talawas blog

Chuyên mục:

30 tháng Tư, ngày vui qua mau…

04/05/2009 | 12:40 sáng | 8 Comments

Tác giả: Nguyễn Trọng Văn

Category: Tổng hợp, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: > >

Tôi có thói quen tới ngày 30/4, trước và sau vài ba ngày, ngồi yên  trước máy tính, bên tách trà Lipton còn bốc khói, chờ ý tưởng mới lạ xuất hiện – giống như Nguyễn Khuyến ngồi  chờ cá cắn câu. 30/4 năm nay tôi cũng chờ những ý tưởng xuất hiện, như một thú vui, cái thú của sự chờ đợi, tươi sống, còn dẫy đành đạch nhưng cũng có thể chỉ là những hoài niệm nhợt nhạt, không tên, ẩm mốc. Ở cái tuổi cổ lai hi, người ta thường hồn nhiên, yêu ghét như trẻ con hoặc dớ da dớ dẩn như một thằng ngố. Dưới ánh mặt trời, điều gì cũng có thể xẩy ra.  

1.

a. Chúng ta thường nói ngày vui qua mau, tuy nhiên vui với ai, không vui với ai, làm gì có vui hoặc buồn chung chung. Lối nói đó xưa coi như tự nhiên, nay không còn thích hợp nữa. Mọi sự như đã được/bị lịch sử hoặc tâm lý xã hội phân chia rạch ròi, với một số người đó là Tháng Tư Đen, thất bại nhục nhã…, với một số người khác đó là ngày thống nhất đất nước, Nam Bắc sum họp một nhà…

Hòa hợp hòa giải vẫn luôn luôn là vấn đề có thực và cấp bách, cho cả hai phía. Có hiện tượng  ngăn sông cấm chợ, có những rào cản không thể vượt qua? Trước kia có ngăn sông cấm chợ khách quan, ngày nay có những rào cản chủ quan đôi khi còn khó vượt qua hơn. Do người Việt trong nước hay hải ngoại, tôi e rằng phần khó khăn xuất phát từ phía trong nước cũng nhiều. (Cf: kiêu ngạo “xã hội chủ nghĩa”, chữ ông Năm Xuân thường dùng để phê phán thái độ kiêu ngạo của người chiến thắng? Bạn có nghĩ vậy không?)

b. Mãi tới lúc 16 giờ chiều ngày 30-4-1975 ba vị thuyết khách của ông Dương Văn Minh, thuộc thành phần thứ ba là luật sư Trần Ngọc Liễng, giáo sư Châu Tâm Luân và Linh mục Chân Tín mới từ trại David Tân Sơn Nhất ra về. Các ông là những người được tướng Dương Văn Minh cử làm đại diện vào trại David chiều ngày 29-4-1975 để thuyết phục những người của Mặt trận với lời yêu cầu họ đừng đánh phá Sài Gòn. Các tướng Nguyễn Anh Tuấn và đại tá Võ Đông Giang đã hứa chỉ pháo chút ít để làm áp lực với tướng Dương Văn Minh mà thôi. Quân Bắc Việt đã tiến vào Tân Sơn Nhất nên các ông bị kẹt lại cho đến chiều 30-4 mới ra về được (…)

Có một chi tiết khá quan trọng nhưng được diễn tả hoặc quá linh động, uyển chuyển (phía người nói) hoặc quá xúc động, căng thẳng (về phía người nghe) nên tính hàm hồ/lưỡng nghĩa khá cao: đừng đánh phá Sài Gòn chỉ pháo chút ít để làm áp lực, hai câu này ý nghĩa và hành động rất  khác nhau chứ. Có người coi ông Dương Văn Minh là bại tướng, đã đầu hàng còn đòi hỏi cái gì…, điều đó đúng, nhưng theo tôi vấn đề không phải ở chỗ đó, Dương Văn Minh đầu hàng nhưng xin đừng biến Sài Gòn thành đống gạch vụn, nghĩa là đừng để thường dân phải  khổ, phải hy sinh thêm nữa. Mấy chục năm qua chúng ta lo bàn về thắng bại và hình như ít chú ý tới chi tiết này. Việc đánh giá cần sòng phẳng và công bằng dù từ phía nào, nếu có thể.

