talawas blog

Chuyên mục:

Thấy gì qua cuộc điều tra năng lực cạnh tranh? (2)

06/05/2009 | 1:25 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Thấy gì qua cuộc điều tra năng lực cạnh tranh? (2)

Tác giả: Trần Bình

Category: Kinh tế - Môi trường
Thẻ:

 IV. Chính sách hay Lịch sử

Trong tài liệu Lịch sử hay chính sách – Tại sao các tỉnh phía Bắc không phát triển nhanh hơn (Why Don’t Northern Provinces Grow Faster?), ấn hành năm 2004, các ông David Dapice, Đại học Harvard, Phạm Anh Tuấn, Bùi Văn, Đại học Kinh tế TP. HCM, Nguyễn Đình Cung, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, đã phân tích những nguyên nhân của sự phát triển chênh lệch giữa các địa phương hai miền Nam Bắc. Các tác giả đã loại bõ ba lý do thường được viện dẫn để biện minh: hạ tầng cơ sở, chi phí lao động, và tác dụng lan tỏa cụm tập trung (cluster). Một nguyên nhân quan trọng và sâu xa được nhóm đưa ra là “Khu vực phía Bắc đã nhiều năm theo hệ thống kế hoạch hóa tập trung, thiếu kinh nghiệm về kinh tế thị trường.. lối suy nghĩ cũ đã cản trở sự phát triển của miền Bắc. Các cán bộ vẫn ngồi chờ việc đến, suy nghĩ theo kiểu kế hoạch hoá tập trung và kỳ vọng nhà nước dẫn dắt các doanh nghiệp lớn. Thực ra nhiều người còn trở nên e ngại, nghi ngờ khi các doanh nghiệp tư nhân phát triển quá lớn”.

Nguyên nhân quan trọng khác được nhóm David nêu lên là giá đất đắt đỏ là điểm bất lợi cho các tỉnh phía Bắc: “Sự chênh lệch lớn trong giá đất giữa miền Bắc và miền Nam vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của thực tế là phía Nam thân thiện với các hoạt động của tư nhân hơn… Nhu cầu về đất ở phía Bắc tại mức giá cao như hiện nay đang chịu tác động của đầu cơ. Chính do Hà Nội nằm gần các tỉnh nên nhiều cán bộ trung ương có thể dễ dàng mua đất ở các tỉnh lân cận. Nắm được thông tin khu vực đất đai nào sẽ được chuyển đổi trở thành một thông tin vô cùng đáng giá, bởi đây là cơ hội mua được quyền sử dụng đất với giá rất rẻ khi người chủ chưa biết được thông tin này, để rồi bán đi thu với mức giá cao hơn nhiều”.

Trên diễn đàn VNECONOMY cập nhật: 02/06/2006, PCI 2006: Bức tranh nhiều tương phản, ông Nguyễn Đình Cung thẳng thắn nhận xét: “ưu thế của các tỉnh phía Nam trên bảng xếp hạng là minh chứng cho nhận định rằng các địa phương này cho đến nay đã tỏ ra thành công hơn trong việc xây dựng một nền kinh tế theo định hướng thị trường, trong khi môi trường kinh doanh các tỉnh, thành phía Bắc vẫn còn đang chịu quá nhiều ảnh hưởng từ các mối quan hệ”.

Liệu rằng những dữ kiện từ các cuộc điều tra chỉ số năng lực cạnh tranh của các địa phương thực hiện trong những năm gần đây có cho thấy dấu hiệu của sự cải thiển đối với tình trạng phát triển thiếu cân đối này?        

12. Bản đồ xếp hạng 64 tỉnh và thành phố qua hai cuộc điều tra PCI hai năm 2006, 2008 đã phát họa một bức tranh tổng thể về năng lực cạnh tranh của các địa phương. Các thứ hạng được phân chia theo màu: màu tím (rất tốt), xanh đậm (tốt), xanh (khá tốt), xanh nhạt (trung bình), hồng (tương đối thấp) và đỏ (thấp). Nhìn chung, các tỉnh phía Nam (từ Quảng Trị vào) xanh hơn các tỉnh phía Bắc, các khu vực đồng bằng xanh hơn vùng sâu, vùng xa, và điểm số PCI năm 2008 xanh hơn năm 2006.

Bảng đồ màu theo thứ hạng PCI năm 2006 - 2008

Bảng đồ màu theo thứ hạng PCI năm 2006 - 2008

 

13. Để thấy được rõ nét hơn, trong biểu đồ dưới đây, chúng tôi gôm ba thứ hạng rất tốt, tốt, khá tốt vào nhóm “tốt”, hai hạng tương đối thấp và thấp vào nhóm “thấp”, và giữ nguyên trạng nhóm “trung bình”. Năm 2006, các tỉnh phía Nam dẫn xa các tỉnh phía Bắc trong nhóm “tốt” (15/9), và khoảng cách này vẫn tiếp tục gia tăng đến năm 2008 (20/10). Về nhóm “thấp”, năm 2006, các tỉnh phía Bắc chiếm tỷ số cao hơn các tỉnh phía Nam đáng kể (13/8), và tỷ lệ này tiếp tục gia tăng đến năm 2008 (13/5). Nói cách khác, qua ba năm 2006-2008, trong khi thứ hạng PCI tổng họp của các tỉnh phía Bắc hầu như không thay đổi, thì hạng thứ của các tỉnh phía Nam tiếp tục cải thiện, khiến khoảng cách của các chỉ số năng lực cạnh tranh giữa hai miền ngày càng gia tăng.

