Atlas nói gì về Công hàm Phạm Văn Đồng?
27/04/2009 | 7:00 sáng | 27 Comments
Category: Vấn đề Biển Đông
Thẻ: Công hàm của TT Phạm Văn Đồng
Từ bài đầu tiên, xuyên suốt cho đến khi kết thúc cuộc tranh luận với Dương Danh Huy, còn tồn tại một nghi vấn trong lập luận của Trương Nhân Tuấn, tôi thấy cần phải làm sáng tỏ:
- “Hầu hết các atlas nước ngoài đều ghi nhận công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng”, điển hình là L’Atlas des Atlas của Courrier International.
- Từ khẳng định này, ông Tuấn kết luận “dư luận thế giới đã công nhận Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc là do hiệu lực của công hàm 14 tháng 9 năm 1958″.
I. “Hầu hết các atlas nước ngoài…” – HẦU HẾT?
Làm một khảo sát nhỏ với những atlas, tài liệu và các đầu sách về địa chánh trị tìm thấy ở Paris, có thể dẫn những quyển sau không nhắc tới công hàm đã nói dù có vẽ hoặc viết về Biển Đông Việt Nam:
- Le dessous des cartes: Atlas Géopolitique, Jean-Christophe Victor et al., Arte và Tallendier xuất bản, 2006-2007;
- L’Atlas, chuyên đề của nguyệt san Le Monde diplomatique. Các bản đồ tại trang 203 và 223 có chú thích rõ vùng biển “lưỡi bò” là “territoire ou espace maritime contesté“;
- L’Atlas géopolitique des espaces maritimes, Didier Ortolland và Jean-Pierre Pirat,Technip xuất bản, 2008 (gọi tắt là Atlas Technip). Chữ “Spratly” xuất hiện ở các trang vii, 18, 135, 139, 142, 143. “Paracel” được nhắc tới tại trang 138, 139, 142. Đây là quyển Trương Nhân Tuấn sử dụng để chụp lại các bản đồ minh họa sau hôm ông tuyên bố đã “đi thư viện tham khảo” (03/04/2009), đồng thời cũng nằm trong danh mục tham khảo của L’Atlas des Atlas (Courrier International);
- Atlas Hachette,2008. Bản đồ trang 98, vị trí quần đảo Trường Sa được chú thích bằng cụm từ khó hiểu “Îs Palawan“;
- World Atlas of Coral Reef, Mark Spalding et al., University of California Press, 2001. Quyển này bàn về Biển Đông ở các mục Spratly Islands, Tung-Sha (Dongsha Qundao) Reefs and the Paracel Islands và Vietnam and China. Nhận xét về tranh chấp Việt-Trung trên chủ quyền 2 quần đảo, các tác giả viết chung chung: “China claims a large number of reefs and coral islands scattered across the South China Sea, including all of the Spratly Islands, the Paracel Islands off Vietnam, and the Tung-Sha reefs towards Taiwan”(trang 291);
- Géopoltique: la longue histoire d’aujourd’hui, Yves Lacoste, Larousse 2006. Tiểu mục Les archipels de la Mer de Chine, trang 180-182, tác giả có nhắc lại đề nghị rằng nên gọi “Địa Trung Hải Á châu” thay vì “biển Nam Trung Hoa”;
- Atlas des relations internationales, Hatier;
- Le Territoire chinois, thèse của Valérie Poulpiquet, quyển 88 trong bộ Bibliothèque constitutionnelle et de science politique, LGDJ xuất bản. Đề cập đến vấn đề biên giới Việt-Trung trên biển, về Trường Sa tại các trang 84-90, mục Le conflit frontalier sino-vietnamien;
- Géopolitique de l’Asie, Vincent Thébault, Nathan xuất bản, 2006;
- An Atlas of World Affairs, Andrew Boyd, Joshua Comenetz, Routledge 2007;
- Dictionary of the Modern Politics of South East Asia, Michael Leifer, Routledge 2000. Các mục từ “Spratly”, “Paracel” và “South China Sea” đều không có chỗ cho công hàm đang đề cập;
- The Spratly Islands Dispute in the South China Sea: Problems, Policies, and Prospects for Diplomatic Accomodation, Christopher C. Joyner. Đây là bài nghiên cứu của một giáo sư, chuyên gia về công pháp quốc tế.
Ngoài danh sách tượng trưng trên đây, còn có thể ghi nhận các loại atlas địa lý thông thường không có bình luận kèm theo. Như vậy có thể tạm kết luận rằng [khẳng định của Trương Nhân Tuấn về]“Hầu hết các atlas nước ngoài[1] đều ghi nhận công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng” là một HUYỀN THOẠI.
