Về công hàm Phạm Văn Đồng và các Atlas
30/04/2009 | 3:10 sáng | 21 Comments
Category: Vấn đề Biển Đông
Thẻ: Công hàm của TT Phạm Văn Đồng
Cuộc tranh luận vài tuần qua trên talawas về Biển Đông đã đem lại hào hứng cho nhiều người. Nhiều ý kiến đã đóng góp. Nhiều câu hỏi đã đặt ra. Tuy nhiên phần trả lời xem ra vẫn khiếm khuyết, vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của các câu hỏi. Thêm vào đó, nhiều chủ đề đang tranh luận vẫn chưa ngã ngũ. Tôi dự định trong tuần này sẽ viết các bài: 1/ Tranh chấp giữa Anh quốc và Argentine về chủ quyền quần đảo Malouines và so sánh vấn đề này với tranh chấp Việt – Trung về các quần đảo HSTS. 2/ So sánh các lý lẽ pháp lý và lịch sử giữa VN và TQ về chủ quyền các đảo. Bài thứ nhất tôi dự định viết vì nhận thấy có quá nhiều khác biệt về nhận thức giữa tôi và quí ông Phạm Quang Tuấn và Dương Danh Huy về các lý lẽ của Anh và Argentine về chủ quyền quần đảo Malouines mà các góp ý qua lại không thể trình bày đầy đủ và mạch lạc. Bài thứ hai nhằm trả lời câu hỏi rất quan trọng của một độc giả, nhưng chắc chắn đó cũng là câu hỏi của rất nhiều người.
Tuy nhiên, dự định có thể sẽ bị trễ vài hôm, vì ông Nghiêm Quang đã có bài viết trên talawas, nội dung chứng minh một điều tôi đã viết là không đúng với sự thật, đồng thời phê phán một số ý kiến của tôi trong bài “Chủ quyền VN tại bãi Tu Chính – Vũng Mây và vùng trũng Nam Côn Sơn”.
1. Tôi có viết trong bài đó như sau: «trên hầu hết các Atlas nước ngoài đều ghi nhận công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng đã công nhận HS và TS thuộc chủ quyền của Tàu. Điển hình, cuốn Atlas Des Atlas tháng 9 năm 2008 của Courrier International, một cơ sở truyền thông uy tín hàng đầu thế giới, đã ghi ở trang 91 như thế.» Ông Nghiêm Quang đã đưa ra một số các Atlas và kết luận «Như vậy có thể tạm kết luận rằng [khẳng định của Trương Nhân Tuấn về] ‘Hầu hết các atlas nước ngoài đều ghi nhận công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng‘ là một HUYỀN THOẠI.»
Có rất nhiều loại atlas, không phải cái nào cũng như nhau. Thí dụ, cuốn atlas của Le Monde Diplomatique mà ông Nghiêm Quang có dẫn là một tập tài liệu rất có giá trị, nhưng nó không nói về «conflit territorial – tranh chấp lãnh thổ» mà chỉ tập trung về các vấn đề lớn của thế giới như địa cầu đang bị đe dọa về việc hâm nóng, ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên nhiên liệu; về toàn cầu hóa, kẻ thắng, người bại; về các tranh chấp, dân chủ, Hồi giáo, các vấn đề của nước Nga, vấn đề diệt chủng tại Darfour…; cuối cùng là về sự phát triển của Châu Á. Thí dụ khác, cuốn Le dessous des cartes: Atlas Géopolitique của Jean-Christophe Victor cũng là một tập tài liệu hay, nhưng nó rất đơn giản, vỡ lòng, đặc biệt nó chú trọng về năng lượng cũng như các tranh chấp xung quanh vấn đề này. Tuy nhiên, các cuốn atlas mà ông Nghiêm Quang có dẫn ra, phần lớn có đề cập đến tranh chấp Biển Đông. Một số ghi nhận trực tiếp công hàm của ông Đồng, một số khác thì gián tiếp.
Tôi xin cung cấp cho ông Nghiêm Quang danh sách sau đây, gồm các atlas công nhận chủ quyền của TQ tại HSTS. Về danh sách các atlas có ghi nhận công hàm ông Đồng thì phải nói là rất nhiều. Nếu không nhớ lầm, chỉ ở Thư viện Quốc gia Pháp ở Paris, tôi đã tham khảo khoảng 20 cuốn atlas có ghi nhận công hàm của ông Đồng. Ông Nghiêm Quang nếu ở Paris thì kiểm chứng giùm.
Sau đây là danh sách ghi lại từ Bộ Ngoại giao TQ mà tôi giữ lại từ hơn 10 năm nay, các atlas này công nhận chủ quyền của TQ tại HSTS. Tài liệu này hôm nay có nguy cơ dài ra gấp bốn hoặc năm lần: 1. Welt Atlas (RFA, các năm 1954, 1961 và 1970); 2. Atlas Mondial (USSR 1954 và 1967); 3. Atlas Mondial (Roumanie 1957); 4. Osford Australian Atlas et Record Atlas (Anh, 1957) và Atlas Mondial de l’Encyclopédie Britannique (Anh, 1958) ; 5. Atlas Mondial (Việt Nam năm 1960, NXB Quân Đội Nhân Dân) ; 6. Haack Welt Atlas (RDA en 1968); 7. Daily Telegraph World Atlas (Anh, năm 1968); 8. Atlas International Larousse (France năm 1968 và 1969); 9. World Map Ordinary (l’Institut National Geographique, France, 1968); 10. World Atlas (Văn Phòng phủ Thủ Tướng, Viet Nam 1972; China Atlas (Neibonsya, Nhật Bản 1973).
2. Về cách giải thích tài liệu
Tôi dẫn lại từ trong bài của ông Nghiêm Quang:
“Mais le traité de paix signé en 1954 ne mentionne pas ces îles et la position vietnamienne est affaiblie par la reconnaissance, en 1958, de la souveraineté chinoise par le Premier ministre Pham Van Dong.”
