Valencia, Van Dyke & Ludwig viết về vùng biển của các đảo
30/04/2009 | 3:18 chiều | 25 Comments
Category: Vấn đề Biển Đông
Thẻ: Mark Valencia
Phạm Quang Tuấn dịch
Lời người dịch
Trong cuộc tranh luận về Biển Đông và Hoàng Sa-Trường Sa trên talawas cũng như các nơi khác, một trong những vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất là: các đảo Hoàng Sa-Trường Sa có được cho vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa không? Trung Quốc, vì chắc ăn đã chiếm được Hoàng Sa và sẽ chiếm được Trường Sa, cho rằng câu trả lời là có vì điều đó rõ ràng có lợi cho họ. Ông Trương Nhân Tuấn nhất quyết bảo vệ quan điểm đó của TQ. Ngược lại, ông Dương Danh Huy của Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông cho là các đảo Hoàng Sa-Trường Sa không đủ lớn để có EEZ-thềm lục địa, hay ít ra là để có EEZ-thềm lục địa tối đa như đất liền (nghĩa là EEZ 200 hải lý và thềm lục địa tối đa 350 hải lý).
Ông Trương Nhân Tuấn hăng hái đến nỗi ông coi những người không đồng ý với ông (và với chính phủ TQ) về chuyện vùng biển của các đảo là vô ơn với các chiến sĩ và học giả đã hy sinh cho HS-TS: “… tôi phẫn nộ khi có người chủ trương các đảo của VN chỉ có hiệu lực 12 hải lý, đi ngược lại quyền lợi của VN và nội dung Luật Biển 1982 […] Nếu chủ trương các đảo chỉ có giá trị 12 hải lý thì rõ ràng chúng ta có lỗi rất lớn với những hy sinh vô biên của lớp người ấy. Chủ trương như thế cũng phủ nhận công lao các học giả đã mất cả đời nghiên cứu, chứng minh chủ quyền của VN tại các đảo ấy.“
Thực ra, vấn đề này cũng đã bàn nhiều trong giới học giả quốc tế và đa số tác giả đã có một sự đồng thuận (consensus) nào đó. Một tài liệu nói về vấn đề này là cuốn Sharing the Resources of the South China Sea (Chia Sẻ Tài Nguyên Biển Nam Trung Hoa) của Mark J. Valencia, Jon M. Van Dyke và Noel A. Ludwig (Martinus Nijhoff Publishing, The Hague, 1997). Mark Valencia tốt nghiệp thạc sĩ về Biển đại học Rhodes Island và tiến sĩ đại học Hawaii, làm việc tại East-West Center. Jon Van Dyke là giáo sư (professor) luật đại học Hawaii. Cả hai đều có mấy chục năm kinh nghiệm về luật biển và biển Đông, và đã viết hơn trăm bài vở và sách nghiên cứu. Trong những năm gần đây, Valencia đã tư vấn về luật biển cho nhiều tổ chức quốc tế, nhiều chính phủ (kể cả Việt Nam) và nhiều hãng luật và hãng dầu. Tiểu sử của ông có thể đọc được ở http://www.nautilus.org/admin/staff/Valencia.html.
Tuy cuốn sách biên khảo công phu, tham khảo nhiều tài liệu, nhưng suốt trong cuộc tranh luận về biển Đông cho tới nay tôi đã không trích dẫn sách này vì Trương Nhân Tuấn đã bịa rằng Mark Valencia là người Philippines và thiên vị cho nước này, do đó ông cho rằng lý luận của Valencia vô giá trị. Thậm chí ông còn sáng chế ra thành ngữ “mắc bùa Valencia”, “dọn sân cho Phi” để chụp mũ ông Dương Danh Huy. Nay thì sự gian dối của Trương Nhân Tuấn đã bị lật tẩy, (http://www.talawas.org/?p=3112), tuy Trương Nhân Tuấn hãy còn chối (http://www.talawas.org/?p=3252), nên tôi đã xin phép Mark Valencia dịch vài trang từ cuốn sách cho độc giả talawas, bắt đầu từ trang 41. Tôi không dịch hay đăng lại hết các chú thích và tài liệu tham khảo trong bài này (tổng cộng trong 7 trang sách có 30 tài liệu tham khảo và 6 chú thích, chỉ đăng lại ba cái).
Giới thiệu bài này, không có nghĩa là tôi hoàn toàn đồng ý hay cho rằng Valencia và Van Dyke là “thẩm quyền tối hậu” – chỉ có Tòa án Quốc tế mới có thể được phong cho chức ấy – nhưng chỉ để độc giả có cơ hội đọc một tài liệu viết theo tiêu chuẩn học thuật quốc tế: khách quan, thận trọng, lý luận nghiêm túc, có bằng chứng vững vàng, không đầy những bịa đặt và cảm tính như nhiều bài chúng ta đã đọc gần đây về chuyện này. Ít ra, tôi nghĩ rằng họ hiểu “nội dung Luật Biển 1982” hơn bất cứ ai khác ở đây.