2.

a. Có bốn câu “vè” văn nghệ rất kỳ quái báo hiệu sự ra đời của tác phẩm lớn, mỗi dịp 30-4 tôi vẫn có ý chờ xem mà không/chưa thấy. Nội dung đơn giản thôi: 

 Lấy ngắn nuôi dài

Lấy ngoài nuôi trong

Lấy nhi đồng nuôi người lớn

 Lấy cà chớn lãnh đạo văn nghệ.

Tôi hiểu bốn câu trên một cách mộc mạc như sau: câu 1, lấy ngắn nuôi dài = trong khi chờ đợi tác phẩm dài, hoành tráng ra đời, chúng ta đành bằng lòng với các tác phẩm ngắn hạn, tạm thời chấp nhận số lượng hơn chất lượng; câu 2, lấy ngoài nuôi trong = lấy các tác phẩm hay của văn học nước ngoài mà dịch thuật, in ấn trong khi chờ các tác phẩm hay “cây nhà là vườn” xuất hiện; câu 3, lấy nhi đồng nuôi người lớn = câu này hơi trái tai, làm sao nhi đồng lại nuôi dưỡng người lớn? Chắc kiểu Harry Potter trước kia, kiểu siêu nhân S.P.D của Nhật hiện nay. Phim hoạt hình Việt Nam nặng về cổ tích, đạo lý, thiếu tính sáng tạo, hiện đại, nuôi mình chưa nổi nói gì nuôi người lớn; câu 4, lấy cà-chớn lãnh đạo văn nghệ = câu này “có vấn đề”, làm sao cà chớn lại lãnh đạo văn nghệ? Thật vậy sao? Có lẽ vì vậy chờ dài cổ ra chẳng thấy tác phẩm lớn?

Ở đây chúng ta có hai nhận xét trái chiều về cùng một sự kiện. a) Hình như có một sự trùng hợp cố ý, tác giả En attendant Godot muốn cho thấy dù có Thượng đế cũng chẳng thay đổi được tình hình (bạn có để ý trong tên Godot có chữ God?); b) Tuy nhiên, theo Nguyễn Hưng Quốc, nhà lý luận phê bình văn học nổi tiếng ở Úc, khó khăn trên không phải là đặc trưng riêng có của văn học trong nước, văn học hải ngoại cũng đối diện vấn đề tương tự. Vậy là, những điều kỳ quái, bất thường có thể cũng là lý thú, bình thường và dĩ nhiên, còn bỏ ngỏ cho các nhà lý luận.

b. Gần đây, trên TV chúng ta hay nghe nói tới lý luận “bốn nhà”: nhà nông, nhà nước, nhà khoa học, nhà quản lý (hay là tổng công trình sư gì đó, tôi nhớ không rõ).

Bốn nhà mà có kế hoạch phối hợp đồng bộ với nhau thì chắc cũng làm được nhiều việc ra trò – trước nhất cho nhà nông – nhưng khốn nỗi người biết thì không làm hoặc giả bộ như không biết. Cuối cùng người lãnh đủ vẫn là nông dân. Việc làm ích nước lợi dân quả thật có đem lại nhiều cái lợi cho người có chức có quyền có tri thức, sau chót mới tới nhà nông, vì nhà nông, trớ trêu thay, thiếu những điều kiện cần và đủ trên. Ấy, đất nước mình nó vậy.  

3.

a. Sống bên cạnh người láng giềng khổng lồ đôi khi gặp những chuyện tức cười, khó hiểu.