Tạm dịch: “Nhưng hiệp định hòa bình ký kết hồi 1954 không đề cập đến những hòn đảo này và vị thế của Việt Nam (trong việc giành chủ quyền đảo – ND) bị yếu đi do sự thừa nhận, vào năm 1958, chủ quyền Trung Quốc bởi ông Thủ tướng Phạm Văn Đồng.”
Ông phê bình dữ kiện công hàm ông Đồng trong sách này là: «Là thông tin không có tư cách», «tính thứ yếu», «vô giá trị về học thuật và đương nhiên về pháp lý»…
Mọi người ai cũng có quyền có ý kiến, nhưng tôi nghĩ ông Nghiêm Quang chưa đủ «trọng lượng» để có những phê bình một dữ kiện từ một cuốn sách quan trọng như thế.
Ông viết: «Mất bao nhiêu đường đất cho một sự diễn dịch từ ‘vị thế của Việt Nam bị yếu đi’ thành ra ‘dư luận thế giới đã công nhận HS&TS của Trung Quốc là do hiệu lực của…’? “Affaiblie” / “bị yếu đi” đồng nghĩa với “công nhận… là do hiệu lực…”?» Ông Nghiêm Quang viết đó lại quên đó. Chữ «reconnaissance» nghĩa là gì? Ông vừa mới dịch là «thừa nhận» sau đó lại quên.
Ý nghĩ của câu trên là: công hàm năm 1958 của ông Đồng đã công nhận (hay thừa nhận) chủ quyền của TQ tại các đảo, việc này làm cho tư thế của VN bị yếu đi.
Về các tài liệu khác cũng vậy, chỉ nói đến các tài liệu do ông Nghiêm Quang dẫn: Chi-kin Lo, China’s Policy towards Territorial Disputes: The Case of the South China Sea Islands, Routledge 2005; Brantly Womack, China and Vietnam: The Politics of Asymmetry, Cambridge University Press 2006.
Nếu dẫn các tài liệu như thế này tôi có thể dẫn đến hàng trăm tài liệu khác nhau. Số đầu sách của các học giả TQ (Đài Loan và lục địa) đã lên trên trăm cuốn rồi! Nhưng đâu có thời giờ mà phí như thế!)
Các tài liệu đó, theo ông Nghiêm Quang đã dịch, thì là: “người Hoa đã khéo léo gài Bắc Việt vào thế công nhận quyền của Trung Quốc sở hữu các hòn đảo”.
Rõ ràng tài liệu đã viết: Bắc Việt công nhận chủ quyền của TQ ở các đảo. Việc “gài” hay không gài không ăn thua gì đến dư luận quốc tế. Người ta chỉ biết “Bắc Việt đã công nhận chủ quyền của TQ ở các đảo”. Điều quan trọng mà ông Nghiêm Quang chỉ nói lướt qua mà không dẫn ra hết cho rõ rệt, là việc “công nhận” này do hiệu quả từ công hàm của ông Đồng cũng như các viên chức bộ ngoại giao khác như Ung Văn Khiêm, Lê Lộc…, các tài liệu đăng trên báo Nhân Dân v.v… ở thập niên 50-60
Như thế dư luận có ghi nhận hiệu lực của công hàm ông Đồng, vấn đề là hình thức ghi nhận có khác đi mà thôi.
Về cuốn La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys của bà Monique Chemillier-Gendreau, tôi nhìn nhận là cuốn sách này là một cuốn tài liệu rất có giá trị và tác giả là một người rất có lòng đối với VN. Tuy nhiên, cũng như nhiều cuốn sách khác, sách này có nhiều điểm có thể bị đặt lại vấn đề (chính tác giả của nó cũng biết như vậy). Tuy nhiên, tôi nhận thấy hình như các học giả VN xem nó như là cuốn kinh thánh, như có người đã xem ý kiến của ông Valencia là “thánh ý”, nói điều gì thì điều ấy phải đúng. Điều này hoàn toàn phản khoa học. Làm khoa học là phải hoài nghi, phải đặt dấu hỏi, phải phản biện thường trực. Nhưng hành động đó vô tình xác nhận tánh hay vọng ngoại của người Việt Nam.
Dẫn lại ba điều mà ông Nghiêm Quang trích: «Tóm tắt 3 luận điểm Chemillier-Gendreau:
a) Công hàm Phạm Văn Đồng tự giới hạn trong việc thừa nhận bề rộng 12 hải lý của lãnh hải Trung Quốc. “Việt Nam tuyên bố công nhận đòi hỏi của Trung Quốc” (về chủ quyền đảo) là một khẳng định vô căn cứ, mặc dầu sự im lặng của Bắc Việt có thể bị diễn giải là ngầm ưng thuận (its silence can be interpreted as acquiescence).
b) Bắc Việt Nam không giữ chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa vào 1956 cho nên không thể gắn kết các tuyên bố của nhà cầm quyền Bắc Việt với vấn đề chủ quyền đảo.
c) Nước Việt Nam thống nhất kế thừa chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa từ chánh quyền Việt Nam Cộng hòa. »
Nhận xét đầu tiên là ông Nghiêm Quang không có nguyên bản cuốn sách này.
Về điểm a) có nhiều học giả nhận xét về công hàm ông Đồng hoàn toàn trái ngược với bà M. Chemiller-Gendreau.
Chính tác giả của công hàm là ông Phạm Văn Đồng đã công nhận, năm 1977, quan điểm của ông về công hàm này như sau: «đó là thời chiến nên phải nói như vậy thôi». Nói như vậy là nói như thế nào ? Đó là chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa công nhận tuyên bố của TQ. Tuyên bố đó là HS&TS thuộc TQ và chúng có 12 hải lý «hải phận» (ông Đồng dùng chữ hải phận thay cho lãnh hải như ngày hôm nay).
Ông Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, trong một cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 2 tháng 12 năm 1992 nói công hàm ông Đồng chỉ «tạm công nhận» chủ quyền của TQ tại HS&TS mà thôi.