Pham Quang Tuấn
____________________
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ SỰ PHÂN CHIA CÁC VÙNG BIỂN
Trích dịch từ Sharing the Resources of the South China Sea
Mark J. Valencia, Jon M. Van Dyke và Noel A. Ludwig
Tầm quan trọng của Luật Biển UNCLOS trong cuộc tranh chấp Trường Sa
TQ, VN, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Singapore đã phê chuẩn UNCLOS 1982. Thái, Lào và Cambodia đã ký nhưng chưa phê chuẩn ở thời điểm 1996. Đài Loan không có thẩm quyền để gia nhập. Những nước nào đang đợi phê chuẩn thì không được hành động trái với những mục đích căn bản của công ước. Rất nhiều nước đã tuyên bố rằng họ coi UNCLOS đã nói ra cho rõ những thông lệ của luật pháp quốc tế (customary international law) vốn đã áp dụng cho biển, và Tòa án Quốc tế cũng đã ra quyết định rằng ít nhất là một phần nào của UNCLOS đã trở thành thông lệ của luật pháp quốc tế [tức là những nước không phê chuẩn cũng vẫn phải tuân theo]. Vì vậy chúng ta nên xem xét những điều khoản trong UNCLOS khi phân tích các vấn đề [về tranh chấp Trường Sa]. Nhưng cũng cần nhớ là có những điều khoản của UNCLOS có thể không được chấp nhận bởi tất cả các nước, và tục lệ của một vùng có thể thay đổi những quy tắc được chấp nhận ở các nơi khác.
Những “đá hay đảo” (features) nào bị ngập lúc thủy triều cao thì không có vùng biển
Nguyên tắc truyền thống này của luật thông lệ quốc tế được xác nhận bởi Điều 121 của UNCLOS 1982. Đòi vùng biển [từ chung cho lãnh hải, vùng tiếp giáp, EEZ và thềm lục địa] dựa theo những đá ngầm bị ngập lúc nước dâng không có giá trị, dù là có người xây cất lên trên.
Có đảo Trường Sa nào có khả năng có EEZ hay thềm lục địa theo Điều 121 của UNCLOS không?
Để có thể giải quyết các vấn đề ranh giới biển, vấn đề chính cần phải xem xét trước là có hòn đảo nào của Trường Sa nào có khả năng có EEZ hay thềm lục địa không. Từ 25 tới 35 hòn trong 80-90 hòn khác nhau (distinct features) trong vùng Spratley cao hơn mặt biển lúc thủy triều cao, và do đó có thể gọi là “đảo” theo Điều 121 của UNCLOS 1982 và dường như được lãnh hải (territorial sea). Tuy nhiên Điều 121(3) nói rằng “những đá (rocks) không tự duy trì được sự cư trú hay đời sống kinh tế của con người thì không có EEZ hoặc thềm lục địa”.
Từ “đá” (rock) không được định nghĩa trong công ước, và đã được diễn giải nhiều cách. Một bài viết mới đây của một công ty luật Mỹ do Việt Nam mướn khẳng định rằng có một sự đồng thuận (consensus), và “hầu hết (overwhelming majority) những nhà bình luận cho rằng từ đó phải được hiểu là kể cả những đảo nhỏ” [1]. Bài này cũng khẳng định rằng có sự đồng ý rằng công thức “cư trú của con người” đòi hỏi là ít ra phải có khả năng cho một số thường dân (civilian population) cư trú lâu dài – quân nhân và người coi hải đăng không đủ điều kiện.
Như đã tả ở trên, cho tới gần đây các đảo Trường Sa không có người ở ngoại trừ đôi khi có dân đánh cá thăm viếng. Tuy có người đôi khi thăm viếng, nhưng chắc chắn những đảo ấy không có đời sống kinh tế độc lập riêng của nó. Ngôn ngữ trong Điều 121(3) dường như đòi hỏi rằng “đời sống kinh tế” của các đảo phải là “riêng của nó” (of their own). Một đời sống kinh tế nhân tạo, nương tựa vào dân ở xa, cốt để chiếm hữu một vùng biển mở rộng, thì không đủ.
Đảo lớn nhất, Itu Aba, có diện tích 0,43 km vuông. Đảo Spratly diện tích 0,15 km vuông và chỉ có năm đảo khác lớn hơn 0,1 km vuông – Thi Tu, West York, Northeast Cay, Southwast Cay và Sand Cay. Những đảo còn lại thực sự rất nhỏ. Cao nhất là đảo Namyit, cao 6,2 m. Chỉ có mười hòn đảo có cây mọc tự nhiên – Itu Aba, Loaita, Namyit, Namshan, Northeast Cay, Sand Cay, Southwast Cay, Thi Tu, West York và Sin Cove. Chỉ có vài đảo đã được dùng để khai thác phân chim – Spratly, Amboyna Cay và Southwest Cay. Itu Aba và Thi Tu đã được dùng làm căn cứ địa phương trong lịch sử bởi dân đánh cá Hải Nam và những nơi khác.
