu đầy đủ tất cả mọi chi tiết của bản tuyên bố của CHND TH mà không bình luận gì hết.[101] Tờ nhật báo này được xem như là ấn loát chính thức của chính quyền do sự lãnh đạo mạnh mẽ của Đảng Lao Động trên chính quyền.
    Ngày 9 tháng 5 năm 1965, chính phủ nước VNDCCH ra tuyên bố về việc phân chia các vùng giao tranh dọc duyên hải Việt Nam của Hoa Kỳ.[102] Tuyên bố này của VNDCCH đã diễn tả vùng giao chiến này là xâm phạm “vùng biển của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tại Quần đảo Tây Sa của Trung Quốc”. Vào ngày 13 tháng 5 năm 1969, báo Nhân Dân tường thuật một vụ xâm phạm của phi cơ Hoa Kỳ trên “Đảo Yongxing và Đảo Đông thuộc Quần đảo Tây Sa của tỉnh Quảng Đông Trung Quốc”.[103] Nước CHND TH tuyên bố rằng nhiều bản tường thuật tương tự như thế đã được báo chí Việt Nam đưa ra.[104]

    Nước CHND TH cũng nêu ra các tuyên bố của một vị Thứ trưởng Ngoại giao và một công chức cao cấp trong Bộ Ngoại giao năm 1956 ủng hộ chủ quyền của CHND TH trên các Quần đảo Hoàng Sa (và Trường Sa).[105]
    Trong cuốn Bạch Thư 1979 của nước CHXHCN VN gửi kèm theo một bức thư cho ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, sự thiếu vắng các hành động của VNDCCH và CHXHCN VN trong việc bảo vệ cái mục đích chủ quyền của Việt Nam là đáng kinh ngạc. Tất cả mọi hành động từ năm 1955 đến 1974 được nêu ra trong Bạch Thư đều do “nhà cầm quyền Sài Gòn” thực hiện. Tuyên bố minh bạch đầu tiên của VNDCCH và CHXHCN VN về chủ quyền trên Quần đảo Hoàng Sa chỉ xuất hiện vào tháng 6 năm 1976 cùng lúc với bản đồ chỉ rõ Hoàng Sa là lãnh thổ của VNDCCH.[106] Phản ứng chính thức của chính phủu VNDCCH đối với việc CHND TH dùng vũ lực chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974 cũng chỉ giới hạn trong một thời gian dài vào một tuyên bố đưa ra khoảng độ một tháng sau trận đánh:
    …những tranh chấp lãnh thổ và biên giới phức tạp thường xảy ra giữa các nước láng giềng đòi hỏi sự thẩm xét thận trọng và cẩn mật. Các quốc gia liên hệ cần nên giải quết các tranh chấp như thế qua các thương thuyết và trong tinh thần láng giềng hữu nghị.[107]
    Trong tất cả mọi điều về bằng chứng do CHND TH đưa ra như là chứng cớ là VNDCCH đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Quần đảo Hoàng Sa, bằng cớ có tính kết luận nhất có thể là cái công hàm của Thủ Tướng VNDCCH ủng hộ tuyên bố lãnh hải của CHND TH. Công hàm này là một văn kiện trao đổi từ một chính phủ gửi cho một chính phủ khác. Và chủ đề của công hàm là về chủ quyền lãnh thổ trên, gồm cả, Quần đảo Hoàng Sa; và nước VNDCCH không những đã không phản kháng chủ quyền do CHND TH đưa ra mà lại còn ủng hộ nó. Như đã đề cập trong Phụ lục I, vài tác giả cho rằng luật quốc tế rất rõ ràng về điểm nói rằng một khi mà một nước đã thừa nhận tư cách chủ quyền [của một nước khác] thì nước đó trong tương lai sẽ không còn được thụ lý trong việc tranh chấp về tính hợp pháp của chủ quyền của nước đó nữa. Như thế, chỉ qua hành động này thôi nước VNDCCH có thể đã bác bỏ (ét-tốp) bất cứ quyền nào của họ trong việc tranh chấp tư cách chủ quyền với CHND TH về các đảo này.