Trước nhất là chuyện lùm xùm trên biển, chẳng biết sự thực  hư ra sao. Rồi đến chuyện Vạn lý Trường thành trên biển, ít ra về cách đặt tên vì nghe có vẻ kỳ quái. Sao lại Vạn lý Trường thành trên biển, hình như muốn đối lại với  Điện Biên Phủ trên không. Cười pể pụng: một đằng tiêu biểu cho sự kìm kẹp, tù túng, bành trướng, một đằng cho sự đột phá, sáng tạo, anh hùng.

b. Vị thiền sư và vị tướng

Vị thiền sư mà tôi nói tới ở đây là Thích  Nhất Hạnh và vị tướng là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Cuộc hội ngộ cách đây hai năm thực cảm động và đầy ý nghĩa, trong nước và hải ngoại có những dư luận trái chiều (vấn đề gì cũng vậy, luôn luôn có ý kiến khác biệt mà người ta gọi là biểu hiện của sự phong phú, đa dạng). Gác sang một bên những lời đồn đại, chúng ta có thể rút ra điều gì có ý nghĩa? Sau đây là những ý nghĩ tản mạn.

Về phía nhà sư, thăm lại mái nhà xưa sau mấy chục năm xa cách, nhà sư + nhà thơ “phản chiến” (hình như Thích Nhất Hạnh và Trịnh Công Sơn là những thi sĩ và nhạc sĩ được coi là phản chiến điển hình tại Việt Nam), gặp gỡ các nhân vật lãnh đạo, mở trai đàn khắp ba miền Nam, Trung, Bắc; đổi tên nghĩa trang quân đội thành nghĩa trang dân sự v.v… Về phía vị tướng, từ Điện Biện Phủ thành Điện Biên Phủ trên không (tôi thích hình ảnh bại binh Pháp lũ lượt diễu hành; hình ảnh cuốn cờ Pháp, cờ Mỹ, nhất là hình ảnh tháo chạy trên nóc tòa Đại sứ, cảnh trực thăng rớt xuống biển v.v…). Từ “ra ngõ gặp anh hùng” đến “ra ngõ gặp doanh nhân”, từ một thời đạn bom đến một thời hòa bình quả là một chặng đường dài và cam go của dân tộc. Với vị thiền sư và vị tướng có thể là một trạm dừng chân, với dân tộc và lịch sử: chặng đường mới (hội nhập) cũng đầy gian khổ + vinh quang + bạn bè năm châu bốn biển… đang chờ phía trước.

4.

Trịnh Cung có viết một bài phê bình nhan đề “Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị”, đăng trên Tạp chí Da Màu, ngày 1.4. 2009. Ngay sau đó một loạt bài có ý kiến trái chiều thuộc nhiều khuynh hướng, nhiều diễn đàn thông tin xuất hiện. Tôi quan tâm theo dõi, vui buồn lẫn lộn. Cần sự công bằng và minh bạch. Với tư cách một nhà giáo đã nghỉ hưu + biết chút ít về Triết + quen Trịnh Công Sơn + có đọc Trịnh Cung + quan tâm tới việc viết lách của văn nghệ sĩ (trước 1975 tôi có viết cuốn Phạm Duy đã chết như thế nào? Đinh Cường vẽ bìa)…, tôi thấy có thể góp ý về chuyện này. Câu chuyện riêng tư nhưng liên hệ tới rất nhiều người nên cũng thành chuyện chung rồi, riêng trong chung, chung trong riêng, cư dân trên mạng biết rất rõ điều này.

Theo tôi, vấn đề có thể đặt ra như sau: Trong lý luận của Trịnh Cung chúng ta  thấy sự mạch lạc  nghiêm túc, có khi nào bạn thấy dấu vết của sự dễ dãi, tự mâu thuẫn? (mục đích, ý hướng gì? có sự lẫn lộn, mơ hồ, thậm chí lạc sang đề tài khác?)

