Trả lời các phản hồi bài “Tham vọng của anh Sáu”
28/04/2009 | 1:57 sáng | 16 Comments
Category: Chiến tranh Việt Nam
Thẻ: Lê Trung Tường > Ngô Quang Trưởng > Nguyễn Ngọc Loan
Tôi thành thực xin lỗi độc giả và chuẩn tướng Lê Trung Tường vì tính cách vội vã theo trí nhớ lầu nhầu và bất khả tín của tôi nói chung và trong bài viết này nói riêng.
Như phản hồi trên đây cho biết chính xác hơn, tướng Tường không hề bay ra tàu HQ 400 mà bay thẳng vào… quân y viện. Ông không cần năn nỉ ai hết nhưng chuyện ông bị thương ở mức độ nào có nhiều dư luận, có người (chẳng hiểu thẩm quyền y khoa đến đâu) xác định ông chỉ bị sứt trán vì một mảnh kim khí trên trực thăng văng phải khi trực thăng này trúng đạn và chỉ cần dán một băng cấp cứu là xong.
Điều rõ rệt và đích xác hơn là khi Liên đoàn 21 (hay 23?) Biệt động quân đang trên đường giải tỏa thị xã Buôn Mê Thuột, tướng Tường đã ra lệnh LĐ 21 đổi mục tiêu để đến cứu gia đình ông bị kẹt ở một chỗ khác. Lựa chọn bên tình bên lý này đã đưa đến việc mất thành phố (chứ sao) và hậu quả liên đới sau đó là di tản không phải chỉ riêng gia đình ông mà cả Quân đoàn 2 được đi cùng. Thay vì bị cách chức, tướng Tường lại được, hoặc là cho tôi nói lại, thay vì được cách chức (nằm nhà nghỉ khỏe với vợ con đã được giải thoát), tướng Tường lại bị cấp trên phong làm chỉ huy cuộc tấn công tái chiếm Buôn Mê Thuột lần thứ hai, khiến ông bị thương nặng /nhẹ/ bêu đầu/ bao nhiêu múi chỉ khâu như đã nói.
Tôi nhầm lẫn giữa trường hợp của tướng Tường với trường hợp vào cùng thời điểm của tướng Phan Đình Niệm, tư lịnh sư đoàn 22. Đây mới là người ra tàu hải quân, và tâm thần bất an (chấn thương tâm thần cũng là thương tích có khi còn trầm trọng hơn là chấn thương sọ não) khiến phó đề đốc Hoàng Cơ Minh được chỉ định nắm sư đoàn và mặt trận thay ông. Sau đó đề đốc Minh có xuống bờ thị sát khu vực trách nhiệm mới của mình hay là nhận chức thế thôi và nhổ neo đi thẳng cho đến nay vẫn có ý kiến trái ngược của các chứng nhân, người thì quả quyết có theo ông xuống tận bến và đi dạo, kẻ quả quyết là trên bờ đứng đợi ông mãi mà chỉ thấy mịt mù xanh.
Tướng Ngô Quang Trưởng rời Đà Nẵng thế nào, có tin được chuyện thuật từ Tư lịnh phó Quân đoàn? Tướng Phú đối chọi với tình hình tại Quân đoàn 2 ra sao, có tin được Tham mưu trưởng hay Trưởng phòng 2 Quân đoàn hay không? Các vị này khi thuật lại có thanh toán ân oán gì với thượng cấp một thời? Khi phát hiện nhân viên tiểu khu Khánh Hòa đã biến mất vào một sáng xấu trời, tướng Phú có phát biểu với mọi người là chuồn thôi hay là ông lặng lẽ ra đi mà không phát biểu gì? Hay là ông chỉ về hướng Tây Nguyên mà thầm nhủ “Tôi sẽ có ngày trở lại” nhưng không ai nghe thấy?