II. Quốc tế ghi nhận thế nào về công hàm Phạm Văn Đồng
1. Điều trước tiên, không thể không nhắc qua l’Atlas des Atlas, le monde vu d’ailleurs en 200 cartes của Courrier International, Arthaud xuất bản; tức tài liệu Trương Nhân Tuấn đem ra làm dẫn chứng “điển hình”. Phần nói về Biển Đông nằm tại các trang 90-93 (xem hình). Tất cả những gì liên quan đến công hàm Phạm Văn Đồng xuất hiện trong box nhỏ trang 91 “vu du Vietnam” ([Biển Đông] nhìn từ Việt Nam), gói gọn trong nửa câu 21 chữ, và không còn cách nào có thể viết giản lược hơn:
“Mais le traité de paix signé en 1954 ne mentionne pas ces îles et la position vietnamienne est affaiblie par la reconnaissance, en 1958, de la souveraineté chinoise par le Premier ministre Pham Van Dong.”
Tạm dịch: “Nhưng hiệp định hòa bình ký kết hồi 1954 không đề cập đến những hòn đảo này và vị thế của Việt Nam (trong việc giành chủ quyền đảo – ND) bị yếu đi do sự thừa nhận, vào năm 1958, chủ quyền Trung Quốc bởi ông Thủ tướng Phạm Văn Đồng.“
Là thông tin không có tư cách để được đưa vào phần trình bày chính ở trang 90, bấy nhiêu thôi đủ thấy tính thứ yếu của chi tiết công hàm Phạm Văn Đồng, dưới mắt người làm sách, trong những tranh chấp về chủ quyền đảo ở Biển Đông.
Hơn nữa, bất cứ một nhận định nào căn cứ trên những dòng vắn tắt của một quyển sách thuộc loại phổ thông như vầy đều vô giá trị về học thuật và đương nhiên về pháp lý. Việc này cũng giống như lấy sách giáo khoa trung học ra làm cơ sở tranh luận về lịch sử.
Mất bao nhiêu đường đất cho một sự diễn dịch từ “vị thế của Việt Nam bị yếu đi” thành ra “dư luận thế giới đã công nhận HS&TS của Trung Quốc là do hiệu lực của…” ? “Affaiblie” / “bị yếu đi” đồng nghĩa với “công nhận… là do hiệu lực…” ?


Atlas des Atlas (Courrier International), trang 90, 91
2. Về những tài liệu khác có ghi nhận công hàm Phạm Văn Đồng, có thể kểcác quan điểm sau (trường hợp bà Monique Chemillier Gendreau xin dành cho phần tiếp theo; tài liệu chỉ đề cập theo lối nhựt trình, xin miễn không bàn tới):
- Chi-kin Lo, China’s Policy towards Territorial Disputes: The Case of the South China Sea Islands, Routledge 2005;
- Brantly Womack, China and Vietnam: The Politics of Asymmetry, Cambridge University Press 2006.
Quý vị trên đây mô tả công hàm Phạm Văn Đồng cùng với câu chuyện Ung Văn Khiêm theo phiên bản của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, chủ yếu nhằm mục đích xác định quan điểm thực sự của Bắc Việt trong những thập niên 1950-1960 về các tranh chấp ở Biển Đông, trong mối quan hệ “bất đối xứng” với Bắc Kinh. Điểm nầy cũng phù hợp với Atlas Technip đã dẫn ở phần 1, tuy quyền nầy không quan tâm tới công hàm.
Trích Chi-kin Lo: “It’s difficult to tell if China knew of Hanoi’s real intentions before the battle for the Paracels. It appears that although sovereignty over the islands was not in dispute publicly, the Chinese had skilfully led the North Vietnamese officials to recognizing China’s sovereignty over the islands, which could be used to support its position in future arguments. By 1973, the gathering momentum of troubles over the land border, and the raising of the issue of division of the Tonkin Gulf, could have made China suspicious of Hanoi’s position on the islands as well…”. Tạm dịch: “Khó có thể xác định liệu Trung Quốc có nắm được ý đồ thật của Hà Nội trước trận hải chiến Hoàng Sa. Một điều rõ ràng rằng dầu không có tranh chấp công khai trên hồ sơ chủ quyền đảo, người Hoa đã khéo léo gài Bắc Việt vào thế công nhận quyền của Trung Quốc sở hữu các hòn đảo. Tới 1973, sự gia tăng các vấn đề ở biên giới trên bộ và trong phân định Vịnh Bắc Việt đã làm Trung Quốc nghi ngờ quan điểm thực sự của Bắc Việt về các hòn đảo.”