Ông Nghiêm Quang viết: «Bỏ qua điểm (a) là một thiếu sót trong bài viết ngày 01/04 của Trương Nhân Tuấn làm sai lệch cường độ sự việc.»
Cường độ sự việc nào? Sai lệch cái gì và ai sai lệch?
Tôi nhận thấy việc né tránh hiệu lực của ông Đồng là một thái độ phản khoa học, «phi học giả».
Ông viết tiếp:
«Thêm một dẫn chứng cho cách đọc-hiểu-viết đại khái của ông này khi gọi “thuyết” của bà Chemillier-Gendreau là “estoppel”. Đọc kỹ lại bài của TS Từ Đặng Minh Thu, sẽ thấy Jian-Ming Shen nêu “estoppel” để khẳng định những tuyên bố [trong công hàm Phạm Văn Đồng và lời ông Ung Văn Khiêm] có giá trị bó buộc đối với Việt Nam. Tuy nhiên, TS Thu đã phản bác mấy ý này, xin phép không lặp lại ở đây. Tóm lại, “estoppel” không ăn nhập gì đến luận điểm của MC-G.»
Ông Nghiêm Quang không có sách nguyên bản tiếng Pháp nên nói chuyện với ông cũng khó. Thế nào là thuyết estoppel và bà M. Chemiller-Gendreau có đề cập đến thuyết này không? Đây cũng là điểm b) ghi trên. [L’estoppel (ou principe d’interdiction de se contredire au détriment de l’autrui), règle par laquelle une partie est privée de se prévaloir d’une position contraire de celle qu’elle a fait valoir auprès d’une autre partie et qui a conduit cette deuxième à modifier sa position initiale à son détriment ou à l’avantage de la première]
Trang 123 cuốn La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys bà M. Chemiller-Gendreau đã giải thích ý nghĩa pháp lý của công hàm ông Đồng trên nguyên tắc « estppel », dầu bà không nói ra. Không khoa học gia nào viết phương trình quĩ đạo của một phi thuyền mà nói mình viết theo công thức này, công thức nọ. Bà có có viết thế này: «on ne peut renoncer à ce sur quoi on n’a pas d’autorité – người ta không thể từ khuớc về cái mà người ta không có thẩm quyền».
Tôi không có bài của ông (bà?) Từ Đặng Minh Thu ở đây, nhưng tôi nhớ có đọc câu trích dẫn này trong bài viết mà ông Nghiêm Quang có đề cập. Và đó cũng là nội dung chính của bài viết này. Nhưng hình như ông (bà) Từ Đặng Minh Thu dịch không đúng nghĩa câu này và có người đã lên tiếng phê bình trên diễn đàn x-café.
Về điểm c) thì cũng có nhiều điều cần bàn luận và tôi đã có ý kiến của tôi trong phần nói về gía trị pháp lý của công hàm ông Đồng trong bài trước, không tiện nhắc lại.
3. Kết luận
Sẵn dịp ông Nghiêm Quang nhắc lại bài «Chủ quyền VN tại bãi Tu Chính – Vũng Mây và vùng trũng Nam Côn Sơn», cũng là bài đã mở đầu cho cuộc tranh luận trên talawas trong mấy tuần qua. Xin ghi lại đoạn này:
«Sự việc hai hãng khai thác dầu Exxon-Mobil (Hoa Kỳ) và BP (Anh) lần lượt rút khỏi VN là một gáo nước lạnh, một cái tát rát mặt cho phía Việt Nam, nhưng cũng là một dịp may để các học giả VN xét lại các dữ kiện cơ bản mà phía VN dựa lên đó chứng minh chủ quyền của mình tại vùng trũng nam Côn Sơn và bãi Tu Chính – Vũng Mây (TC-VM). May vì còn thời giờ để thảo luận lại nghiêm túc. Đồng thời cũng là dịp để phía VN đặt lại toàn bộ lý lẽ của mình về chủ quyền HS&TS và hải phận biển Đông cách nào cho hợp lý.»
Mấy tuần qua mọi người đã bàn về điều gì? Có ai đã giải thích lý do, hay đưa ra một giả thuyết nhằm cắt nghĩa vì sao tập đoàn BP rút lui và ExxonMobil ngưng hoạt động hay không? Hoàn toàn không có. Tôi có cảm tưởng các «học giả» đang uống thuốc an thần, tưởng mình đang hưởng lạc trên một nước Việt phồn vinh, hùng mạnh, y chang cảnh vua quan triều Tự Đức ngày xưa. Mọi người đã thấy: tất cả tranh luận đều ra ngoài lề. Nước đã bị mất trong triều Tự Đức, xem ra mọi người không thấy chủ quyền của đất nước đang bị đe dọa hôm nay.
Hôm rồi mọi người có xem một video của TQ do ông Trương Thái Du đưa lên. Tôi có cảm tưởng hình như cảnh những người lính VN đang bảo vệ đất nước bị TQ bắn giết đã không làm cho mọi người thức tỉnh. Bài viết này tôi không có hào hứng để viết, viết đi viết lại hai ba lần, vì không có gì để viết, toàn những chuyện lặt vặt. Không ai bỏ thì giờ đi làm những chuyện như thế. Nhưng cũng phải viết, vì không viết không được.
Tôi không hiểu vì sao, tình hình nguy cấp như thế này, không ai đặt câu hỏi vì đâu tất cả các atlas mới in vài năm nay đều ghi Paracels & Spratleys và trong dấu ngoặc ghi tên Xisha, Nansha để chỉ cho HS&TS? Sao không có bản đồ nào của nước ngoài ghi tên Việt Hoàng Sa hay Trường Sa mà lại ghi tên Tàu? Không ai đặt câu hỏi vì đâu BP rút lui, ExxonMobil ngưng khai thác và việc này thiệt hại gì cho VN? Không ai đặt câu hỏi vì sao các atlas có ghi hiệu lực công hàm của ông Đồng?