Giờ, tôi có thể thuật lại việc một sáng này như sau:
Tiểu khu trống vắng lạ lùng. Bước vào bàn giấy của đại tá tỉnh trưởng Lý Bá Phẩm, tướng Phú không thấy một ai, cái máy đánh chữ của thư ký tỉnh trưởng ở bàn nhỏ đặt bên cũng đã biến đâu mất. Ông nghiến răng:
(Chúng nó) chuồn rồi!
Tùy tùng của tướng Phú đang chột dạ lại nghe ra thành “(chúng ta) chuồn thôi” và tự động đằng sau ông nhốn nháo, người thập thò ở cửa cách ông xa nhất đã vội chạy ra sân, mấy kẻ nữa chẳng hiểu là đuổi theo ngăn lại hay là cũng theo ông này bỏ đội ngũ. Ba ngày nay không ăn ngủ và tận lực với trách nhiệm khiến tướng Phú lảo đảo, ông ngã xuống sàn trước khi đại úy tùy viên đỡ lấy kịp. Ông khiêng tướng Phú ra ngoài định đưa về quân y viện Nguyễn Huệ nhưng phi tiêu trực thăng đã nổ máy ra hiệu. Khi được dìu lên tướng Phú phần vì yếu, phần vì tức giận trước sự hèn nhát của thuộc cấp vẫn còn hôn mê. Gió mát của cánh quạt khi con tàu bốc lên bầu trời xám ngoét và thê lương làm ông tỉnh lại và hé mở một mắt. Tướng Phú gầm lên yếu ớt:
Đi đâu thế này! Quay đầu lại!
Tiếng ông bị động cơ át đi và mặc dù tùy viên của ông ra hiệu, viên phi công vẫn giữ hướng về phía biển. Mắt nhìn về Tây Nguyên mù mịt sau làn sương thời tiết trắng tang thương điểm vài cột khói đen đang cuồn cuộn bốc đau buồn, tướng Phú chỉ còn sức thì thầm mà không ai nghe thấy:
Ta sẽ trở về!
Ông biết đâu là cạnh những cuộn khói đang bốc ngoài thị xã là toán quân cuối cùng của tiểu khu gồm cán bộ văn phòng do đại tá Phẩm chỉ huy đang lập phòng tuyến của tuyệt vọng. Trong đêm đại tá Phẩm đã gom góp họ lại mà không kịp báo với Quân đoàn. Trong lúc đang bố trí tuyến tử thủ, đại tá Phẩm thấy thư ký của ông còn khệ nệ cái máy đánh chữ to đùng bên hố cá nhân.
Mày mang cái này ra đây làm gì, ông hỏi.
Thưa đại tá, giặc đến nơi thì người có súng đánh bằng súng, em có máy đánh chữ thì đánh bằng máy đánh chữ, anh ta cười hồn nhiên. Cận chiến thì cái này còn lợi hại hơn lưỡi lê đó ông thầy, phang trúng là lỗ đầu!
Đại tá Phẩm kiểm điểm lại thì đạn thật ra cũng chẳng còn có bao nhiêu. Biết đâu lại chẳng cần đến cái máy chữ này. Ông ngước đầu lên khi nghe tiếng ầm ì của tăng T54 vừa trườn đến trên con dốc của quốc lộ.
Trở lại câu chuyện chính ở đây, là nhắc lại cuộc gặp gỡ của tôi với tướng Loan, tôi xin tất nhiên là chịu trách nhiệm hoàn toàn về những điều thuật lại.
Tôi xin cám ơn ông Trần Văn Tích về những chi tiết bổ sung về tướng Loan.