Trịnh Cung viết: “Tất cả đều chỉ nói về hai mặt: tình yêu (con người, quê hương) và nghệ thuật ngôn từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn, tuyệt nhiên không thấy ai đề cập đến vấn đề Trịnh Công Sơn có hay không tham vọng chính trị (…) ý thức làm chính trị chống chế độ Sài Gòn của Trịnh Công Sơn”.

a. Ngay câu mở đầu và cách đặt vấn đề thực ra đã không rõ ràng: có hay không tham vọng chính trịý thức làm chính trị  chống chế độ Sài Gòn là hai câu ý nghĩa khác nhau, với loại câu hỏi này chúng ta có nhiều cách trả lời, cách nào cũng có lý (hoặc vô lý) như nhau. Chẳng hạn với câu trước, có thể có trả lời: a/có, b/không, c/vừa có vừa không. Với câu sau cũng vậy: a/ có, b/không, c/vừa có vừa không, d/tùy theo có can đảm (hay ngu xuẩn) để nói sự thật hay không, e/ngoài việc chống chế độ Sài Gòn còn chống nhiều thứ, f/ và thích nhiều thứ, g/và ghét nhiều thứ v.v… Bạn cứ ngồi nghĩ thử lại mà xem, rất nghiêm túc đồng thời rất dễ dãi, và cũng tức cười nữa.  

b) Trịnh Cung nói về những “sai lầm” của Trịnh Công Sơn:

* Đối với cộng sản:

Thiếu minh bạch trong suy nghĩ về chiến tranh Việt Nam và tính hai mặt trong quan hệ xã hội;

– Không ở trong một đường dây của tổ chức và chịu sự lãnh đạo của tổ chức đó;

– Không dám thoát ly đi theo MTGPMN.

Đó là cái nhìn u mê, ngớ ngẩn của Trịnh Công Sơn về cộng sản hay của chính Trịnh Cung về Trịnh Công Sơn và về cộng sản? Làm sao biết là “thiếu minh bạch”, “không ở trong một đường dây của tổ chức”, “không dám thoát ly” v.v… Mà MTGPMN tổ chức ra sao, đường lối thế nào, chắc Trịnh Cung biết?

* Đối với Việt Nam Cộng hoà:

Kêu gọi phản chiến nhưng chỉ nhằm vào phía VNCH;

– Thiên về phía người CSVN ngay cả sau khi bị họ giết hụt trong vụ Tết Mậu Thân ở Huế;

– Chống lại phía đã tạo cho mình điều kiện học hành và tự do sáng tác, kể cả tự do tư tưởng dù có bị chế độ Sài Gòn hạn chế và kiểm duyệt, nhưng không quyết liệt tiêu diệt như đã được thổi phồng (dùng giấy của Hoàng Đức Nhã cấp để đi đường do Phùng Thị Hạnh trung gian, nhiều sĩ quan VNCH che giấu,…) để có một nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tồn tại lừng lẫy như thế cho đến ngày 30-4-75. Dù ý thức chính trị ra sao, Trịnh Công Sơn vẫn là sản phẩm của chế độ VNCH, đúng như Đặng Tiến đã nhận định trong một bài viết ở đâu đó mà tôi không còn nhớ tên.

Làm sao nói là chỉ nhằm vào VNCH, sự thật vụ Mậu Thân ở Huế, Trịnh Công Sơn là sản phẩm của VNCH…? Bài của Trịnh Cung khá dài nhưng trở thành “có vấn đề” vì  nặng tính “ba hoa chích chòe” có lẽ là do đoạn này!

c) Trong những bài viết nghiêm túc, trong thảo luận/bàn tròn người ta thường phân biệt một cách mặc nhiên luận đề (phải rõ ràng), luận cứ (phải chặt chẽ) và luận chứng (cách lập luận phải hợp lý, không mâu thuẫn…).