Trong một số bài trước, một trong những tác giả sách này đề nghị rằng chỉ những đảo có thể duy trì một dân số vững bền ít nhất 50 đầu người mới có thể cho phép phát sinh những vùng biển, và Trường Sa không hội đủ điều kiện này [2]. Nhiều tác giả khác cũng đi tới kết luận tương tự về sự không có khả năng duy trì dân cư và do đó không thể có EEZ và thềm lục địa. [Footnote f kể ra bảy nhóm tác giả.] Chính quyền Việt Nam dường như chấp nhận quan điểm là các đảo Trường Sa không thể có EEZ và thềm lục địa. Đại sứ Indonesia Hasjim Djalal – bây giờ là Chủ tịch Hội nghị của Cơ quan Quốc tế về Đáy Biển (International Sea-Bed Authority và là điều hợp viên của những hội thảo về tranh chấp Biển Đông do Indonesia đỡ đầu – cũng đã phát biểu quan điểm ấy. Mặc dù có những lý lẽ rất mạnh để không cho đảo nào ở Trường Sa được có vùng biển mở rộng [tức là EEZ và thềm lục địa], thỉnh thoảng cũng có những tác giả tiếp tục đề nghị rằng ít ra vài đảo có thể có vùng biển mở rộng [3]. Và Trung Quốc thường hành động như thể họ cho rằng những đảo Trường Sa có thể có vùng biển mở rộng.
Làm sao để giải quyết vấn đề này? Các nước đang tranh dành có thể thỏa thuận với nhau rằng không đảo nào có thể có vùng biển mở rộng chăng? Hoặc là, họ có thể thỏa thuận cho các đảo một “vùng khu vực” (regional zone) chung do một Cơ quan Quản lý Trường Sa cai quản?
Chúng tôi nghĩ rằng cách tiếp cận tốt nhất, dựa theo luật pháp quốc tế, logic và thực tế là không cho đảo Trường Sa nào một vùng biển mở rộng cả. Khái niệm vùng biển mở rộng được chấp nhận bởi UNCLOS 1982 vì thấy rằng cho những dân cư ven biển lãnh trách nhiệm quản lý và khai thác những tài nguyên cạnh đó là chuyện hợp lý. Tuy nhiên khi không có dân bản xứ thì logic đó không áp dụng, và không nên cho vùng biển mở rộng. Điều 121(3) dựa theo nhận thức này và phải hiểu theo cách đó.
Nhưng nếu các nước không thỏa thuận được theo cách này, có thể có một giải pháp thứ hai là cho các đảo có một “vùng khu vực” quản lý chung. Giải pháp này công nhận rằng Trường Sa đã được thăm và, ở một mực tối thiểu nào đó, được dùng bởi dân trong vùng từ nhiều thế kỷ, và phải tiếp tục được coi là tài nguyên chung. Giải pháp này đã có tiền lệ trong vụ xử Gulf of Fonseca ở Tòa án Quốc tế (International Court of Justice), khi mà Honduras, Nicaragua và El Salvador được công nhận là có đồng chủ quyền (“condominium” ownership) lên vùng biển và tài nguyên vịnh Fonseca, được gọi là vùng biển lịch sử sở hữu chung. Trong một đoạn sau, chúng tôi sẽ phân tích vụ Vịnh Fonseca và vài ví dụ về cách quản lý chung một vùng như vậy.
Có đảo nào ở Trường Sa phải được coi là “đảo nhân tạo”, và nếu có thì tình trạng pháp lý của chúng ra sao?
Điều 60(8) của UNCLOS nói rõ rằng những đảo nhân tạo thì không có khả năng có EEZ hay thềm lục địa. Có vẻ cần coi vài cái kiến trúc hiện thời là “đảo nhân tạo”. Căn cứ ở Subi Reef và Johnson South Reef bởi TQ có vẻ rõ ràng cần được gọi như vậy, căn cứ của Malaysia ở Dallas Reef và căn cứ của Việt Nam ở Vanguard và Prince of Wales Banks cũng vậy.
Điều 60(8) được viết để ngăn cản các nước đừng xây cao lên trên những đá ngầm và đá chỉ hiện khi nước xuống, với mục đích phát sinh những vùng biển mở rộng mà trước đó không có. Nếu không hiểu theo cách rõ ràng đó thì chúng ta sẽ thấy trước là các nước sẽ tiếp tục xây cao lên những hòn đá ngầm để đòi biển.
Có nước nào được quyền đòi vùng biển [Trường Sa] làm vùng biển quần đảo?
[Tóm tắt: trong các nước đòi Trường Sa, chỉ Philippines là có quyền đòi vùng nước Trường Sa là vùng biển quần đảo (archipelagic waters), vì Phi đã sẵn là một quần đảo (UNCLOS Điều 47/1 và 46a). Muốn làm vậy thì Phi phải vẽ đường căn bản bao gồm Trường Sa. Tuy nhiên, vì theo tin tức mới nhất năm 2009, Phi đã quyết định không làm việc đó, nên miễn dịch đoạn này.]