Quan hệ gia đình của ông Loan với đại tá đô trưởng Sài Gòn Văn Văn Của, như thế nào là do ông Của kể lại trong hồi ký. Có thể là em họ bên này hay em dâu bên kia gì đó, rất tiếc là tôi không có quyển sách này ở đây để xem lại, xin nhờ các bạn đọc có phương tiện này tra giúp. Hay là (giờ thì tôi hoang mang) ông Loan bà con với giám đốc thương cảng Sài Gòn, giám đốc hải quan Tân Sơn Nhất nhưng dẫu sao cũng không thay đổi phê bình về tính cách phe nhóm của bộ chỉ huy bị sát hại ở Chợ Lớn (ông Của thoát chết nhờ đang đi tiểu ở ngoài cổng khi tên lửa bắn vào). Ngược lại, tuy không có sách trên tay hiện nay, tôi xin cam đoan theo trí nhớ là đại tá Của chỉ định đại tá Hai là thủ phạm mà không nêu tên như đã viết ở trong bài. Đây là thông tin tôi ghi nhận rõ ràng nhất trong hồi ký này giữa những chuyện đại loại bác sĩ Của nghiện, cai, rồi nghiện lại v.v. và cai hẳn thuốc phiện thế nào. Dĩ nhiên, đây là xác định của đại tá Của, còn sự thật thế nào thì chưa, hay là chẳng bao giờ có thể biết được.
Tướng Loan theo tôi nghĩ, có kiêm nhiệm An ninh Quân đội, chí ít là trong thời kỳ ông được chỉ định giải quyết biến loạn miền Trung và bắt trung tướng Nguyễn Chánh Thi. Ngây thơ mà suy đoán thì theo luật pháp, cảnh sát không có quyền bắt tướng lãnh quân đội nhưng tướng Loan đã ở ngoài vòng luật pháp?
Tôi cũng xin bổ sung chi tiết về đại úy phạm cùng một tội với tướng Loan. Theo trung tá Lê Xuân Nhuận đó là một quận trưởng thuộc tỉnh Phú Yên.
Sau cùng, một sai lầm khác là gọi khẩu súng của ông bin Laden là AK 74 R “Krinkov”. Đây là cây AKS 74 SU (S chỉ bá xếp, SU chỉ nòng ngắn) và Krinkov chỉ là tên gọi thông dụng ở phương Tây, theo cách gọi của kháng chiến chống Liên Xô tại Afghanistan chứ không phải là tên gọi chính gốc Nga.
Một sơ suất khác của bài này không bị phát hiện vì tôi đã kịp thời chữa lại trước khi lên mạng. Trong bản nháp đầu tiên tôi gửi đi có câu :
Một tay chai bia tay cầm súng, nhưng nếu có gặp một bà đầm Pháp nào hỏi chuyện, tôi nghĩ là ông cũng sẽ nói về Paris và những bức tượng Maillol hớ hênh ở vườn Tuileries để mà rồi cũng lại mau nước mắt tần ngần.
Đây điển hình (thêm) cách tùy tiện của người viết vì tượng Maillol tuy có hớ hênh nhưng cũng chỉ được trưng bày ở vườn Tuileries (theo đề nghị của Bộ trưởng Văn hóa André Malraux) từ năm 1965. Ông Loan sang Âu châu trong thập niên 50 và năm 1966 ông còn đang bận dẹp bàn thờ Phật ở Đà Nẵng. Tôi bèn chữa lại thành những bức tượng Maillol hớ hênh và trường phái Primitifs Modernes là không ai bắt bẻ được nữa.
Nhưng người viết bất thập toàn và bạn đọc bất dung gian, may thay là còn có các bạn. Một lần nữa, tôi xin cám ơn và trân trọng các bổ sung, ý kiến và phê bình.
Đọc Đỗ Kh. vài lần thấy thích. Và đọc TRẢ LỜI CÁC PHẢN HỒI BÀI “THAM VỌNG CỦA ANH SÁU” có đoạn “bộ chỉ huy bị sát hại ở Chợ Lớn” làm tôi nhớ đến một bài báo có kèm hình đăng trên báo chí Sài Gòn hồi 1968 (Chính Luận hay Sóng Thần tôi không nhớ rõ).