Luận đề Trịnh Cung đưa ra không rõ ràng (có làm chính trị hay khônglàm chính trị chống chế độ Sài Gòn là hai vấn đề khác nhau, không thể lập lờ được).

Luận cứ đưa ra thiếu vững chắc, buồn cười (những cái gọi là “sai lầm” của Trịnh Công Sơn với CS, với VNCH nghe tức cười, ngớ ngẩn; ai cũng thấy mình có tội và vô tội chứ không riêng gì Trịnh Công Sơn, sự thực cần đặt ra nhưng một cách khác. Hình như Trịnh Cung có một quan niệm mù mờ về trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự, liên đới trách nhiệm…)

Luận chứng lủng củng, tự mâu thuẫn: nếu Hoàng Tá Thích, Bửu Chỉ có vấn đề vì đã lầm coi Trịnh Công Sơn phi chính trị thì Trịnh Cung có vấn đề hay không khi coi Trịnh Công Sơn chính trị 100% (Trịnh Cung nhắc nhiều lần con số này), có gì bảo đảm là Trịnh Công Sơn đạt 100% ý đồ chính trị của mình, không gặp những bầm dập, ê chề?  

Trịnh Cung có “nhu cầu khẳng định cá tính” rất mạnh, bài viết của anh chẳng cho thấy một tâm lý bạo dâm-khổ dâm đang hiện hình đó sao? Mong rằng tôi đã sai lầm.

                                                             *

Sau cùng một vấn đề khá quan trọng đối với giới cầm bút, nhất là những nhà lý luận văn học, là những chuẩn mực đánh giá. Muốn đánh giá sự việc, con người chúng ta cần có những chuẩn mực, những giá trị (càng khách quan càng tốt), được người khác công nhận để tránh tình trạng chủ quan, vừa đá banh vừa thổi còi. Về vấn đề chuẩn mực tôi có một kỷ niệm vui vui không bao giờ quên hồi học Đại học Văn khoa, đường Nguyễn Trung Trực, Sài Gòn. Thầy Larre dạy Triết Đông, một hôm ông giơ cao hai tay lên trời, dậm mạnh chân xuống đất, miệng nhắc đi nhắc lại: “Hông phàm! Hông phàm!”. Chúng tôi ngẩn người ra không biết ông muốn nói gì. Sau mới vỡ lẽ ông dùng tay chân ra dấu để nói về Hồng phạm  tức những lý lẽ cao siêu/các phạm trù lớn/ các chuẩn mực của trời đất.

Ngày nay chúng ta cũng nói về chuẩn mực, phạm trù… nhưng một cách khác. Vấn đề hơi chuyên môn nhưng rất lý thú. Hẹn gặp lại năm tới. Thân chào.

Tp HCM, 30/4/2009

© 2009 Nguyễn Trọng Văn

© 2009 talawas blog

Bình luận

8 Comments (bài “30 tháng Tư, ngày vui qua mau…”)

  1. Hoà Nguyễn viết:

    Nguyễn Trọng Văn “đánh” Trịnh Cung ở cách viết, lý luận, và ở “cá tính” của TC nhưng không phê phán nhiều nội dung bàì viết của TC. Có lẽ vì NTV không biết chắc những điều TC viết về Trịnh Công Sơn là đúng hay sai, nên bài NTV chỉ góp thêm vào rất nhiều bài trong nước bênh vực TCS bằng nêu cao tài năng tuyệt vời của “Trịnh”, đồng thời đả kích nặng “tư cách” của TC, ngay trong chuyện tình bạn (cho TC như Lý Thông ngày nay) hay ở đây TC bạo dâm, để nóí: Tư cách kém nên không thể viết đúng.