Những đảo Trường Sa cao hơn thủy triều cao thì có được lãnh hải 12 hải lý không?
Điều 3 UNCLOS 1982 cho phép mỗi nước thiết lập lãnh hải rộng tối đa 12 hải lý, và Điều 121 cho các đảo trên thủy triều cao cũng được một vùng như vậy. Việt Nam đã tuyên bố lãnh hải 12 hải lý quanh [các đảo] Trường Sa vào năm 1977, và TQ cũng tuyên bố như vậy trong Luật Lãnh hải 1999 của họ. Một tác giả cho biết Malaysia đã tuyên bố lãnh hải 12 hải lý quanh Swallow Reef và Amboyna Cay nhưng không tuyên bố cho những đảo khác mà họ đòi.
Tuy UNCLOS cho phép các nước công bố lãnh hải 12 hải lý ven bờ và quanh các đảo, điều đó không có nghĩa là chiều rộng đó thích hợp ở mọi chỗ và cho mọi mục đích. Điều 300, “Thiện chí và lạm quyền”, nhắc nhở rằng các nước không được viện dẫn quyền lợi theo Công ước một cách làm thiệt hại đáng kể cho nước khác. Chẳng hạn, có những trường hợp khi một hòn đảo ở bên kia một đường ranh giới biển thì các nước liên hệ đã chấp nhận một lãnh hải ít hơn 12 hải lý cho đảo đó. Hiran W. Jayewardene (1990) dẫn chứng các trường hợp đảo Isla Patos thuộc Venezuela, nằm giữa nước này và Trinidad & Tobago, đảo Dayyinah của Abu Dhabi nằm giữa nước này và Qatar, và những đảo của Úc trong eo biển Torres giữa Úc và New Guinea, tất cả những đảo này đều chỉ có lãnh hải 3 hải lý. Đây là những tiền lệ hợp lý cho Biển Đông, vì những đảo như Trường Sa đều nhỏ và ít dân cư. Những đảo trong Biển Aegean chỉ có lãnh hải 6 hải lý. Đại sứ Indonesia Hasjim Djalal nhận xét vào tháng 7/1995 rằng ông không cảm thấy những đảo Trường Sa có quyền có lãnh hải gì hết, mà chỉ phải được bảo vệ bởi một “khu an toàn”. Chắc chắn những nước đang tranh chấp có thể thỏa thuận rằng những đảo cao hơn thủy triều cao chỉ được lãnh hải ít hơn 12 hải lý, và thỏa thuận như vậy sẽ phù hợp với quan điểm rằng tài nguyên của khu vực này phải được chia sẻ giữa các dân tộc trong vùng, hay có thể là cộng đồng quốc tế nói chung.
GHI CHÚ VÀ THAM KHẢO
[1] Brice M. Clagett, Competing Claims of Vietnam and China in the Vanguard Bank and Blue Dragon Areas of the South China Sea, 1954, Oil & Gas L. & Taxation Rev. 375 and 419, at 386.
[2] Jon M. Van Dyke & Dale L. Bennett, Islands and the Delimitation of Ocean Space in the South China Sea, in Ocean Yearbook 10, 75-80, 89 (1993).
[3] Vd. Daniel J. Dzurek, South East Asian Offshore Oil Disputes, in Ocean Yearbook 11 at 171 (1994); Victor Prescott, Maritime Hurisdiction in South East Asia: Commentary and Map (Honolulu: East West Center, 1981); Victor Prescott, Sharpening the Geographical and Legal Focus on the Potential Regional Conflict in the Spratly Islands 5 (paper presented at the Workshop on the Spratly Islands), Institute of South East Asian Studies (ISEAS) (1993); Haller-Trost (1994), International Law and the History of the Claims to the Spratly Islands 10 (South China Sea Conference, American Enterprise Institute, Sept. 7-9, 1994). Jorge R. Coquia, Maritime Boundary Problems in the South China Sea, 24 U.B.C. L. Rev. at 120, dường như cũng cho rằng “nước nào sở hữu Trường Sa thì sẽ có quyền tuyên bố quyền lực pháp lý (jurisdiction) và chủ quyền (sovereignty) lên một vùng biển rộng”, tuy rằng ông cũng công nhận rằng những đảo này không thể duy trì được sự cư trú của con người.
(Tiếp).
Valencia viết: “cho tới gần đây các đảo Trường Sa không có người ở ngoại trừ đôi khi có dân đánh cá thăm viếng”, và “Một đời sống kinh tế nhân tạo, nương tựa vào dân ở xa, cốt để chiếm hữu một vùng biển mở rộng, thì không đủ”.