Trong bài này tác giả (đăng bài đó) kể lại những sự việc xảy ra với tựa đề đại khái “Trực thăng Mỹ bắn lầm Bộ Chỉ huy Hành quân ở Chợ Lớn”. Nội dung có nói đến một ký giả hoặc phóng viên chiến trường đã khóc vì quá xúc động (nguyên văn) khi nhìn thấy những sĩ quan nằm sóng soài chết trên mặt đất. Bài đăng kèm 2 tấm ảnh với lời ghi chú: “hai tấm ảnh chụp cách nhau một phút”. Một tấm có chừng năm, bẩy quân nhân VNCH (hẳn nhiên là sĩ quan cấp bậc có thể đến trung tá) ngồi trên ghế và đứng bên trong hay phía trước một căn nhà. Tấm thứ hai có 3, 4 người mặc quân phục nằm lăn lóc trên mặt đất. Tôi còn nhớ mang máng trong bài có viết: óc, thịt và máu văng tung toé (!).
Người viết bài đó và ký giả được nói đến trong bài nếu bây giờ còn sống chắc cũng 70, 80 tuổi.
Tên lửa mà ông Đỗ nói đến là rockets từ trực thăng Mỹ bắn xuống (ông có nói đến trực thăng trong “Tham vọng của…). Rocket thường bắn ra từ trực thăng 2 quả trở lên để tăng hiệu quả. Hồi nhỏ nghe bạn tôi nói 1 rocket mạnh bằng 10 lựu đạn (làm sao nó biết!), chỉ cần 1 quả trúng chỗ họp là cả nhóm người chết hết. Bắn VC không biết trúng trật thế nào. Bắn lầm sao mà chính xác thế.
Xin tạc dạ lời khuyên của các bạn đọc về sự cẩn trọng trong việc cất bút để sau này khỏi nhầm tổng trấn Quy Nhơn 1975 Hoàng Cơ Minh với lại tổng đốc Hà Ninh 1882 Hoàng Diệu http://www.xuquang.com/cms/index.php?option=com_content&task=view&id=16&Itemid=30 .
Nhầm lẫn đáng tiêc và đáng trách của tôi là giữa tư lịnh sư đoàn 22 và sư đoàn 23 cùng ở Quân khu 2 và cùng một thời điểm, một vị cáo ốm lên tàu và một vị bị thương nhẹ vào thẳng bệnh viện. Hai sư đoàn này bị xóa sổ, các quân nhân bị cấp chỉ huy phó mặc cho định mệnh hay là cho …địch, mất tích 8 hay 9 phần 10. Nếu các thông tin này không đúng, rất mong được chỉ dẫn. Mong lắm thay.
Nhưng gương người xưa cũng đã (có kẻ) thế, nếu tin được liên kết ở trên:
“Bố Chánh Phan Văn Tuyển thấy thành lâm nguy bỏ chạy trước; Đề Đốc Lê Văn Trinh giả vờ tự tử; Phó Lãnh Binh Lê Trực ở cửa tây cũng tháo lui; Tuần Phủ Hoàng Hữu Xứng bị Pháp bắt, nhịn ăn mấy bữa rồi ăn lại như thường . Duy chỉ có Thủy Sư Đề Đốc Nguyễn Đình Kháng liều chết cố thủ ở cửa thành phía nam cho đến giây phút cuối cùng .”
Xin trích một đoạn văn trong bài viết về cụ Phan Thanh Giản đăng trên báo Nguoi Viet (http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=94332&z=1)
“Tôi hỏi một nữ sinh lớp 10, tên V., rằng em có biết hết tiểu sử của cụ Phan Thanh Giản không. Em nói, “Dạ biết.”
Nhưng khi chúng tôi hỏi em biết là do học ở sách giáo khoa hay tự tìm hiểu, em nói, “Sách không có dạy, em chỉ mới biết về ông Phan Thanh Giản từ hồi trường mang tên ông.”
Một nam sinh khác cho biết là từ sau lễ dựng tượng tụi em có tìm hiểu thêm tiểu sử cụ Phan Thanh Giản trên mạng, chứ trước đó thì chỉ biết lơ mơ. Có bạn còn nói ông này chắc là “liệt sĩ đánh Mỹ.”