 

Số tỉnh mỗi miền theo nhóm (phân loại theo xếp hạng PCI). Nguồn: Bảng do tác giả tự lập theo số liệu điều tra PCI 2006-2008.

Số tỉnh mỗi miền theo nhóm (phân loại theo xếp hạng PCI). Nguồn: Bảng do tác giả tự lập theo số liệu điều tra PCI 2006-2008.

 14. Từ một góc độ khác, nhóm điều tra PCI thống kê 10 tỉnh đã cải thiện nhiều nhất về thứ hạng PCI trong giai đoạn 2006-2008. Cà Mau cải thiện nhiều nhất, tăng 38 hạng, và Hà Tĩnh cải thiện nhanh thứ 10, tăng 11 hạng. Trong 10 địa phương này, chỉ có Hà Nam và Hà Tĩnh là các tỉnh phía Bắc, 8 tỉnh còn lại là những tỉnh phía Nam.

10 tỉnh cải thiện nhiều nhất thứ hạng PCI - giai đoạn 2006-2008. Nguồn: điều tra PCI 2008 (16)

10 tỉnh cải thiện nhiều nhất thứ hạng PCI - giai đoạn 2006-2008. Nguồn: điều tra PCI 2008 (16)

15. Một lối phân tích khác là so sánh xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh của các thành phố trung ương của hai miền, là đầu tàu kinh tế của đất nước. Sự phát triển của các trung tâm này có tác dụng lan tỏa và nối kết với các vùng phụ cận. Trong biểu đồ dưới đây, ngoại trừ Điện Biên được đưa vào để so sánh, trong năm thành phố trung ương, các TP phía Nam: Đà Nẵng, Sài Gòn và Cần thơ có thứ hạng cao hơn đáng kể so với các TP phía Bắc: Hà Nội và Hải Phòng.

Thứ hạng PCI các TP trung ương (trừ Điện Biên) - giai đoạn 2006-2008

Thứ hạng PCI các TP trung ương (trừ Điện Biên) - giai đoạn 2006-2008

Thứ hạng PCI các TP trung ương (trừ Điện Biên) – giai đoạn 2006-2008

16. Sau cùng, hãy thử xem xét nhóm chỉ số liên quan đến các lĩnh vực mà nhóm David cho rằng đã ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của các địa phương phía Bắc. Hai chỉ số chi phí không chính thức và minh bạch thông tin liên quan đến nhũng nhiễu, trục lợi, và khai thác các mối quan hệ để bôi trơn sự vận hành của các hoạt động kinh doanh, khả năng tiếp cận đất đai ảnh hưởng lớn đến giá cả đất, và việc thực thi chính sách phát triển kinh tế tư nhân thể hiện tính thân thiện đối với các hoạt động kinh tế của tư nhân.

Trong cả bốn lĩnh vực này, các tỉnh phía Bắc đều bị tụt hậu khá xa. Trong số 20 địa phương được xếp hạng đầu bảng, căn cứ theo điểm trung vị, số tỉnh phía Nam so với số tỉnh phía Bắc trên mỗi chỉ số đều vượt trội: 13/7, 16/4, 15/5, và 15/5.

Số tỉnh mỗi miền đạt điểm trung vị cao ở mỗi chỉ số so sánh năm 2008. Nguồn: Bảng do tác giả tự lập theo số liệu điều tra PCI 2008

Số tỉnh mỗi miền đạt điểm trung vị cao ở mỗi chỉ số so sánh năm 2008. Nguồn: Bảng do tác giả tự lập theo số liệu điều tra PCI 2008

Phần kết

 17. Kết quả của các cuộc điều tra chỉ số năng lực cạnh 2006-2008 cho thấy đã có sự tiến triển đáng kể trên một số lĩnh vực của môi trường kinh doanh kinh tế tư nhân, song những mặt tồn tại vẫn còn rất bề bộn. Điểm trung vị tổng họp của các chỉ số cạnh tranh trên cả nước thấp (53/100), phản ảnh xu hướng phát triển thiếu mất cân đối một cách đáng quan ngại: một số chỉ số quan trọng, là nút thắt đối với sự phát triển kinh tế tư nhân và nền kinh tế, bị sụt giảm mạnh hoặc vẫn không cải thiện và điểm số PCI chênh lệch đáng kể giữa các vùng, miền đã kéo điểm trung vị tổng hợp xuống thấp. Khoảng cách chênh lệch này đã không thu hẹp mà còn gia tăng theo thời gian cho thấy dấu ấn lịch sử vẫn chưa phai nhạt.