Sách của Valencia in năm 1997, có nhiều tài liệu và nhận định đã cũ, không còn sát với thực tế nữa. Về yêu sách đảo phải có thường dân (không chỉ binh sĩ) ít nhất là 50 đầu người, thì điều kiện dân số này bị vượt qua ở nhiều đảo. Ngoài ra, còn có dữ kiện sai trầm trọng, do thiếu thông tin xác thực thời đó. Thí dụ, diện tích đảo Thitu của Phi được Valencia xếp sau đảo Itu Aba của Đài Loan (0,46 km2),sau cả đảo Spratly của VN (0,15 km2), và cho chỉ trên 0,1 km2. Nhưng thật sự Thitu lớn thứ nhì ở Trường Sa rộng 0.372 km2, hơn gấp 3 lần con số Valencia đưa ra. Về dân số, năm 2001 Phi đưa ra đảo Thitu, với tên mới là Pagasa , 300 thường dân để lập thành thị xã được chừng 50 lính bảo vệ . Đảo có toà nhà thị xã, trung tâm y tế, trường học, khu chợ , nhà máy lọc nước, bến tàu nhỏ, tháp truyền tin , trại lính. Dân trên đảo nuôi heo, dê, gà, trồng hoa màu để thêm vào thực phẩm được tàu chở đến chỉ một lần trong tháng. Họ có máy phát điện và điện mặt trời. Như vậy là có được đời sống kinh tế theo điều kiện UNCLOS đặt ra.
Thông tin trên lấy từ trang mạng : http://en.wikipedia.org/wiki/Thitu_Island
Và bản chụp bài báo ghi lại chuyến thăm đảo Pasaga (Thitu) với nhiều hình chụp cảnh vật, đời sống:
http://www.trends.com.ph/images/smart_philstar.jpg
Không nghĩ rằng Ông Valencia làm cố vấn cho Việt Nam dưới cương vị là chuyên gia pháp lý. Theo như tiểu sử cho biết thì ông có bằng cao học về Marine Affairs và tiến sĩ về Oceanography. Không thấy nói ông học về luật hay từng được huấn luyện về luật ở đâu.
Theo như điều luật 121 thì đảo được định nghĩa là một vùng đất tạo tự nhiên, bao bọc bởi nước, cao hơn mặt nước khi thuỷ triều lên. Nhưng ở đoạn 3 của điều luật đó lại ghi rõ là “Đá (rocks)… thì không được hưởng quy chế EEZ hoặc CS”. Chữ “Đá” được sử dụng chứ không phải chữ “Đảo” cho nên không biết hai chữ có cùng một nghĩa hay không.
Vì nếu hai chữ này có hai nghĩa khác nhau và không thể thay đổi lẫn nhau và căn cứ theo định nghĩa ở điều luật 121 thì một số đảo HS/TS được quyền có EEZ hay CS hoặc cả hai dù rằng những đảo này không đủ điều kiện có sinh hoạt kinh tế hoặc cư trú vì đoạn 3 của điều luật nói đến “Đá” chứ không đến “Đảo”.
Nếu hai chữ “Đảo” và “Đá” này cùng nghĩa và có thể thay đổi lẫn nhau thì một vấn đề khác cần phải nói tới đó là sự duy trì cư trú và đời sống kinh tế tự thân. Thế nào là duy trì cứ trú và sao thì mới hội đủ đời sống kinh tế tự thân. Đã có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề đó nhưng tựu chung vẫn chưa có một câu trả lời nhất định.
Bác Hòa viết: “Valencia dù là luật gia nổi tiếng hay không, nhưng khi làm việc cho thân chủ ông bênh vực quyền lợi thân chủ. Ở đây tôi còn nêu giả thuyết ông ấy chỉ có cảm tình với VN.”
Valencia làm tư vấn (consultant) pháp lý cho VN, chứ không làm luật sư trước tòa để bênh vực VN. Người tư vấn phải cho ý kiến hoàn toàn khách quan, nếu không thì sẽ làm hại cho khách hàng của mình (chẳng hạn xúi họ ra tòa để rồi thua kiện!) Do đó, giả thuyết của bác sai. Khi tranh luận, phải dựa vào sự thực chứ tại sao cứ đem mấy giả thuyết kỳ quặc không chứng minh vào?
Bác Hòa: “Ngoài ra, như tôi đã góp ý, đa số “thông lệ” của toá án quốc tế nêu ở đây không liên quan tới UNCLOS, tính từ ngày có hiệu lực ban hành UNCLOS và được một nước tranh chấp chấp nhận. Toà chỉ xử theo luật cũ trước UNCLOS, hoạ hoằn nếu xử sau UNCLOS không trường hợp nào giống ở Biển Đông.”
Bác không rành về luật như Valencia, Van Dyke và Ludwig đâu. Khi chưa có “luật” thì tòa xử theo “lệ”, và những (tiền) lệ ấy trở thành luật, rồi sau này sẽ làm căn bản để viết thành luật. UNCLOS phần lớn là cũng dựa theo những thông lệ có sẵn.
Trả lời ông Phạm Quang Tuấn.