Đề nghị tác giả Đ.K. nên cẩn thận tìm tòi cho chính xác những tư liệu liên hệ đến các nhân vật trong những bài viết về sau của ông. Trước là để độc giả tin tưởng vào bài viết của ông thuộc vào loại đứng đắn chứ không thuộc loại “cà tửng”, xứng đáng đăng vào “Tuổi Trẻ Cười”? Sau là, những thế hệ sau lỡ có đọc bài viết của ông sẽ không trả lời như nam sinh ở đoạn văn trên tin là cụ Phan Thanh Giản là “liệt sĩ đánh Mỹ”. Mong lắm thay.
Dân chơi thứ thiệt Việt Nam không chơi a còng, không chơi tay ga
Chơi cho lịch mới là chơi,
Chơi cho đài các, cho người biết tay.
phải là Velo Solex, Lambretta, Vespa, càng cũ kỹ, càng mù mịt khói sương, càng lịch.
Từ 1975, Việt Nam thiếu gì chuyện, gần nhất là chuyện chị Hai của anh Ba Dũng, chê tiền bồi thường khoảng 10 triệu đô la cho đất của bà, trước “giải phóng” vốn là đồn điền cao su, và chắc chắn không phải của bà, nên bị chính quyền tỉnh Bình Dương cưỡng chế.
Ở một số nước không phải là Việt Nam, chuyện này có thể làm đổ một chính phủ, làm một chính đảng đi đoong vài kỳ bầu cử, hoặc tự tử một cựu thủ tướng – Pierre Bérégovoy, vì mượn một triệu quan Pháp (khoảng chừng 150.000 tới tối đa là 200.000 đô-la) mà không phải trả tiền lời (http://en.wikipedia.org/wiki/Pierre_B%C3%A9r%C3%A9govoy). Nếu ở ta, Pierre đã sẽ không chết vì da mặt, da đầu đều dày và cứng.
Ông anh Đỗ Kh. thật lịch.
Hiệp định Geneva ký kết năm 1954 quy định nước Pháp có một năm để rút khỏi miền Bắc. Hải Phòng là điểm bàn giao cuối vào ngày 20.7.1955. Gia đình tôi rời cảng vào những ngày chót này khi tôi vừa được mấy tháng.
Tôi nghĩ là cá nhân tôi làm gì và ra sao không có gì đáng để đề cập và vì thế ai muốn “xúc phạm thanh danh” gì xin cứ việc tùy tiện. Phần thanh danh của các tướng lãnh quân đội lại là một chuyện khác. Tôi xin lỗi một lần nữa là đã lẫn lộn tướng Phan Đình Niệm (bị “bất an” nằm lại trên chiến hạm khiến đề đốc Hoàng Cơ Minh phải được chỉ định để thay thế) với lại tướng Lê Trung Tường (giải tỏa ngoại ô có gia đình ông ngụ trước khi giải tỏa thành phố đang bị địch tấn công và sau đó bị thương nhẹ). Những việc này không phải là chi tiết nhỏ với dư luận nói chung và quân nhân dưới quyền nói riêng. Đây là những việc đã được ghi nhận và cũng không thấy có ý kiến nào trái ngược cả, từ người khác, từ các đương sự hay là từ thân nhân bị xúc phạm.
Đối với đại tá Nguyễn Hữu Thông chẳng hạn, chỉ huy trung đoàn 42, sư đoàn 22, thì xếp của ông ở đâu làm gì và lính của ông ở đâu làm gì có phải là chi tiết nhỏ hay không? Đại tá Thông đã lên tàu rồi nhưng bỏ tàu bơi trở lại vào bờ để tập họp các đơn vị thuộc quyền thấy còn thiếu sót. Sau đó ông tử thương vì pháo trên bờ . Có nơi thì cho là sau đó ông tự sát, nhưng thế nào thì thanh danh của ông đến ngày nay vẫn được anh em thuộc cấp duy trì.