    Đọc NTV không khỏi nghĩ tới bài viết của Lữ Phương (talawas giới thiệu trong spectrum). Trước hết, LP nhắc cho mọi người nhớ TC từng là sĩ quan ngụy, bị cải tạo, sau đó LP cho một động cơ khiến TC viết bài là đáp ứng ước muốn của những bạn đồng ngũ cũ hiện ở nước ngoài khi ngày 30-4 tới gần. Động cơ này không chắc đúng, vì những người lính “cộng hòa” ngày xưa còn nghĩ tới TCS để làm gì, và theo tin báo chí, họ thích bàn tán chuyện khác, như vụ bauxite trong nước hơn.

    Không biết gì nhiều về TCS, tại sao hai ông LP và NTV bênh vực TCS, và đả kích TC về những chuyện ngoài nội dung bài viết? Có thể vì đây là “phong trào” cả nước thì hưởng ứng. Còn có thể vì TCS được nhiều người miền Nam trước đây và tới bây giờ ngưỡng mộ, hay đơn giản họ còn thích nghe một số bàn nhạc tình rất hay của ông, nên TCS được biến thành tiêu biểu cho hạng người “quốc gia” theo về “cách mạng”, làm hình tượng mời gọi, và nhịp cầu qua đó nhiều người “trở về”. Nếu TCS đổ sẽ làm đổ theo nhiều hình tượng khác không có sức mời gọi bằng.

  2. Tôn Thất Tuệ viết:

    Theo Ngô Nhân Dụng, báo Người Việt Cali, thi sĩ Bùi Minh Quốc hiện ở Đà Lạt đề nghị toàn dân yêu cầu đảng CS bàn lại bản chất của họ “chuyển từ đảng của giai cấp thành đảng của dân tộc. Đảng là tập hợp tinh hoa trí tuệ và đạo đức từ mọi giai cấp tầng lớp của dân tộc”.
    Bình luận gia nầy bác bỏ mô thức một đảng của dân tộc mà thi sĩ của chúng ta muốn cải thiện để lãnh đạo nhân dân một cách sàng suốt. NND đòi hỏi bỏ hẳn định chế độc đảng chứ không phải làm tốt cái đảng duy nhất ấy.
    Tôi đem chuyện nầy vào đây khi đọc: Lấy cà chớn lãnh đạo văn nghệ. Làm sao cà chớn lãnh đạo văn nghệ? Thật vậy sao? Có lẽ vì vậy chờ dài cổ ra chẳng thấy tác phẩm lớn.
    Với cách nhìn thô thiển, tôi thấy cách thức NTV suy nghĩ giống như lối của BMQuốc. Vì cà chớn lãnh đạo văn nghệ nên không có tác phẩm lớn tuy chờ dài cổ. Nói khác khi có lãnh đạo sáng suốt các tác phẩm lớn sẽ ra ào ào.
    Riêng tôi, tôi suy nghĩ như Ngô Nhân Dụng, không nên duy trì ảo tưởng một đảng của nhân dân lãnh đạo thâu tóm mọi tinh anh của toàn dân; đồng thời chấm dứt lãnh đạo văn nghệ dù lãnh đạo bời những người không cà chớn, những khuôn mặt lớn. Văn nghệ chỉ đạo và kềm kẹp đã nẩy sinh những quái thai, những vầng thơ dấu đi không kịp, những tác phẩm làm tha hóa con người với chính mình, với lịch sử, với dân tộc.
    Nghịch lý: đôi khi cà chớn lãnh đạo mà tốt, lãnh đạo không ráo riết, khi ta viết, ta lách. Viết lách mà.