Đối với học giả VN, công hàm ông Đồng không có giá trị. Các học giả VN hình như không cần biết lý lẽ đối thủ mình về công hàm này như thế nào và ảnh hưởng các lý lẽ đó lên dư luận quốc tế ra sao? Đã mất đất mất biển do các hiệp ước phân định biên giới trên đất liền 1999 và phân định vịnh Bắc Việt 2000, tình hình này thì sẽ mất HS&TS rồi mất cả Biển Đông. Tôi cho là nguy cơ lịch sử thời Tự Đức đang lặp lại.
Cuối cùng cũng phải nói là tôi phẫn nộ khi có người chủ trương các đảo của VN chỉ có hiệu lực 12 hải lý, đi ngược lại quyền lợi của VN và nội dung Luật Biển 1982. Không phẫn nộ làm sao khi đã có những người lính đổ máu để giữ đảo, Hoàng Sa cũng như Trường Sa, cũng như nhiều người bất chấp hiểm nguy, dãi gió dầm mưa, chịu cô đơn, khổ cực để giữ những hòn đảo ấy? Nếu chủ trương các đảo chỉ có giá trị 12 hải lý thì rõ ràng chúng ta có lỗi rất lớn với những hy sinh vô biên của lớp người ấy. Chủ trương như thế cũng phủ nhận công lao các học giả đã mất cả đời nghiên cứu, chứng minh chủ quyền của VN tại các đảo ấy.
Nhiều thế hệ Việt Nam đã hy sinh vì HS và TS, thật có lỗi nếu ngày hôm nay mình không làm được việc gì. Thấy nước mất mà không làm được gì là điều tồi tệ nhất.
© 2009 Trương Nhân Tuấn
© 2009 talawas blog
(TT)
Thứ năm, trong đàm phán với Thái Lan và Indonesia, CHXHCNVN đã thừa kế những tuyên bố của CP VNCH về thềm lục địa, những tuyên bố đó lại là sản phẩm của VNCH. Thái Lan, Indonesia và tất cả các nước đều không nói là “CP VNDCCH nói CP VNCH là nguỵ cho nên không được thừa kế chủ quyền mà CP VNCH tuyên bố”. Thái Lan và Indonesia đã đàm phán với VN trên cơ sở sự thừa kế đó tồn tại.
Thứ sáu, lãnh thổ là tài sản của quốc gia, không phải là tài sản của CP. Thừa kế lãnh thổ là v/d quốc gia, không phải v/d CP.
Tiếng Việt nói “Thừa kế quốc gia“. Luật quốc tế tiếng Anh nói “Succession of states“. (State = quốc gia).
Không ai nói “Thừa kế CP“, “Succession of governments“. (Government = CP).
Ông Trương Nhân Tuấn đặt vấn đề thừa kế quốc gia trong khuôn khổ các chính phủ miệt thị nhau này nọ là sai cơ bản về luật quốc tế.
Và giải pháp ông ấy đề nghị cũng sai cơ bản về luật quốc tế trong phạm trù CH PVD (*). Cụ thể là giả sử ngày nào đó VN có 1 CP hoà hợp hoà giải dân chủ gì đó, đổi tên thành CHTBCNVN thì sự thừa kế quốc gia cũng bắt buộc phải như sau:
1. CHTBCNVN thừa kế từ CHXHCNVN.
2. CHXHCNVN thừa kế từ VNDCCH 1975-1976.
3. VNDCCH 1975-1976 thừa kế từ VNDCCH trước 75 và từ VNCH (có thể gián tiếp qua CHMN).
Không có chuyện CHTBCNVN chọn chỉ thừa kế từ VNCH.
(*) Tất nhiên việc hoà hợp hoà giải, dân chủ có thể có ích trong những phạp trù khác với CH PVD.
Ông Trương Nhân Tuấn lặp đi lặp lại lập luận dưới đây nhiều lần:
Không có bàn giao quyền lực thì làm sao có kế thừa?
Gọi VNCH là «ngụy», tức là giả, không phải là một thực thể chính trị, thì không thể có việc kế thừa. Không thể kế thừa một cái gì đó không có thật (ngụy).
Nhưng tôi cho lập luận đó không chính xác.
Thứ nhất, chưa chắc là việc Dương Văn Minh đầu hàng không thể là một hình thức “bàn giao quyền lực”.
Thứ nhì, trên thế giới đã từng có nhiều trường hợp bên này đánh thắng bên kia, eg, Mao thắng Tưởng (ông Nghiêm Quang đã nói tới), Lol Nol lật Shianouk, Pol Pot lật Lol Nol, Đại Việt diệt Chiêm, vv, chẳng ai nói
Không có bàn giao quyền lực thì làm sao có kế thừa?
Thứ ba, nếu CP VNDCCH gọi CP VNCH là “ngụy” thì không có gì bắt buộc là phải phủ định tất cả những gì CP VNCH đã từng nói tới. Chẳng có gì bắt buộc là CP VNDCCH hay CP CHXHCNVN không được phép công nhận là 1 số điều CP VNCH đã từng nói tới là đúng.
Thứ tư, chủ quyền VN d/v HSTS có từ trước CP VNCH, VNCH chỉ là người giữ chủ quyền đó cho các thế hệ sau, nó không phải là sản phẩm của VNCH. Điều này lại càng ủng hộ quan điểm trên.
Giống như bố ông A bị dòng họ “cho là ngụy”, không có nghĩa ông A không thể thừa kế gia sản của tổ tiên từ bố ông A.
…
TN Tuấn: “Về việc tham khảo các atlas, cũng cần nói đến hai nguyên tắc để tham khảo. Nếu chỉ đi tham khảo ở các thư viện nhỏ đương nhiên sẽ không đọc được các atlas nước ngoài xuất bản năm 2008. Đề nghị ông Nghiêm Quang vào tham khảo ở Thư Viện Quốc Gia Pháp ở Paris để kiểm chứng việc này. Mặt khác, phương pháp tham khảo cũng cần « focus » vào đề tài tham khảo. Nên tập trung vào phần « conflit territorial – tranh chấp lãnh thổ ».”