Để trả lời ám chỉ rằng có thể đã có sự “soi mói đời tư tác giả” ( bài thơ ông Bac Phong), tôi xin nói rõ điều mình đã viết khi góp ý về Đỗ Kh. Sau khi đọc Đỗ Kh. viết về những chuyện ở miền Nam, điển hỉnh là những sự việc xảy ra quanh ngày 30-4-75, như bài này, ở đây tôi đã viết bằng lời nhẹ nhàng nhất. Thay vì viết “châm biếm cay độc”, tôi chỉ viết là “mỉa mai”, thay vì ” kết án nặng nề” chỉ viết là “trách”, và thay vì “hận thù lâu dài tới 34 năm” chỉ viết một lời là “oán”.
Những chi tiết về cuộc đời Đõ Kh. đã được viết vắn tắt như thế, lấy từ chỗ nầy hay chỗ khác, có thể dẫn chứng. Riêng tiểu sử có ghi trên mạng chỉ cho biết Đỗ Kh. sinh ở Hải Phòng trước di cư, mà không ghi đã lớn lên ở miền Nam (tại sao?), do đó đã làm người đọc như tôi hiểu không đúng. Cần tìm biết về nhà văn, có khi càng sâu càng tốt, để hiểu tại sao họ viết như thế nào đó.
Chấp nhận cho Đỗ Kh. viết chuyện không tốt về cuộc đời, đầy chi tiết nhỏ, của nhiều người ở miền Nam với tên tuổi thật, dù những người đó còn sống hay đã chết, là xúc phạm đến thanh danh của họ và gia đình họ hiện có nhiều người còn sống, trong khi lại cho là không nên nói tới “đời tư của tác giả” Đỗ Kh., như thế là xét vấn đề đạo đức bằng hai tiêu chuẩn khác nhau.
Nhân đây, tôi đọc thấy ký giả Mỹ chụp tấm ảnh tướng Loan bắn anh “VC” bị trói ở Sàigòn năm 1968 đã ngỏ lời xin lỗi gia đình tướng Loan vì tấm ảnh đã tác hại lớn đến thanh danh của ông này. Biết bao kẻ bắn vào đầu người khác như vậy mà thế giới đâu có biết tới.
phê bình bài viết là xây dựng
để làm sáng tỏ những vấn đề
nhưng soi mói đời tư tác giả
là bất công một cách nhiêu khê
Tôi đồng ý với nhận xét của ông Thuỷ Vũ vì có ý nghĩ gần giống về nhà văn Dỗ Kh., coi như một nhân vật của công chúng. Thử nhắc lại cho ai viết tiểu sử nhà văn sau này. Theo ông Đặng Tiến, Đỗ Kh. học đại học sư phạm ở Pháp, nhưng tình nguyện đi lính (kiềng) cho VNCH, để không phải vào trường võ bị Thủ Đức thành sĩ quan (“ngụy”). Việc khỏi đi học tập cải tạo sau ngày giải phóng là nhờ chế độ Miền Nam có nhiều kẽ hở (hay tham nhũng), chứ không phải nhờ ơn cách mạng. Sau 30-4-1975, rất có thể gia đình Đỗ Kh. (ông ĐT cho là giàu có) bị đánh tư sản mại bản, và không chừng có người phải đi kinh tế mới, nhưng không thể đổ cho vì ông Nguyễn Văn Thiệu bỏ chạy hay tướng Dương Văn Minh đầu hàng. Vậy mà đọc Đỗ Kh., trong nhiều bài viết thấy có lòng oán, trách, hay mỉa mai chế độ miền Nam. Có lẽ , theo ý nghĩ riêng, trước 1975, ông và gia đình đứng bên ngoài miền Nam, không liên hệ gì, chớ cũng không phải đứng giữa hai bên tranh chấp lúc đó.
Không biết mấy viên đạn Khiêm được phát ở trung tâm huấn luyện Quang Trung đã làm gì mà Khiêm vẫn giữ mối hận Việt Nam Cộng Hoà mãi. Hằng năm cứ vào 30 tháng 4 là Khiêm đưa hồn ma VNCH ra đều đặn đến thế. Đồng ý VNCH có đầy đủ những khiếm khuyết và dầy dẫy những thói hư tật xấu. Nhưng ít nhất hệ thống ấy làm cho nhiều người dân miền Nam, trong số đó có Khiêm, có tâm hồn nhân bản.