  3. cacacan viết:

    Ngày xưa khi Hán Sở đánh nhau, có Ông Trương Lương về giúp Hán Lưu Bang. Ông này quỷ quyệt nhiều mưu kế nên giúp cho Lưu Bang giành thắng lợi lên ngôi vua. Trong đó phải kể đến kế tâm lý chiến mà sau này người ta thường nhắc đến là “Tiếng sáo Trương Lương”, làm lính Sở đang dũng mãnh thiện chiến, đồng lòng quyết chí tiêu diệt quân Hán bỗng nhiên chùng xuống. Kẻ nhớ quê nhà, người nhớ vợ con. Kẻ sĩ thì suy nghĩ, xót xa cho thân phận người, cho sự phù du của cái sống cái chết như hạt bụi… Quân lính Sở hoài nghi về ý nghĩa của cuộc chiến, chểnh mảng trong chiến đấu. Kẻ hèn nhát vớ được vỏ bọc này hè nhau đánh bài chuồn, người cầu an được thể bàn lùi, bọn cơ hội đua nhau đục khoét.

    Hậu bán thế kỷ 20 khi Quốc Cộng đánh nhau, có ông Trịnh Công Sơn (không biết ông có phải là hậu duệ của Trương Lương không? cũng như không biết ông về phe nào?) rất giỏi âm nhạc. Nhạc ông làm ru lòng người, người ta say mê ông, tôn thờ ông, đâu đâu người ta cũng hát nhạc của ông, đặc biệt là dòng nhạc phản chiến của ông. Chả biết sao mà hơn chục năm sau, trai tráng phe Quốc trốn quân dịch rần rần, lính đào ngũ bắt hoài không hết, dân tình chán nản. Cuối cùng bên Quốc bị thua te tua, phải đầu hàng bên Cộng. Hàng chục vạn người bỏ thây oan uổng trên chiến trường, trong trại cải tạo, trên biển Đông.

    Sau này mới biết tướng tá bên Quốc cũng vỗ đùi khen nhạc ông hay, còn tướng tá bên Cộng cũng vỗ đùi đắc chí “phen này ta có Trương Lương giúp thế nào cũng thắng”.

  4. Tôn Thất Tuệ viết:

    Toàn bài chỗ nào cũng trong sáng dễ hiểu trừ phần TCS. Tác giả cố ý làm cho nó rối bù hay vì đầu óc không quan niệm rõ ràng nên không thể điều khiển cây bút? Đoạn NTV cho là chích chòe là phần quan trọng nhất, thương ghét, đúng sai nằm ở đó, cãi nhau cũng đó. NTV không dám nói thẳng không đồng ý với TC. Người cầm bút nên nói đồng ý, không đồng ý, sẽ nghiên cứu sẽ trả lời nhưng không quanh co. Có gan cầm bút là tự đảm nhận vai trò soi sáng cho người đọc; đây là nhận trách nhiệm, không kiêu ngạo.

  5. Giac Van Pham viết:

    Ngày vui qua mau. Đúng vậy. Thử tính xem mau cỡ nào. Đối với ngụy quân ngụy quyền thì được hơn 1 tháng (15-6 thì đợt đầu tiên bị xúc rào rọ “học tập”). Ngụy dân miền Nam thì ngày vui chấm hết lúc đổi tiền, lập hộ khẩu, sổ lương thực và rục rịch đi “kinh tế mới”, độ chừng 1 năm. Còn đối với đảng và dân miền Bắc thì ngày vui thực sự chấm dứt là ngày 19-2-1979. Ngày mà đồng chí “người lùn gây máu lửa” đã giáng cho một bài học “môi hở răng lạnh”, chí tử! Và hệ lụy của nó còn đến ngày nay.
    Tác giả cũng đang ngậm bồ hòn mà nghe nó ngọt một cách “lùm xùm”.

  6. huytu viết:

    HOA HỒNG VÀ GAI GÓC

    Một nhà văn Tây phương đã viết: ” Lắm người phàn nàn hoa hồng có gai; riêng tôi cho rằng may mắn thay trong bụi gai có bông hoa hồng.”

    Nhà văn muốn nói:
    “Ối thôi ! Sao cứ mãi phàn nàn, bàn cãi, nào là gốc rễ dơ bẩn; thân, cành khô cằn, đầy gai góc , v.v… mà chẳng thèm nhìn những nụ hoa, búp hoa, bông hoa, v.v… HỒNG (roses) tươi sáng, đẹp đẽ,…thế hè!!!???”