Thật là quái gở! Chính mình phịa ra vụ “hầu hết atlas đều ghi nhận…”, không chứng minh dù đã được nhắc đi nhắc lại, bây giờ lại dạy bảo người khác cách đi “chứng minh” giùm mình một việc không thể chứng minh (vì không có thật)! Nếu đối thủ không “chứng minh” được thì thua, mà giả thử chứng minh được thì cũng… thua! Và đằng nào cũng mất thì giờ của đối thủ (dù chỉ là thì giờ để chỉ ra cái vô lý của mình). Cách tranh luận khôn quá!
Mặt khác chữ atlas càng ngày càng được định nghĩa lại, bây giờ thì phải là atlas xuất bản năm 2008 và có nói về conflit territorial!
TN Tuấn thật có tài “lủi” và “lái” vấn đề vô bụi rậm.
Về ý nghĩ công hàm ông Đồng tôi đã viết ở đây ; http://www.talawas.org/?p=1944 , xin ghi lại để tránh việc hiểu lầm gây ra do các trích dẫn thiếu sót :
Công hàm của ông Đồng có hai ý nghĩa: 1/ công nhận chủ quyền của Trung Quốc tại HS và TS. 2/ Phủ nhận chủ quyền của VNDCCH tại HS và TS.
Nhưng dầu vậy, ta có thể hóa giải công hàm này qua một số thủ tục cần thiết.
Bà Monique Chemillier-Gendreau, tác giả cuốn La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys có cho rằng công hàm của ông Đồng không có giá trị pháp lý vì lý do «người ta không thể cho cái mà người ta không có». Ý kiến này dựa trên tinh thần Hiệp định Genève, ông Nguyễn Mạnh Cầm có nhắc lại. Hai quần đảo HS và TS trong giai đoạn 1954-1975 thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng hoà (sau đây viết tắt là VNCH). VNDCCH không có thẩm quyền gì ở HS và TS nên tuyên bố của ông Đồng không có giá trị.
Một vài nhà nghiên cứu Việt Nam dựa trên thuyết này (estoppel) để khai triển thêm, chứng minh công hàm của ông Đồng không có giá trị về chủ quyền của Trung Quốc ở HS và TS.
Như thế, theo thuyết này công hàm của ông Đồng không có giá trị, Trung Quốc không có chủ quyền tại HS và TS.
Nhưng chủ quyền của VNDCCH có được xác lập tại nơi đây hay chưa? Không có gì chắc chắn hết.
Bà M. Chemillier-Gendreau dựa trên thuyết «liên tục quốc gia» để cho rằng VNDCCH có thể kế thừa VNCH để có quyền chủ quyền tại HS và TS.
Nhà nước VNCH, tiếp nối nhà nước thực dân Pháp, vốn là đại diện triều đình nhà Nguyễn, quản lý liên tục và khai thác HS và TS. Như thế chủ quyền của Việt Nam tại HS và TS liên tục từ nhiều thế kỷ, từ chúa Nguyễn, Tây Sơn, nhà Nguyễn, thực dân Pháp cho đến thời VNCH. Sau 1975, chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam (sau đây viết tắt là CPLTCHMNVN) chưa bao giờ tuyên bố HS và TS thuộc về Trung Quốc.
Như thế, sau khi hiệp thuơng thống nhất đất nước 1976, CHXHCNVN có thể lựa chọn lập trường của VNCH và CPLTCHMNVN để khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại HS và TS.
Nhưng hiện nay người ta đều biết Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (sau đây viết tắt là MTDTGPMN) chỉ là con bài do Đảng CSVN lập ra. Và cách hành xử của Đảng CSVN cho thấy chế độ VNDCCH phủ nhận chế độ VNVH, xem thực thể chính trị này là «ngụy», tức là cái giả, cái không có.
Sau ngày 30-4-1975 không hề có một buổi lễ bàn giao chính quyền giữa VNCH và VNDCCH hay với MTDTGPMN. Thực thể chính trị VNCH bị mất đi và di sản của nó bị tước đoạt, nếu không nói là bị đánh cướp (dùng chữ của CSVN: cướp chính quyền). Quân nhân, công chức… phục vụ cho chính quyền này bị gọi là «giặc», «giặc ngụy»; dân chúng cũng bị nghi ngờ, xếp vào thành phần «phản động», «ngụy dân».
Không có bàn giao quyền lực thì làm sao có kế thừa?
Gọi VNCH là «ngụy», tức là giả, không phải là một thực thể chính trị, thì không thể có việc kế thừa. Không thể kế thừa một cái gì đó không có thật (ngụy).
Như thế chế độ CHXHCNVN là tiếp nối đương nhiên của VNDCCH và phủ nhận VNCH.
Nội dung công hàm và lời nói chữa lại của ông Đồng và ông Cầm càng khẳng định thêm VNDCCH đã phủ nhận chủ quyền tại HS và TS.
Như thế lý thuyết «kế thừa» của bà Monique Chemillier-Gendreau đề nghị thì không thể áp dụng cho Việt Nam trong tình huống như thế.
Tôi đã viết ở đây : http://www.talawas.org/?p=2123 về công hàm ông Đồng và các dữ kiện liên hệ trên các Atlas, xin ghi lại để sự việc rõ ràng hơn :
« Nếu phía Việt Nam tâm niệm: Việc giải quyết tranh chấp sẽ phải do một tòa án quốc tế. Như thế dầu muốn dầu không Việt Nam sẽ phải đối diện với công hàm của ông Đồng.
Hiệu quả của công hàm này có thể làm cho Trung Quốc thắng kiện về HS và TS, do đó phía Việt Nam cần phải vô hiệu hóa nó. Việt Nam có giữ được HS và TS hay không là do hiệu ứng của công hàm này. Đây không phải là một vấn đề chính trị mà là một yếu tố pháp lý.