    (còn tiếp)

  5. hoangtruongsa viết:

    Để rộng đường dư luận, tôi xin mạn phép post lại dưới đây bài của độc giả Trúc Lê đưa lên Web Đàn Chim Việt đoạn ý kiến của Tiến sĩ Greg Austin về giá trị pháp lý của Công hàm PVĐ (bản tiếng Anh và bản dịch của Trúc Lê)

    The Democratic Republic of Vietnam estopped Socialist Republic of Vietnam Claims
    (excerpt from Greg Austin, China Ocean’s Frontiers, pp. 126-130)

    The strongest arguments raised by the PRC (People’s Republic of China- Truc Le noted) in support of its claims to sovereignty of the Paracel Islands is that these were recognised by the successor state to Annam, the DRV (Democratic Republic of Vietnam- Truc Le noted), well after its independence from France in 1945. The PRC has made these arguments in a letter to the UN Secretary-General from the PRC Permanent Representative on 23 November 1980.[96] The letter asserts:
    The Paracel and Spratly Islands have been Chinese territory since ancient times… This is a fact of which the Vietnamese side, in statements and notes of its government, in its newspapers and magazines and in its maps and textbooks, solemnly expressed for many times its recognition and respect.[97]
    The PRC cites a diplomatic note to the PRC from Pham Van Dong, Prime Minister of the DRV, supporting the PRC’s territorial sea declaration of 1958.[98] Pham Van Dong’s note did not specifically mention the Paracel Islands but since the PRC declaration did, the PRC implies that the lack of Vietnamese protest at the inclusion of the islands as PRC territory demonstrates an apparent DRV acquiescence in the PRC’s claim.[99] The letter, quoting from Vietnam’s note, said that Vietnam “recognises and supports” the declaration and “respects this decision” by the PRC.[100] On 6 September 1958, the Vietnamese Worker’s Party daily, Nhan Dan, prominently displayed on page one full details of the declaration by the PRC without comment.[101] This newspaper was akin to a government publication because of the dominance of the government by the Worker’s party.
    On 9 May 1965, the DRV government issued a statement on US designation of a combat zone off the coast of Vietnam.[102] The DRV statement described the zone as affecting “the territorial waters of the People’s Republic of China in its Paracel Islands”. On 13 May 1969, Nhan Dan reported an incursion by US aircraft over “Yongxing Island and East Island of the Paracel Islands of China’s Guangdong Province”.[103] The PRC claims that many similar reports were carried in the Vietnamese press.[104]
    The PRC also cites statements by a DRV Vice-Foreign Minister and a senior Foreign Ministry official in 1956 supporting PRC sovereignty over the Paracel (and Spartly) Islands.[105]
    In the SRV’s 1979 White Book sent under cover of a letter to the UN Secretary-General, the lack of activity by the DRV or SRV in defence of the purported Vietnamese claim is striking. All the actions referred to in the White Book between 1955 and 1974 were carried out by the “Saigon authorities”. The first explicit statement of a DRV or SRV claim to the Paracel Islands came in June 1976 with the publication of a map showing the Paracel Islands as DRV territory.[106] The public reaction of the DRV government to the 1974 military take-over of the Paracel Islands by the PRC was limited for a long time to a statement made a month or so after the clashes:
    …the frequently complex disputes over territories and frontiers between neighbouring countries demand careful and circumspect examination. Countries involved should settle such disputes by negotiations and in a spirit of good neighbourliness.[107]