“Ông ta (Valencia) ‘còn’ làm việc cho Brunei, Malaysia, Singapore và Đài Loan nữa đó! ” là hiểu được Valencia làm việc cho VN, nhưng không làm việc cho TQ ! Đó là chuyện nhỏ, Valencia dù là luật gia nổi tiếng hay không, nhưng khi làm việc cho thân chủ ông bênh vực quyền lợi thân chủ. Ở đây tôi còn nêu giả thuyết ông ấy chỉ có cảm tình với VN.
Phân biệt “đảo” với “đá” như Valencia chỉ là một cách giải thích, như tôi trình bày trong nhiều góp ý, và sẽ trở lại khi chuyện này hết nhàm chán. Mỗi luật sư trước tòa có quyền nêu quan điểm riêng vể một điều luật, nhưng quyết định sau cùng, về hiểu đúng luật, lả ở thẩm phán.
Khi một đảo hoang trở thành một đảo có người sinh sống không phải lả lập đảo “nhân tạo”. Mã chở đất đá từ đất liền ra vun bồi cho một hòn đá để xây khách sạn và biến thành nơi nghỉ mát (resort), “có thể” là việc làm nhân tạo.
Phân biệt vấn đề Hoàng Sa khác với Trường Sa là của các luật sư bên ngoài (họ không “cãi”
cho HS), còn với VN không thể tách rới, vì phần lý luận sẽ tự mâu thuẫn. TQ hiện chia đôi khoảng cách giữa Tri Tôn và Ly Sơn (có tài liệu nói 120 HL), và dường như VN chịu nhận, là chủ trương của TQ: một đảo ở HS có EEZ hơn 12 HL .
Ngoài ra, như tôi đã góp ý, đa số “thông lệ” của toá án quốc tế nêu ở đây không liên quan tới UNCLOS, tính từ ngày có hiệu lực ban hành UNCLOS và được một nước tranh chấp chấp nhận. Toà chỉ xử theo luật cũ trước UNCLOS, hoạ hoằn nếu xử sau UNCLOS không trường hợp nào giống ở Biển Đông.
Cảm ơn bác Hoà góp ý.
Trong tình hình TQ chiếm trọn HS,và một số đảo TS nằm ở phía cực tây, gần với bờ biển VN nhất,thì ước muốn không có HS&TS, hay mỗi đảo ở nơi đó chỉ có lãnh hải 12 HL (không có EEZ) thấy ở VN (tuy không chính thức, nhưng qua một số diễn đàn), hay ở các luât gia có cảm tình hoặc làm việc cho VN, như Valencia. Nếu không có HS, EEZ của VN sẽ cắt ngang HS, và thềm lục địa mở rộng sẽ ra xa thêm 150 HL, sẽ không có “lưỡi bò” TQ. Nếu lãnh hải mỗi đảo ở HS&TS chỉ 12 HL, EEZ của VN tính từ đảo Lý Sơn tới gần đảo Tri Tôn sẽ hơn 130 HL, chứ không phải chỉ 40 HL như hiện nay. sẽ không có tranh chấp vùng Tư Chính-Vũng Mây.
Nội những phân tích trên của bác cũng đủ nói là chủ trương “12 HL” (hay 24, 36, hay trong 5-6 giải pháp tôi đã nói tới) có lợi cho VN.
Ngược lại, chủ trương “200 HL hay 100% hiệu lực” có lợi cho Trung Quốc, có hại cho Việt Nam.
Nhiều tác giả, không chỉ Valencia, ủng hộ quan điểm “12 HL”: Van Dyke, Gjetnes. Sách Valencia dẫn 1 loạt các tác giả khác (Cornder, Valero, Bennett, Greenfield, Legal Adviser cho BNG Phi).
Đúng là TQ sẽ chống lại quan điểm HSTS không được 100 hiệu lực, nhưng điều đó vẫn có nghĩa chúng ta nên đấu tranh cho quan điểm đó.
Trong khi quan điểm đó có lợi cho VN, được các nước trong tranh chấp ủng hộ, được các chuyên gia quốc tế ủng hộ, mà chúng ta lại đòi vứt nó đi, đả kích nó?
Trước thì lời của Valencia không có giá trị vì ông ta là người Phi, thiên vị Phi (TN Tuấn), giờ thì Valencia không có giá trị vì ông ta thân Việt Nam, đã làm việc cho VN (N Hòa)! Bác Hòa đã đọc cái tiểu sử của Mark Valencia mà tôi cho limk chưa? Ông ta còn làm việc cho Brunei, Malaysia, Singapore và Đài Loan nữa đó!
Gọi cách giải thích của Valencia là “cách giải thích riêng” là sai. Xin bác đọc lại cho kỹ. Họ là luật gia và nghiên cứu gia chính tông, cách giải thích của họ có tài liệu tham khảo rộng rãi (tuy tôi không dịch hết), căn cứ vào thông lệ pháp lý quốc tế, các phiên tòa quốc tế đã phân xử, và ý kiến của các luật gia và các học giả.