Nhiều người cho rằng công hàm này không có giá trị pháp lý. Ông Nguyễn Nhã vừa lên tiếng như thế, cho rằng công hàm này chỉ có giá trị về lãnh hải 12 hải lý. Nhưng thực ra, chính ông Phạm Văn Đồng, sau này là ông Nguyễn Mạnh Cầm, đã xác nhận lại, công hàm có mục đích công nhận chủ quyền của Trung Quốc tại HS và TS. Ông Đồng cho rằng chỉ công nhận «trong thời chiến» và ông Cầm thì là «tạm công nhận».
Nhiều người không tin rằng các Atlas trên thế giới ghi nhận việc này. Thực ra tất cả các cuốn Atlas mà tôi có tham khảo, sách nào cũng có ghi, khác nhau là phương cách ghi nhận. Thông thường là cách ghi nhận là như lối ghi nhận của bà Monique Chemillier-Gendreau trong cuốn La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys: trong thời kỳ chiến tranh, e ngại phật lòng đồng minh, nên VNDCCH có cùng quan điểm với Trung Quốc về chủ quyền HS&TS. Nhưng có một số ghi thẳng do hiệu quả công hàm của ông Phạm Văn Đồng.
Đây là một thực tế, các học giả Việt Nam không thể trốn tránh được nữa. Trong quyển sách Biên giới Việt-Trung 1885-2000: Lịch sử thành hình và những tranh chấp của tôi xuất bản năm 2005, cũng ghi nhận là công hàm của ông Đồng không có giá trị, nhưng sau vụ BP rút lui, tôi cho rằng chúng ta phải nhìn công hàm này bằng con mắt thực tiễn của một nhà khoa học, cố gắng tìm phương pháp hóa giải nó, bằng lý trí và bằng trái tim yêu nước, nếu muốn bảo vệ bờ cõi, đất nước mình. »
Có một điều quan trọng tôi đã viết mà quên nhắc lại trong bài : hầu hết các atlas mới xuất bản năm 2008 đều ghi nhận hiệu lực công hàm của ông Đồng.
Cuốn Atlas Technip xuất bản năm 2008 mà ông Nghiêm Quang có nhắc, trang 142 có ghi như sau : « Le Nord Viet Nam qui était très dépendant de l’aide chinois, était alors dans l’obligation de ménager son allié et voisin ». Tạm dịch như sau : « Bắc Việt vì quá lệ thuộc vào viện trợ của TQ do đó bắt buộc phải nể nang, chiều chuộng người đồng minh và cũng là hàng xóm của mình ».
Động từ « ménager » có ý nghĩ « nể nang, thận trọng » theo hướng « chiều chuộng… » hơn là có hàm ý « kính trọng ».
Câu này các tác giả Atlas Technip viết trong hoàn cảnh VN và TQ tranh chấp chủ quyền các đảo, như thế ý nghĩa của nó là Bắc Việt đã « chiều chuộng » đòi hỏi của TQ. Hiệu lực công hàm của ông Đồng do đó được ghi nhận một cách gián tiếp. Ông Nghiêm Quang dẫn trang 139 của sách này thì đương nhiên sẽ không thấy gì.
Về việc tham khảo các atlas, cũng cần nói đến hai nguyên tắc để tham khảo. Nếu chỉ đi tham khảo ở các thư viện nhỏ đương nhiên sẽ không đọc được các atlas nước ngoài xuất bản năm 2008. Đề nghị ông Nghiêm Quang vào tham khảo ở Thư Viện Quốc Gia Pháp ở Paris để kiểm chứng việc này. Mặt khác, phương pháp tham khảo cũng cần « focus » vào đề tài tham khảo. Nên tập trung vào phần « conflit territorial – tranh chấp lãnh thổ ».
Ông Nghiêm Quang viết: “Và nhất là thảo luận với ông Trương Nhân Tuấn, nếu không đi sâu vào từng chi tiết thì câu chuyện sẽ không đi đến đâu. Không lẽ lại cứ tôi nhớ và tôi có cảm tưởng?” Câu này đúng boong, tiếng Anh gọi là “hit the nail on the head”. Những người viết đàng hoàng thì cẩn trọng tra cứu, tìm bằng chứng. Riêng TN Tuấn thì chỉ việc xào lại vài đoạn đã viết cũ, thảy vô một chùm “tôi nhớ…”, thêm vô vài cái bịa đặt trắng trợn (“Valencia là người Phi…”, “tất cả atlas…”), không chứng minh mà lại đòi người khác phản chứng những dựng đứng của mình, chụp vài cái mũ (vô ơn, tự sướng, “dọn đường cho Phi”, “gian dối”…), hô lên một tràng khẩu hiệu yêu nước, đấm ngực than van tại sao chỉ có mình là thành thật và yêu nước… et voilà, có một bài đăng talawas! Chẳng trách một mình ông tả xung hữu đột, bài vở tràn ngập!
Chỉ tiếc cho thì giờ của những người như DD Huy, LM Phiếu, đáng lẽ nên dùng để làm việc có ích hơn như viết thư cho các nhà xuất bản atlas hay viết bài cho báo VN và ngoại quốc.
Ông TN Tuấn mới đầu thì nói “hầu hết các atlas ghi nhận công hàm PVĐ”, sau đó nói yếu đi “hầu hết các atlas géopolitiques”, đến bài này còn yếu nữa: “Có rất nhiều loại atlas, không phải cái nào cũng như nhau…”. Làm tôi nhớ đến chuyện ông gọi Mark Valencia là “người Phi”, rồi “người gốc Phi”, rồi “người mà dòng họ đã sống nhiều đời ở Phi là người Phi”.
Tuy nhiên, dù nói tới nói lui, TN Tuấn vẫn không cãi được. Ông viết: “Các cuốn atlas mà ông Nghiêm Quang có dẫn ra, phần lớn có đề cập đến tranh chấp Biển Đông. Một số GHI NHẬN TRỰC TIẾP công hàm của ông Đồng, một số khác thì gián tiếp.” Viết vậy là bịa đặt, vì ông NQ đã viết rõ ràng là KHÔNG có atlas nào ông đã đọc ghi nhận (dù trực tiếp hay gián tiếp) công hàm PVĐ.