    Of all the items of evidence presented by the PRC as proof of DRV recognition of Chinese sovereignty over the Paracel Islands, the most conclusive may be the note from the DRV Prime Minister supporting the PRC territorial sea declaration. The note was a government to government communication. And its subject was territorial sovereignty over, inter alia, the Paracel Islands; and the DRV not only raised no objection to the PRC claim but supported it. As mentioned in Appendix I, some writers suggest that international law is clear on the point that recognition by a state to a title estops that state from contesting its validity at a future time. By this one act alone, the DRV may have forfeited any right to challenge the PRC title to the islands.
    However, the PRC need not rest –and does not rest- on this one act of estoppel. A number of other DRV actions referred to by the PRC and mentioned above might be used as evidence of DRV acquiescence [108] in the PRC claim. These acts include the frequent publication by DRV government agencies of maps showing the Paracel Islands to be PRC territory.[109] While these maps would not be binding proof of DRV acquiescence, they would reasonably be seen as evidence of a general conviction in the DRV government that the Paracel Islands were PRC territory.
    More importantly, the lack of DRV protest at the PRC occupation of some or all of the Paracel Islands for the twenty years from 1955 to 1975 would almost certainly be interpreted as acquiescence.[110] Of particular note is the failure of the DRV to protest the armed take-over by the PRC of the Paracel Islands in early 1974 and the subsequent failure of the SRV to protest the continuing occupation until political relations had deteriorated seriously, making the SRV claim appear more like a political one than a legal one.
    The legal significance of the DRV acquiescence is as follows. In cases proceeding from an adverse possession of territory, acquiescence is the essence of the process of acquisition of title.[111] The SRV claims that the PRC occupation of the Paracel Islands is such an adverse possession. Yet for twenty years the DRV government remained silent. In the circumstances of this territorial dispute, it would not be unreasonable for the PRC to argue that the DRV had a duty to protest the occupation if it wished to maintain any right there.
    The only answer that the SRV may have to such contentions is that as long as the Saigon authorities (the RVN) were protesting and physically opposing the Chinese occupation of the Paracel Islands, there was no requirement for the DRV to have protested or opposed the occupation. The SRV could argue that as successor state to the RVN, it inherited the RVN’s rights in the territorial dispute with the PRC. The SRV does not explicitly make this point but it is clearly implied in its claims. The SRV also argues that the extreme circumstances in which the DRV found itself during the continuing civil war obliged it to pay attention to more serious issues than territorial sovereignty over the disputed islands.[112]

    These rebuttals do not address the basic point, however. If the DRV had remained silent, the question might remain open. But the active step taken by the DRV to recognise without demur or reservation the PRC declaration on the territorial sea which named the Paracel Islands as Chinese territory provided the PRC with reasonable grounds to believe that the DRV did not have the same claims as the RVN to the islands. If the DRV retained some pretension to sovereignty over the islands, it was almost certainly bound to register that position when it took an official position on the PRC declaration. The absence of a subsequent DRV/SRV protest over twenty years compounds the disadvantageous effect for the SRV of the DRV’s recognition in 1958.

    (còn tiếp)

  6. Dương Danh Huy viết:

    Bác Hoàng Trường Sa,

    Nếu tôi nói

    “CH PVD không có hiệu lực ràng buộc VN ngày nay”

    hay

    “Chưa chắc là CH PVD có hiệu lực ràng buộc VN ngày nay”

    thì điều đó không có nghĩa là tôi bênh vực nó.

    Trong các học giả quốc tế thì có người nói là CH PVD có hiệu lực ràng buộc VN ngày nay, có người nói không có.

    Không thể chỉ dựa trên nhóm nói “có” hay nhóm nói “không” mà kết luận.

    Tôi tin là CH PVD có làm cho lý lẽ chủ quyền của VN bị yếu đi, nhưng yếu thế nào, yếu bao nhiêu, có yếu tới thua không thì còn cần nghiên cứu thêm.

    Có lẽ những người ủng hộ quan điểm “CH PVD có hiệu lực ràng buộc đối với CHXHCNVN ngày nay” chưa hiểu thấu được là nếu vậy thì nó cũng sẽ ràng buộc đối với CHTBCNVN, nếu có một ngày nào đó trong tương lai.