18. Về vai trò của chính quyền địa phương, nhóm nghiên cứu PCI đã đưa ra nhận định rất đáng lưu ý: “Hơn một nửa số tỉnh đạt được những bước nhảy vọt là các tỉnh có cam kết pháp lý để cải thiện kết quả điểm số PCI ” (17). Điều này cho thấy năng lực điều hành của chính quyền địa phương giữ vai trò rất quan trọng trong tiến trình cải thiện môi trường kinh doanh. Nhận định này cũng phù hợp với phân tích của WB qua “Báo cáo Phát triển Việt Nam 2006“: trong tiến trình xây dựng và hoàn chỉnh, trình trạng luật pháp tại Việt Nam còn thiếu rõ ràng, bất cập và chồng chéo, thì khả năng diễn giải và thực hiện các đạo luật và nghị định trung ương của các cấp chính quyền địa phương là một trong những nhân tố quyết định thành quả của phát triển kinh tế địa phương”. Trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế xã hội và vị trí đầu đàn trong các cuộc điều tra PCI của TP Đà Nẵng thường được nhắc đến như một trường hợp điển hình về hiệu quả của công tác điều hành của chính quyền cấp địa phương.

19. Nhóm nghiên cứu cũng khuyến cáo về chính sách phát triển vùng: “điểm mấu chốt là các nhà hoạch định chính sách cân bằng được giữa tái phân phối và đầu tư cơ sở hạ tầng (CSHT)…Về thực chất, CSHT đang kiềm chế khả năng phát triển của những vùng tăng trưởng nhanh, trong khi đó, các nhà hoạch định chính sách lại sử dụng CSHT để thực hiện tái phân phối giữa các vùng. Xét cho cùng, tốc độ tăng trưởng của quốc gia chậm lại sẽ làm giảm nguồn lực sẵn có để thực hiện tái phân phối” (18). Về điểm này, đã có nhiều nhà phân tích, trong đó có nhóm Havard, chỉ trích chính sách phát triển vùng của Việt Nam – xây dựng tràn lan nhiều dự án hoành tráng thâm dụng vốn, hiệu quả kinh tế thấp: cảng, đóng tàu, lọc dầu, xi măng, đường, thép…

20. Sau cùng, trong bối cảnh các qui định luật pháp trung ương còn nhiều bất cập, tình trạng thi hành luật tùy tiện tại các địa phương khá phổ biến, và căn bệnh tham nhũng vẫn không thuyên giảm, các nhà phân tích quan ngại rằng sự cạnh tranh phát triển địa phương có thể dẫn đến tình trạng “xé rào” và gây ô nhiễm môi trường. Đã có nhiều tường trình về tình trạng xé rào để thu hút đầu tư, phục vụ quyền lợi cục bộ của địa phương, song gây thiệt hại đến lợi ích chung. Về môi trường, ông Edmund J. Malesky, trưởng dự án điều tra PCI, đã nhận định trên saigontimesweekly, Little Evidence Of Race To Bottom, ngày 11/17/2007: “các nhà đầu tư cũng quan tâm đến môi trường và không chỉ tìm kiếm những nơi nào luật lệ bảo vệ môi trường yếu kém nhất, vì không có ai, kể cả nhà đầu tư, muốn sống trong môi trường nguy hại đến sức khoẻ”. Trên thực tế, tình trạng ô nhiễm trầm trọng đã được nhiều báo chí trong nước tường trình, và vụ xử lý công ty Đài Loan Vedan gây ô nhiễm sông Thị Vải chỉ là một trường hợp điển hình đã được đưa lên công luận.

*

Theo Báo cáo năng lực cạnh tranh 2008-2009 của World Economic Forum, Việt Nam được xếp hạng 70/131 quốc gia, so với Phillipine (71), Indonesia (55), Ấn độ (50), Thái Lan (34), China (30), và Malaysia (21). Trong bối của nền kinh tế thế giới đang suy thoái, nguồn vốn FDI trở nên khan hiếm, sự cải thiện của môi trường kinh doanh nhầm thu hút FDI – trong cuộc cạnh tranh với các nước trong khu vực – lại càng quan trọng.

Trên góc độ năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập, sự cải thiện môi trường kinh doanh đối với khu vực kinh tế tư nhân, khả dĩ dẫn đến sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân năng động và thu hẹp khu vực kinh tế nhà nhà nước kém hiệu năng, sẽ là những chỉ dấu quan trọng của tiến trình chuyển đổi nền kinh tế theo định hướng thị trường và sự phát triển của nền kinh tế đất nước. 

Từ kết quả và các phân tích của các cuộc điều tra chỉ số năng lực cạnh tranh, tiến trình cải thiện môi trương kinh doanh và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân sẽ còn phải đối đầu với nhiều thách thức cam go và dài lâu.

Chú thích

 (16) BCCT p.16

(17) BCTT p.17

(18) BCTT p.33

Tháng 4/2009

© 2009 Trần Bình

© 2009 talawas blog

Bình luận

Không có bình luận (bài “Thấy gì qua cuộc điều tra năng lực cạnh tranh? (2)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>