Sau đó TN Tuấn viết: “Về danh sách các atlas có ghi nhận công hàm ông Đồng thì phải nói là rất nhiều. Nếu không nhớ lầm, chỉ ở Thư viện Quốc gia Pháp ở Paris, tôi đã tham khảo khoảng 20 cuốn atlas có ghi nhận công hàm của ông Đồng. Ông Nghiêm Quang nếu ở Paris thì kiểm chứng giùm.” Lạ chưa! Người ta bảo là mình bịa và thách thức cho bằng chứng, mình lại bảo người thách thức đi tìm bằng chứng giùm!
Cũng xin nhắc TN Tuấn là ông đã hứa đưa ra danh sách 18 cuốn atlas có ghi nhận công hàm PVĐ. Ông đợi bao giờ mới đưa ra? Hay chỉ muốn kéo dài bằng sự lấp liếm cho đến khi mọi người… mệt?
Trang 123 cuốn La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys bà M. Chemiller-Gendreau đã giải thích ý nghĩa pháp lý của công hàm ông Đồng trên nguyên tắc « estppel », dầu bà không nói ra. Không khoa học gia nào viết phương trình quĩ đạo của một phi thuyền mà nói mình viết theo công thức này, công thức nọ. Bà có có viết thế này: «on ne peut renoncer à ce sur quoi on n’a pas d’autorité – người ta không thể từ khuớc về cái mà người ta không có thẩm quyền».
Câu bà Monique Chemillier-Grendreau viết, “on ne peut renoncer à ce sur quoi on n’a pas d’autorité”, là một nguyên tắc chung về “renouncing”, trong khi chỉ là một trong nhiều yếu tố trong nguyên tắc estoppel.
Sẽ không chính xác nếu cho là câu đó có nghĩa MCG phân tích estoppel
Thường thường thì nếu phân tích estoppel thì không thể chỉ phân tích 1 yếu tố của estoppel (authority) mà phải phân tích cả những yếu tố thông thường khác của estoppel.
Giống như để trả lời câu hỏi “Có phải là chim hay không?” thì không thể chỉ trả lời câu “Có cánh hay không?”, mà phải trả lời 1 số câu hỏi thông thường khác.
Nói ngược lại, không thể cho là câu của MCG có nghĩa bà ấy phân tích estoppel.
Như vậy sẽ giống như khẳng định là ông X có nói tới “cánh” thì có nghĩa là ông ấy phân tích “chim” (thay vì ruồi, muỗi, máy bay, thiên thần, vv).
Mấy tuần qua mọi người đã bàn về điều gì? Có ai đã giải thích lý do, hay đưa ra một giả thuyết nhằm cắt nghĩa vì sao tập đoàn BP rút lui và ExxonMobil ngưng hoạt động hay không? Hoàn toàn không có.
Có chứ. Chỉ có điều bác không chấp nhận thôi. Không chấp nhậ thì cũng được, nhưng không có nghĩa là “không có”.
Tôi có cảm tưởng các «học giả» đang uống thuốc an thần, tưởng mình đang hưởng lạc trên một nước Việt phồn vinh, hùng mạnh, y chang cảnh vua quan triều Tự Đức ngày xưa.
Bác không nên xiên xỏ những người trong tranh luận như vậy.
Và cảm tưởng như vậy cũng hơi chủ quan.
Mọi người đã thấy: tất cả tranh luận đều ra ngoài lề. Nước đã bị mất trong triều Tự Đức, xem ra mọi người không thấy chủ quyền của đất nước đang bị đe dọa hôm nay.
Quan điểm “xem ra mọi người không thấy” (trong hàm ý mình thì thấy) cũng hơi chủ quan.
Nếu chủ trương các đảo chỉ có giá trị 12 hải lý thì rõ ràng chúng ta có lỗi rất lớn với những hy sinh vô biên của lớp người ấy. Chủ trương như thế cũng phủ nhận công lao các học giả đã mất cả đời nghiên cứu, chứng minh chủ quyền của VN tại các đảo ấy.
Đoạn trên thiếu logic.
Những người như ông Nguyễn Nhã, vv, cũng chỉ chứng minh là VN có chủ quyền đối với đảo, không chứng minh là VN có chủ quyền đối với vùng biển xa đảo hơn 12 HL.
Những người lính nằm xuống cũng là bảo vệ đảo.
Người khác không phủ nhận chủ quyền VN đối với đảo.
Chỉ có bác TN Tuấn đề nghị nhường một số đảo cho Phi.
Ông Dương Danh Huy nhanh quá nên đã trả lời giùm tôi 2 điểm:
– Thứ nhứt, xung quanh chữ “hầu hết” mà tôi đã nhấn mạnh trong bài. Ông Tuấn nếu đưa ra 1 quyển có ghi nhận công hàm, tôi cũng có thể đưa ra 1 quyển không ghi nhận công hàm, như vậy đủ chứng minh chữ “hầu hết” của ông không có cơ sở. Đó là chưa kể tôi đã mở rộng phạm vi khảo sát từ atlas sang đến các “đầu sách địa chánh trị”; nhiều atlas, kể cả atlas địa chánh trị sẽ không đủ chỗ để chú thích chuyện nầy khác ngoài bản đồ.
– Thứ hai, ông Tuấn cố tình không biết tới việc làm của nhóm Quỹ nghiên cứu Biển Đông trong nỗ lực kêu gọi chỉnh sửa tên gọi HS-TS trong vài atlas gần đây.
*
Bài viết nầy, đồng ý với ông Tuấn, bao gồm nhiều chi tiết lặt vặt, nhưng tựu trung đều có liên quan đến công hàm Phạm Văn Đồng và mấy giải pháp to tát ông đề ra.
Muốn thảo luận cụ thể “giải pháp hóa giải” công hàm PVD thì trước tiên phải đánh giá trúng giá trị pháp lý và ảnh hưởng của nó đối với công luận. Và nhất là thảo luận với ông Trương Nhân Tuấn, nếu không đi sâu vào từng chi tiết thì câu chuyện sẽ không đi đến đâu. Không lẽ lại cứ “tôi nhớ” và “tôi có cảm tưởng”?