  7. hoangtruongsa viết:

    Thưa Bác Dương Danh Huy,

    Bác Huy thường bênh vực cho cái Công hàm PVĐ (trên trang Web Minh Biện và trên X-café VN) là nó không có giá trị pháp lý và tuồng như Bác ngụ ý phê phán những ai nêu nó ra là “nối giáo cho giặc”. Thật ra không hẳn là vậy đâu. Vì theo Tiến sĩ Greg Austin (giảng dạy môn luật quốc tế ở Úc) viết trong cuốn China Ocean’s Frontiers, nó có giá trị ràng buộc đấy. Ý kiến này của Ts Austin đã được Tiến sĩ Stein Tonnesson đồng ý như sau. Tài liệu này tôi đọc được do một độc giả tên Trúc Lê đưa ra trên Web Đàn Chim Việt cách đây vài năm, xin mạn phép post lại đây.

    (Trích “THE PARACELS: THE ‘OTHER’ SOUTH CHINA SEA DISPUTE”, paper presented at the South China Sea Panel, International Studies Association, Hong Kong Convention, 26-28 July 2001 by Dr. Stein Tonnesson, International Peace Research Institute, Oslo (Prio), trang 11-12)

    “- Officials of the Democratic Republic of Vietnam (DRV, North Vietnam) on several
    occasions issued statements in support of the PRC claim to the Paracel group, which was considered by all the socialist countries to belong to China. So did the official press of North Vietnam. These statements probably amount to an estoppel of any previous Vietnamese claim to the Paracels.[29]
    Today’s Socialist Republic of Vietnam is a successor state to the DRV and the Provisional Revolutionary Government of South Vietnam (PRG), not to the Republic of Vietnam, and is therefore legally bound by statements made by officials of the DRV government during the 1950s and 1960s. The sovereignty claims of the Republic of Vietnam lapsed with the fall of that regime in 1975.

    Dr. Stein Tonnesson

    Footnote:
    [29] A summary of these statements may be found in Greg Austin. China’s Ocean Frontier, pp. 126-130. The most important was an official communication from Vietnamese Prime Minister Pham Van Dong in 1956 in support of the PRC’s territorial sea declaration. The declaration mentioned the Paracels as Chinese territory. The DRV’s estoppel of the Vietnamese claim forms one of the two premises for Greg Austin’s conclusion that China has a superior claim to the Paracels. The other main premise is that France failed to uphold the former Annamese claim in the period 1885-1931.”

    Cám ơn bạn Phương Duy rất nhiều. Tôi xin dịch đoạn trích dẫn trên đây ra Việt ngữ như sau.

    (Trích bài “HOÀNG SA : CUỘC TRANH CHẤP “KHÁC” Ở BIỂN ĐÔNG”, bài tham luận trình bày tại Nhóm Biển Đông, Hội Nghiên cứu Quốc tế, Hội nghị tại Hồng Kông, ngày 26-27/07/2001 của Tiến sĩ Stein Tonnesson, Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế, Oslo (Prio), trang 11-12)

    “- Một số quan chức của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH, Bắc Việt) đã trong vài trường hợp đưa ra những lời công bố ủng hộ chủ quyền của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHND TH) trên quần đảo Hoàng Sa, mà lúc đó được tất cả các nước trong phe xã hội chủ nghĩa xem mhư là thuộc nước Trung Quốc. Cơ quan thông tấn nhà nước chính thức của Bắc Việt cũng tuyên bố như thế. Những tuyên bố này có lẽ đã gây ra một lỗi tiền-hậu-bất-nhất (estoppel) chống lại bất cứ tuyên bố chủ quyền nào của Việt Nam trước đây trên quần đảo Hoàng Sa. [29]

    Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay là quốc gia kế tục của nước VNDCCH và của Chính phủ Lâm thời Giải phóng Nam Việt Nam (CPLTGPNVN), chứ không là hậu thân của nước Việt Nam Cộng Hòa, và do đó theo pháp luật phải bị ràng buộc bởi những lời tuyên bố do các quan chức của chính phủ VNDCCH trong những thập niên 1950 và 1960. Những tuyên bố về chủ quyền của nước Việt Nam Cộng Hòa đã bị thất cách [nghĩa là bị vô hiệu hóa, ghi chú của TL] cùng lúc với sự sụp đổ của chế độ này vào năm 1975.