  7. Binh viết:

    Đọc bài “30 tháng tư, ngày vui qua mau” của ông Nguyễn Trọng Văn, tôi cũng thấy… vui vì được nghe nhiều chuyện.

    – 30 tháng Tư “với một số người đó là Tháng Tư Đen, thất bại nhục nhã…, với một số người khác đó là ngày thống nhất đất nước, Nam Bắc sum họp một nhà…”. Điều này đã xảy ra và “kẻ chiến thắng” vẫn muốn nó như vậy. Cứ tới ngày 30 tháng Tư báo, đài trong nước luôn khẳng định điều đó. Nhưng con tôi, học lớp 7, hỏi tôi ngày 30/4 là ngày gì mà nó được nghỉ học!

    – Có một chi tiết rất hay: các vị có uy tín lớn trong “thành phần thứ ba” vào “làm việc” với “người của Mặt trận” xin đừng “biến Sài Gòn thành đống gạch vụn, nghĩa là đừng để thường dân phải khổ, phải hy sinh thêm nữa“. Theo tôi, đây là điều chứng minh sự “ngây thơ” của các trí thức “thành phần thứ ba” của miền Nam. Họ ngơ ngác đến độ tưởng các ông Nguyễn Anh Tuấn, Võ Đông Giang chỉ huy chiến dịch tiến chiếm Sài Gòn. Lời tuyên bố đầu hàng của tướng Dương Văn Minh đã làm cho cuộc chuyển giao quyền lực xảy ra nhẹ nhàng hơn, ít đổ máu hơn. Nhưng nếu không có lời van xin của thành phần thứ ba, không có lời đầu hàng có lẽ các binh đoàn bộ đội tiến vào Sài Gòn cũng chẳng cần bắn phá gì nữa vì hầu hết các lực lượng của VNCH đã di tản những ngày trước đó.

    – Chuyện xảy ra “lùm xùm trên biển” với người đàn anh vĩ đại Bắc phương mà ông Nguyễn Trọng Văn “chẳng biết thực hư ra sao”, chỉ biết “gặp những chuyện tức cười, khó hiểu”, thì kẻ đọc ông cũng thấy “khó hiểu đến tức cười”. Ông chỉ cần google một phát là hiểu ngay mà!

  8. Phan Nhiên Hạo viết:

    Ông Nguyễn Trọng Văn dùng một phần lớn bài viết này để “đánh” bài viết của Trịnh Cung rất nặng, nào là “luận đề đưa ra không rõ ràng”, “luận cứ đưa ra thiếu vững chắc, buồn cười”, thậm chí “cho thấy một tâm lý bạo dâm-khổ dâm”… Bài viết của Nguyễn Trọng Văn có mấy điểm không hay như sau:

    1/ thay vì đối thoại trực tiếp với Trịnh Cung thì làm ra vẻ nhân tiện để viết một cách sơ sài, tránh đối đầu, nhưng lại dùng những lời lẽ phê phán rất nặng nề.

    2/ thay vì phân tích những ý kiến của Trịnh Cung không hay không đúng chỗ nào thì chỉ đưa ra những câu hỏi kiểu chặn họng. Chắc tác giả sẽ nói đưa ra câu hỏi để gợi ý cho bạn đọc suy nghĩ, chưa có thời gian viết kỹ hơn, v.v. Nhưng một bài viết chỉ toàn câu hỏi là một bài viết làm biếng. Mặt khác, tuy là câu hỏi, nhưng là loại câu hỏi có tính phê phán Trịnh Cung rất nặng.

    Nói chung bài viết này rơi vào đúng những nhược điểm mà ông Nguyễn Trọng Văn phê bình người khác: lủng củng, buồn cười, (và thêm phần hơi tiểu nhân).

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>