Thứ 3, suốt giai đoạn 1954-1973, 19 năm trong danh sách của bác, trên thế giới phải có ít nhất là hàng trăm atlas.
Danh sách của bác không chứng minh được là trong giai đoạn đó hầu hết các atlas đều ghi nhận CH PVD hay công nhận chủ quyền của TQ d/v HSTS.
Thứ tư, danh sách của bác và những trường hợp khác trong bài của bác không chứng minh được là ngày nay hầu hết các atlas đều ghi nhận CH PVD hay công nhận chủ quyền của TQ d/v HSTS.
Tôi không hiểu vì sao, tình hình nguy cấp như thế này, không ai đặt câu hỏi vì đâu tất cả các atlas mới in vài năm nay đều ghi Paracels & Spratleys và trong dấu ngoặc ghi tên Xisha, Nansha để chỉ cho HS&TS?
Câu trên sai ở 2 điểm:
Thứ nhất, không có chuyện “tất cả các atlas mới in vài năm nay đều ghi Paracels & Spratleys và trong dấu ngoặc ghi tên Xisha, Nansha”. Chỉ có một số.
Thứ nhì, không có chuyện “không ai đặt câu hỏi vì đâu”. Quỹ Nghiên cứu Biển Đông và nhiều người khác có đặt câu hỏi. Nếu họ có trả lời khác bác thì không có nghĩa là “không ai đặt câu hỏi vì đâu”.
Và có khác biệt nữa là họ đang tìm cách chống lại v/d có hại cho VN đó bằng cách kêu gọi NXB nào dùng tên Xisha, Nansha (vẫn còn là số ít) thì chỉnh sửa lại.
Chỉ riêng chuyện không có tài liệu nguyên bản, ông Trương Nhân Tuấn đã thể hiện rõ 2 lần trong bài nầy:
1. “Nếu không nhớ lầm, chỉ ở Thư viện Quốc gia Pháp ở Paris, tôi đã tham khảo khoảng 20 cuốn atlas có ghi nhận công hàm của ông Đồng. Ông Nghiêm Quang nếu ở Paris thì kiểm chứng giùm.” Trước đây, ông Tuấn đã rất mạnh miệng tuyên bố với ông Phạm Quang Tuấn ra sao, quý vị có thể xem lại.
2. “Tôi không có bài của ông (bà?) Từ Đặng Minh Thu ở đây, nhưng tôi nhớ có đọc câu trích dẫn này trong bài viết mà ông Nghiêm Quang có đề cập. Và đó cũng là nội dung chính của bài viết này. Nhưng hình như ông (bà) Từ Đặng Minh Thu dịch không đúng nghĩa câu này và có người đã lên tiếng phê bình trên diễn đàn x-café.”
Quan điểm của tôi: thảo luận những chuyện quan trọng, không nên viết “tôi nhớ…”, hoặc “hình như…”. Không chắc thì không đề cập, đó mới là thái độ nghiêm túc.
@Bác TN Tuấn,
Hình như bác TN Tuấn có nói
“Hầu hết các atlas nước ngoài đều ghi nhận công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng”,
Và tất cả các atlas bác tham khảo đều ghi nhận CH PVD hay công nhận chủ quyền của TQ gì đó.
Nhưng danh sách bác cung cấp lại không chứng minh được điều đó:
Sau đây là danh sách ghi lại từ Bộ Ngoại giao TQ mà tôi giữ lại từ hơn 10 năm nay, các atlas này công nhận chủ quyền của TQ tại HSTS. Tài liệu này hôm nay có nguy cơ dài ra gấp bốn hoặc năm lần: 1. Welt Atlas (RFA, các năm 1954, 1961 và 1970); 2. Atlas Mondial (USSR 1954 và 1967); 3. Atlas Mondial (Roumanie 1957); 4. Osford Australian Atlas et Record Atlas (Anh, 1957) và Atlas Mondial de l’Encyclopédie Britannique (Anh, 1958) ; 5. Atlas Mondial (Việt Nam năm 1960, NXB Quân Đội Nhân Dân) ; 6. Haack Welt Atlas (RDA en 1968); 7. Daily Telegraph World Atlas (Anh, năm 1968); 8. Atlas International Larousse (France năm 1968 và 1969); 9. World Map Ordinary (l’Institut National Geographique, France, 1968); 10. World Atlas (Văn Phòng phủ Thủ Tướng, Viet Nam 1972; China Atlas (Neibonsya, Nhật Bản 1973).
Thứ nhất, 1 số atlas trên được XB trước 1958 cho nên không thể ghi nhận CH PVD.
Thí nhì, tất cả atlas trên được XB trước 1975. Khó tin được là CH PVD được công bố trước 1975 và khó tin được là các atlas này có ghi nhận CH PVD. Bác có thể photo 1 vài trang trong các atlas trên ghi nhận CH PVD không?
Còn tiếp…
Thưa ông Trương Nhân Tuấn,
Rất thiệt thòi cho những người không sử dụng thành thạo internet nên lúc nào cũng tưởng người khác không có tài liệu tham khảo trước mặt. Thật ra, so với “Atlas des Atlas”, quyển của MC-G dễ kiếm hơn rất nhiều từ các hiệu sách ở quận 5 Paris, hoặc trong thư viện.
Với quý vị độc giả không có điều kiện tiếp xúc trực tiếp tài liệu có thể tham khảo trên google books, bản tiếng Anh và tiếng Pháp của quyển nầy.
http://books.google.fr/books?id=buQfpuL5Tw0C&pg=PA137&dq=spratly+gendreau#PPA1,M1
http://books.google.fr/books?id=58q1SMZbVG0C&printsec=frontcover&dq=spratly+gendreau
Về bài của TS Từ Đặng Minh Thu, xin dẫn ra đây để rộng đường dư luận:
http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai11/200711_TuDangMinhThu.htm
Các điểm khác xin phép trở lại sau.