    Tiến sĩ Stein Tonnesson

    Cước chú:
    [29] Bản tóm tắt các lời tuyên bố này có thể tìm thấy trong sách của Greg Austin. “Biên giới Đại Dương của Trung Quốc”, trang 126-130. Tuyên bố quan trọng nhất là công hàm của Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng vào năm 1956 ủng hộ bản tuyên bố chủ quyền lãnh hải của nước CHND TH. Bản tuyên bố này nói rõ rằng Quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ của Trung Quốc. Cái lỗi tiền-hậu-bất-nhất (estoppel) này của nước VNDCCH về phía Việt Nam là một trong hai tiền đề (premises) mà dựa theo đó Greg Austin đã đi tới kết luận rằng tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa là ưu thắng (hơn Việt Nam). Tiền đề thứ hai là việc nước Pháp đã thất bại trong việc duy trì tuyên bố chủ quyền trước đây của An Nam trong giai đoạn 1885-1931.”

  8. Dương Danh Huy viết:

    Bác Hoà,

    Nhiều người Việt nêu việc TQ dùng CH PVD như điều có chứng minh CH này có hiệu lực ràng buộc VN ngày nay.

    Thật ra TQ dùng nhiều lý lẽ hoàn toàn không có giá trị pháp lý, chỉ có giá trị tuyên truyền.

    Cũng chưa chắc gì CH này có hiệu lực ràng buộc VN ngày nay. Chưa chắc gì thế giới cho là nó có hiệu lực ràng buộc VN ngày nay. Chưa chắc gì Toà sẽ cho như thế.

    Điều đáng buồn là thay vì nghiên cức nghiêm túc nó có hiệu lực gì và tìm lý lẽ phản biện nó thì có khi người ta lại đem nó ra để phê phán nhau, vv.

    Đáng buồn hơn nữa là có khi trong việc phê phán người ta lại vô tình tuyên truyền rằng nó có hiệu lực ràng buộc, trong khi chưa chắc là nó có hiệu lực ràng buộc. Như vậy rất có lợi cho TQ.

    Giá trị duy nhất mà ngày nay chúng ta có thể chắc chắn về CH PVD là giá trị tuyên truyền cho TQ. Người Việt không nên góp phần làm tăng giá trị đó.

  9. Hoà Nguyễn viết:

    (Tiê’p theo)

    c) Bài học về nước CHND Trung Quốc trong giáo trình cơ bản của môn địa lý của Việt Nam xuất bản năm 1974, đã ghi nhận rằng các quần đảo từ Trường Sa và Hoàng Sa đến đảo Hải Nam và Ðài Loan hình thành một bức tường phòng thủ vĩ đại cho lục địa Trung Quốc.

    Trích và lược dịch từ trang web cua Bộ Ngoại Giao Trung Quốc

    http://www.fmprc.gov.cn/eng/topics/3754/t19232.htm

  10. Hoà Nguyễn viết:

    Công hàm PVĐ được nhắc tới mỗi khi TQ bàn về vấn đề chủ quyền HS&TS. TQ dùng công hàm này như chứng cứ mạnh nhất cho rằng VN đã công nhận chủ quyền TQ trên hai quần đảo đó. Bản dịch sau đây từ trang mạng Anh ngữ của bộ Ngoại giao TQ về điều gọi là quốc tế công nhận chủ quyền TQ ở TS, phần nói về nước VN:

    Sự công nhận của thế giới về chủ quyền của Trung Quốc trên Quần đảo Trường Sa

    5. Việt Nam

    a) Thứ trưởng ngoại giao Ðồng văn Khiêm của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khi tiếp ông Li Zhimin, xử lý thường vụ Toà Ðại Sứ Trung quốc tại Việt Nam đã nói rằng “theo những dữ kiện của Việt nam, hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa là môt bô phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc”. Ông Le Doc, quyền Vụ trưởng Á châu Sự vụ thuộc Bộ Ngoại giao Việt nam, cũng có mặt lúc đó, đã nói thêm rằng “xét về mặt lịch sử thì các quần đảo này đã hoàn toàn thuộc về Trung quốc từ thời nhà Tống”