Và nhất là hệ thống này vẫn còn tốt hơn vạn lần chế độ hiện hành. Thủ hỏi: nếu dòng họ Đỗ của Khiêm ở lại miền Bắc năm xưa, liệu không biết có tồn tại đến hôm nay. Hay đã xanh cỏ trên rừng Trường Sơn nào đó.
Ý kiến 2:
Em vốn láu táu, không khéo mình lại nhăn răng trước, nên tính đặt tên ngay bây giờ cho mỏ Bô-xit Dak-Nông là mỏ Bô-xit Nông Đức Mạnh, đường cao tốc Lào Cai – Nội Bài là đường Nguyễn Tấn Dũng, cầu Nguyễn Minh Triết cho cầu Cần Thơ mới sập năm ngoái để kỷ niệm sự động viên tức thì của chủ tịch nước “nếu không đạt tiến độ thi công là có tội với người đã chết”, còn bác Nguyễn Phú Trọng cứ im thin thít chả lẽ lại đặt tên thay cho Thị trong dãy Mít, Xoài, Ổi (theo em biết thì mỏ dầu ở VN được đặt tên hoặc trái cây hoặc thú vật như Rồng, Gấu v.v…).
Các bác biết các “đồng chí” nào ghét nhau, thù nhau thì đặt tên một người ở đầu đường, một người ở cuối đuờng, sống không đồng giường, chết sẽ đồng đường, đánh nhau khỏi cần siêu thoát.
Bác talaai “Hoan nghênh tinh thần thấy sai lại sửa, sửa không ngại sai” của bác Đỗ! Thế thì bác có càm ràm gì về các bác, các chú cứ sửa sai dài dài từ cải cách ruộng đất tới bây giờ không. Thế mà các bác, các chú này vừa chết đã “Ta thấy tên ta vạn nẻo đường” (bác Mai Thảo xí xóa nếu em nhớ nhầm nhé).
Đố các bác sẽ có đường Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng… không nào?
Thôi mà, Đỗ Kh. đã xin lỗi rồi thì thôi. Có điều Đ Kh. viết những chuyện lang thang của mình đọc được lắm, viết chi chuyện mình không nắm chắc. Đã gặp anh Sáu thì viết về anh Sáu đươc rồi, lang thang quá dễ bị “thương tích”.
Nỗi buồn làm cho người đọc thất vọng vừa nhen nhúm thì đã được niềm vui là các bạn cảnh giác xua tan !
Chiến tranh Việt Nam vào thời điểm những ngày kỷ niệm này, là một giai điệu xưa lãng đãng và trở về lảng vảng, với ca từ chữ mất chữ còn. Rât tiếc là hơn 30 năm sau, vẫn có nhiều chuyện chẳng ai biết hay ngược lại, một sự kiện người tai nghe thế này và kẻ mắt thấy thế kia.
Trong bài này (Tham vọng của anh Sáu), chỉ chắc có một điều được đề cập, là người xấu cũng khóc chứ không phải chỉ có nước mắt của người đẹp.
Tui cũng giống bác Vietnguyen, rất tin vào cứ liệu của bác Đỗ về chiến tranh Việt Nam, chừ thì cũng phải cẩn thận chút ít. Hoan nghênh tinh thần thấy sai lại sửa, sửa không ngại sai của bác Đỗ!
Đỗ Kh. viết: “Tôi thành thực xin lỗi độc giả và chuẩn tướng Lê Trung Tường vì tính cách vội vã theo trí nhớ lầu nhầu và bất khả tín của tôi nói chung và trong bài viết này nói riêng.”.
Chết mẹ tôi rồi! Vì đọc [các] bài viết trước của Đỗ Kh. làm tôi tin sái cổ.
Thôi từ giờ về sau mình phải tự xếp những gì Đỗ Kh. vào một tập mờ vậy. Đồng thời áp luôn hàm membership chừng 5% gì đó !