Mấy câu hỏi của bác Hòa thì trong bài của Valencia tôi dịch đã nói cả rồi mà tại bác chưa đọc kỹ đó thôi. Bác viết “Ông Valencia có cách giải thích riêng về “đảo” và “đá”, để mỗi đảo Ở BIỂN ĐÔNG không có được 200 HL” là sai. Trong bài này nhóm Valencia chỉ nói về TRƯỜNG SA mà thôi. Ngay cả Hoàng Sa họ cũng không nói tới, vì cũng như hầu hết các học giả quốc tế khác, họ cho rằng việc HS thuộc về TQ là một chuyện đã rồi. Côn Sơn, Phú Quý khác hẳn TS. Còn bác Hòa nói “Có cái quyền biến một đảo hoang thành đảo có người sinh sống” là sai: bác hãy đọc lại đoạn về đảo nhân tạo.
Góp ý ông Huy. Trong tình hình TQ chiếm trọn HS,và một số đảo TS nằm ở phía cực tây, gần với bờ biển VN nhất,thì ước muốn không có HS&TS, hay mỗi đảo ở nơi đó chỉ có lãnh hải 12 HL (không có EEZ) thấy ở VN (tuy không chính thức, nhưng qua một số diễn đàn), hay ở các luât gia có cảm tình hoặc làm việc cho VN, như Valencia. Nếu không có HS, EEZ của VN sẽ cắt ngang HS, và thềm lục địa mở rộng sẽ ra xa thêm 150 HL, sẽ không có “lưỡi bò” TQ. Nếu lãnh hải mỗi đảo ở HS&TS chỉ 12 HL, EEZ của VN tính từ đảo Lý Sơn tới gần đảo Tri Tôn sẽ hơn 130 HL, chứ không phải chỉ 40 HL như hiện nay. sẽ không có tranh chấp vùng Tư Chính-Vũng Mây. Nhưng thực tế không cho phép xóa các đảo đó trên bản đồ, hay xóa sự có mặt của lính TQ trên đảo. Và dù VN, Mã, Phi muốn mỗi đảo chỉ có lãnh hải 12 HL, nhưng TQ đã nhất định không chịu, nên tình hình chung vẫn vậy.
Ông Valencia có cách giải thích riêng về “đảO” và “đá”, để mỗi đảo ở Biển Đông không có được 200 HL. Nhưng nhìn trên bản dồ, từ hai đảo Côn Sơn và Phú Quý, VN đã lầy ra 200 HL EEZ. Cho là Phú Quý có người ở, sinh hoạt kinh tế từ lâu, thì TQ, Phi…đang làm vài đảo họ chiếm có hính thức giống như vậy, nếu chưa được bây giờ thì sẽ trong tương lai. Phi hiện có 300 dân trên đảo Thitu, rất gần VN. TQ biến Phú Lâm (ở HS) thành nơi có dân ở và có sinh hoạt kinh tế. Thực ra, hiện nay ở TS đã trồng hàng trăm lọai thảo mộc mới, nuôi gia súc, còn là nơi tiếp nhận tàu đánh cá, đánh bắt hải sản…Có cái quyền biến một đảo hoang thành đảo có người sinh sống.
Cám ơn ông Phạm Quang Tuấn đã ghi chú đầy đủ về ông Vũ Hữu San. Tôi trích dẫn ông Vũ Hữu San cũng vì những lẽ đó, với lòng kính trọng.
Ông Vũ Hữu San là hạm trưởng Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư đã tham dự hải chiến Hoàng Sa, và một nhà nghiên cứu nghiêm túc, viết rất nhiều về Biển Đông. Những tác phẩm của ông cho thấy một tấm lòng luôn luôn nghĩ tới tương lai Việt Nam và một đầu óc luôn luôn tìm hiểu và tôn trọng sự thật. Lòng yêu nước và tư cách học thuật của ông không ai chối cãi được. Nếu có một người đủ tư cách để lên tiếng cho các chiến sĩ Việt Nam đã hy sinh tại HS và TS thì đó chính là học giả Vũ Hữu San.
“Cứ như trường-hợp Việt-Nam trong hiện-tình quân-sự, ngoại-giao hiện-tại, việc chia cắt lãnh-hải theo quan niệm “Biển Đông không có đảo” có lẽ đem lại một vùng đặc-quyền kinh-tế EEZ lớn nhất mà nước ta có thể được hưởng .”
Trích Vũ Hữu San, Địa lý Biển Đông.
Tôi tin là trước sau gì thì VN và các nước ĐNA cũng đi tới kết luận tương tự (các đảo HSTS không được hay chỉ được ít EEZ).
V/d là càng sớm càng tốt để tạo thêm cản trở cho việc TQ phá đám, chiếm đoạt trong vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính, Vũng Mây và các vùng tương tự.
V/d là VN không nên vì tham vọng cái lưỡi bò liếm ngang mà cản trở điều này, không nên vì sợ TQ quá để không dám tích cực thực hiện nó, không nên vì thụ động mà không tích cực thực hiện nó.
Nếu ông Trương Nhân Tuấn đã đọc nhiều học giả nước ngoài phân tích về v/d này, và biết là không phải là Mark Valencia người Phi phát minh ra quan điểm đó để thiên vị cho Phi, thì có thể ông ấy đã có phản ứng khác.