    b) Báo Nhân Dân của Việt Nam đã tường thuật rất chi tiết trong số xuất bản ngày 6/9/1958 về Bản Tuyên Bố ngày 4/9/1958 của Nhà nước Trung quốc, rằng kích thước lãnh hải của nước Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý và điều này được áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của phía Trung quốc, bao gồm tất cả các quần đảo trên biển Nam Trung Hoa. Ngày 14/9 cùng năm đó, Thủ tướng Phạm Văn Ðồng của phía nhà nước Việt Nam, trong bản công hàm gởi cho Thủ tướng Chu An Lai, đã long trọng tuyên bố rằng Việt Nam “nhìn nhận và ủng hộ Bản Tuyên Bố của Chính phủ Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc trong vấn đề lãnh hải”.
    (Còn tiếp)

  11. Hà Minh viết:

    Chạy đua chế tạo vũ khí nguyên tử ? là một ý kiến hay ho hay chỉ là một ý tưởng điên rồ trong lúc này ? Muốn sở hữu vũ khí nguyên tử cần phải có một tiềm lực kinh tế và một trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến chưa kể yếu tố lãnh đạo phải đàng hoàng có tầm vóc quốc tế: cả ba điều trên VN đều dưới mức “thắt lưng”, làm sao dám loe ngoe chạy đua nguyên tử với láng giềng Đại Hán? Thế giới không thể tồn tại chỉ dựa trên nguyên tắc vũ lực (hay lẽ phải thuộc về kẻ mạnh). Việt nam cũng không thể tự chế được vũ khí nguyên tử như Bắc Hàn hay Iran. Nếu làm như thể thì các nước Đông Nam Á khác nghĩ sao,… “trăm hoa đua nở”, Thái, Mã, Indo,…thậm chí Lào và Campuchia cũng chạy đua nguyên tử để đối chọi lại với VN và TQ ?

  12. Phạm Quang Tuấn viết:

    Hy vọng lãnh đạo Việt Nam (dù là CS bây giờ hay một chế độ không CS sau này) đừng bao giờ có ý nghĩ như ông Dũng Vũ về vũ khí nguyên tử!

    Ít ra là trong vòng 20-30 năm nữa, khi TQ chưa thành siêu cường, thì tình hình chưa hoàn toàn bi quan. Nếu các nước Đông Nam Á quanh Biển Đông (dân số 500 triệu) tiếp tục đoàn kết, mỗi nước góp vào vài chiến hạm, tàu ngầm, cộng military intelligence của Mỹ từ thiết bị điện tử và vệ tinh, ở vào vị trí người sáng (ĐNÁ) đánh người mù (TQ), thì sẽ là một đối thủ đáng gờm của TQ. Hải quân TQ còn phải chia hai mặt để đối phó (Đông và Nam), và luôn luôn e dè các hạm đội của Mỹ. Đó là sách lược tốt nhất và thực tế nhất cho VN và các nước ĐNÁ.

  13. hoangtruongsa viết:

    “Cho nên không hẳn là ông Trương Nhân Tuấn không có lý khi cho rằng cái công hàm ô nhục kia là một yếu tố quan trọng được Trung Quốc khai thác tối đa để xâm chiếm Hoàng Sa và Trường Sa.” (trích lời tác giả Dũng Vũ)
    Tôi đồng ý với nhận định này của ông Dũng Vũ. Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng rõ ràng là bằng cứ MẠNH NHẤT mà phía TQ đã khai thác tối đa từ năm 1958 đến nay để xâm chiếm Hoàng Sa và Trường Sa. Họ đã sử dụng Công hàm này như một vũ khí tuyên truyền hết sức thành công song song với việc sử dụng sức mạnh quân sự và kinh tế của một nước TQ đang trỗi dậy thành một siêu cường thế giới.
    Theo tôi, đảng CSVN đã tỏ ra hoàn toàn bất lực, không đối phó nổi trước vấn nạn mất đất mất biển của Tổ quốc. Đã 21 năm trôi qua từ ngày Hải quân TQ bắn giết một cách vô nhân đạo lính hải quân ta tại Trường Sa năm 1988, đảng CSVN đã che đậy lấp liếm không cho toàn dân biết, chỉ chạy theo tùng phục Tàu, hy vọng là làm như thế TQ sẽ nới tay. Thực ra, TQ chỉ chờ thời cơ xây dựng lực lượng hải quân đủ mạnh mới ra tay, trong khi VN hoàn toàn không làm gì đáng kể để ngăn cản cái ngày bi thảm khi TQ chiếm nốt tất cả những đảo do VN còn trấn đóng tại Trường Sa.
    Bây giờ mọi việc xem ra đã quá trễ. Tuy nhiên, còn nước còn tát. Sức mạnh DUY NHẤT mà VN ta hiện có chính là lòng yêu nước của toàn dân Việt trong cũng như ngoài nước. Đảng CSVN phải biết để cho nhân dân tham gia vào việc bảo vệ sự vẹn toàn đất tổ. Lòng yêu nước không phải là một vòi nước mà đảng có thể đóng hay mở tùy tiện khi cần thiết. Nó là ngọn lửa soi sáng và là nguồn động lực đoàn kết toàn dân VN trong suốt gần 5000 năm lịch sử trước mối họa Bắc xâm. Phải nhanh chóng cho Quốc Hội nước CHXHCN VN chính thức phủ nhận Công hàm Phạm Văn Đồng như là một hiệu lệnh tiến quân trước nguy cơ mất Biển Đông. Phải thực hiện Dân chủ, từ bỏ chính sách cai trị độc đoán và độc ác hiện nay, đoàn kết toàn dân trong cũng như ngoài nước để có thêm sức mạnh dân tộc hầu chung sức chung lòng cứu nước.
    Việc chế tạo bom nguyên tử như tác giả đề nghị, theo tôi, là không thực tế vì ta chỉ nhận phải sự chống đối của thế giới một cách vô ích, trong khi điều ta cần nhất hiện nay là thiện cảm và sự đồng tình của quốc tế trước hành vi xâm lấm Biển Đông ngang nược của TQ.

  14. Dương Danh Huy viết:

    Không ai nghĩ rằng nếu có biện pháp ngoại giao, pháp lý thì chủ trương và những hành động xâm lăng của TQ sẽ bỗng nhiên lăn quay ra chết.

    Không ai nghĩ (nếu có thì không nên nghĩ) rằng nếu TQ đánh đảo biển VN thì sẽ có nước nào đánh TQ để giúp VN.

    Nhưng những khía cạnh ngoại giao, pháp lý cũng có trọng lượng trên cán cân “đánh hay không” của TQ. Nếu không có trọng lượng thì TQ đã đánh từ lâu rồi. Điều cần làm là tăng tối đa trọng lượng đó. Có thể ngày nào đó trọng lượng tối đa vẫn không đủ, nhưng cũng phải tăng tối đa khi có thể.

    Nếu những biện pháp ngoại giao, pháp lý đang được cổ động không khả thi thì tham vọng cái lưỡi bò liếm ngang còn không khả thi hơn nhiều.

    Ngoài ra, còn khía cạnh danh dự. Giả sử TQ có chiếm thêm biển đảo của VN đi nữa thì người Việt nào có thể thì cũng nên nói “Đó là của Việt Nam” thay vì nói “Sức mạnh bao giờ cũng đúng” và im lặng để TQ nói là “Đó là của TQ, Việt Nam chiếm bất hợp pháp, bây giờ TQ lấy lại”.

  15. Dương Danh Huy viết:

    Việt Nam mà phát triển vũ khí hạt nhân trong giai đoạn này là đi vào đường cùng. Sẽ thành international pariah. Sẽ bị cô lập. Sẽ bị cấm vận. Sẽ thiệt hại cho kinh tế, quân sự (vũ khí công ước).

    Mà cũng không dùng được vũ khí hạt nhân để phục vụ tranh chấp HSTSBĐ. Có dám bắn TQ không? Giết 10 triệu dân TQ cũng chỉ là 1% dân số nước này. TQ trả đũa gấp 10 chắc giết 90% dân VN.

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>