Ông Vũ Hữu San viết như vầy, tôi có cảm tưởng chỉ 2 khả năng có thể diễn ra:
– Hoặc ông Vũ Hữu San đang “dọn sân cho nhà nước” theo lập luận của “ai đó”.
– Hoặc cách lập luận của “ai đó” bị trục trặc.
“Trên bàn thương-thảo quốc-tế, khi đi tìm một chiến-thuật tranh-cãi cho việc thụ-hưởng một vùng biển kinh-tế rộng lớn nào đó, người ta cần nghiên-cứu rõ từng trường-hợp. Căn-cứ vào những họa-đồ, sự hơn thiệt về hải-phận có thể thấy rõ. Cứ như trường-hợp Việt-Nam trong hiện-tình quân-sự, ngoại-giao hiện-tại, việc chia cắt lãnh-hải theo quan niệm “Biển Đông không có đảo” có lẽ đem lại một vùng đặc-quyền kinh-tế EEZ lớn nhất mà nước ta có thể được hưởng .”
Trích Vũ Hữu San, Địa lý Biển Đông.
Tôi nghĩ có thể tóm tắt như sau:
1. Nếu tôi là người Phi, Mã, Bru, Indo, tôi sẽ ủng hộ quan điểm là HSTS không được EEZ, TLĐ, hay chỉ được cỡ 24, 36, HL, hay như trong 5-6 giải pháp tôi đã post lên Talawas.
2. Nếu tôi là người TQ thì tôi sẽ ủng hộ quan điểm HSTS được 100% hiệu lực trong việc tính EEZ như ông Trương Nhân Tuấn cổ động.
3. Dân tộc VN phải lựa chọn giữa 1 và 2 và phải nêu ra sự lựa chọn của mình với CP VN. Về lâu về dài thì lựa chọn đó có ảnh hưởng lớn tới vận mệnh của VN tại Biển Đông.
Về hiệu lực của các đảo HSTS trong việc tính EEZ & TLD:
Tôi và ông Trương Nhân Tuấn đã lựa chọn trong việc này:
_Ông Trương Nhân Tuấn chọn điều cũng là quan điểm của TQ;
_Tôi chọn điều trái ngược với quan điểm của TQ.
Về chủ quyền đối với đảo:
_Ông Tuấn lựa chọn quan điểm là thế giới, BP, Exxon, tất cả/hầu hết các atlas công nhận là HSTS là của TQ. Lựa chọn đó cũng là quan điểm của TQ;
_Tôi lựa chọn quan điểm đối ngược với TQ: thế giới không, BP không, Exxon không, phần lớn các atlas không công nhận là HSTS là của TQ.
Trong kết luận của luận văn thạc sĩ công pháp quốc tế ĐH Oslo của Marius Gjetnes:
In all cases of maritime delimitation the overall goal is to reach an equitable conclusion.The
delimitation of the maritime zones in the SCS would no doubt be much more practical if none of
the Spratly Islands were granted more than a territorial sea and a contiguous zone. Not only
practical in regard to the delimitation of maritime zones between the islands themselves, but also
because there will be no need to negotiate boundaries between the Spratly group and the
bordering continental territories. Considerations of equity also supports this solution since if one
or a couple of islands should have the right of an EEZ and a continental shelf it would give an
unreasonable gain for the state holding sovereignty to those particular islands.
Since it seems that none of the Spratly features at present have proven to be able to sustain human
habitation or economic life of their own, the features should be classified as rocks in the meaning
of article 121.3 of the LOS Convention. Further, since the principles that govern delimitation of
maritime zones do not allow vast areas of ocean space to tiny, uninhabited and otherwise useless
features, the Spratlys are unlikely to be a significant factor in the overall delimitation of the SCS.
Nếu tôi muốn dùng lý lẽ kiểu “phẫn nộ” của ông TN Tuấn thì tôi cũng có thể phẫn nộ là có người muốn các người lính Việt Nam đổ mồ hôi, nước mắt, máu, vượt qua sự chống đối của TQ, Phi, Mã, Bru để thực hiện cho được cái lưỡi bò liếm ngang.
Ông Trương Nhân Tuấn hăng hái đến nỗi ông coi những người không đồng ý với ông (và với chính phủ TQ) về chuyện vùng biển của các đảo là vô ơn với các chiến sĩ và học giả đã hy sinh cho HS-TS: “… tôi phẫn nộ khi có người chủ trương các đảo của VN chỉ có hiệu lực 12 hải lý, đi ngược lại quyền lợi của VN và nội dung Luật Biển 1982 […] Nếu chủ trương các đảo chỉ có giá trị 12 hải lý thì rõ ràng chúng ta có lỗi rất lớn với những hy sinh vô biên của lớp người ấy. Chủ trương như thế cũng phủ nhận công lao các học giả đã mất cả đời nghiên cứu, chứng minh chủ quyền của VN tại các đảo ấy.“