Trích tiểu mục “Le différend sino-vietnamien” trang 139 Atlas Technip, theo đó “Hanoï et Pékin entretenaient un différend portant sur leurs frontières terrestre et maritime mais le soutien apporté par la Chine au Nord Viêt-Nam pendant la seconde guerre d’Indochine a longtemps occulté cette rivalité”. Tạm dịch: “Hà Nội và Bắc Kinh duy trì quan điểm khác biệt trên hồ sơ biên giới đất liền và [biên giới] biển, song các hỗ trợ của Trung Quốc cho Bắc Việt suốt cuộc chiến Đông Dương lần hai đã che lấp sự đối đầu.”
Không một đoạn nào cho phép suy diễn quan điểm của tác giả hay của dư luận (khác với Bộ Ngoại giao Trung Quốc) về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa (thuộc về ai và do hiệu lực của cái gì).
III. Phương diện pháp lý
La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys của Monique Chemillier-Gendreau (MC-G) được coi như nguồn lập luận quan trọng nhất trên hồ sơ này. Với tư cách chuyên gia công pháp quốc tế, bà có thẩm quyền đưa ra các khẳng định có cơ sở pháp lý. Vì vậy, quan điểm của Chemillier-Gendreau nhận được sự tán thành của nhiều vị, trong đó có GS Nguyễn Văn Canh (cựu phụ tá Khoa trưởng Luật khoa Đại học Saigon), TS sử học Nguyễn Nhã và TS luật Từ Đặng Minh Thu.
Tóm tắt 3 luận điểm Chemillier-Gendreau:
- a) Công hàm Phạm Văn Đồng tự giới hạn trong việc thừa nhận bề rộng 12 hải lý của lãnh hải Trung Quốc. “Việt Namtuyên bố công nhận đòi hỏi của Trung Quốc” (về chủ quyền đảo) là một khẳng định vô căn cứ, mặc dầu sự im lặng của Bắc Việt có thể bị diễn giải là ngầm ưng thuận (its silence can be interpreted as acquiescence).
- b) Bắc Việt Nam không giữ chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa vào 1956 cho nên không thể gắn kết các tuyên bố của nhà cầm quyền Bắc Việt với vấn đề chủ quyền đảo.
- c) Nước Việt Nam thống nhất kế thừa chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa từ chánh quyền Việt Nam Cộng hòa.
Bỏ qua điểm (a) là một thiếu sót trong bài viết ngày 01/04 của Trương Nhân Tuấn làm sai lệch cường độ sự việc. Cũng trong bài nầy, ông viết: “Một vài nhà nghiên cứu Việt Nam dựa trên thuyết này (estoppel) để khai triển thêm, chứng minh công hàm của ông Đồng không có giá trị về chủ quyền của Trung Quốc ở HS và TS”.
Thêm một dẫn chứng cho cách đọc-hiểu-viết đại khái của ông này khi gọi “thuyết“ của bà Chemillier-Gendreau là “estoppel“. Đọc kỹ lại bài của TS Từ Đặng Minh Thu, sẽ thấy Jian-Ming Shen nêu “estoppel“ để khẳng định những tuyên bố [trong công hàm Phạm Văn Đồng và lời ông Ung Văn Khiêm] có giá trị bó buộc đối với Việt Nam. Tuy nhiên, TS Thu đã phản bác mấy ý này, xin phép không lặp lại ở đây. Tóm lại, “estoppel“ không ăn nhập gì đến luận điểm của MC-G.
Mặt khác, ý kiến của Trương Nhân Tuấn chỉ tập trung phủ nhận điểm (c), tức “lý thuyết kế thừa“ của MC-G :
d) Chế độ VNDCCH phủ nhận chế độ VNCH, xem thực thể chính trị này là “ngụy”.
e) Sau 1975 không hề có một buổi lễ bàn giao chính quyền giữa VNCH và VNDCCH hay với MTDTGPMN.
f) Không có bàn giao quyền lực làm sao có kế thừa?
Lật lại lịch sử cận-hiện đại, kết thúc cuộc nội chiến Nam-Bắc ở Hoa Kỳ hồi thập niên 1860 và cuộc nội chiến Quốc-Cộng ở Trung Hoa năm 1949, hoặc là sự đầu hàng của liên minh miền Nam, hoặc là sự rút chạy của phe Tưởng Giới Thạch. Trương Nhân Tuấn có thể trích sử liệu ra một buổi lễ bàn giao chánh quyền trong hai trường hợp này không? Và có sự “tiếp nối chính quyền” ở Hoa Kỳ và Trung Quốc không?
Nhắc lại Việt Nam thời kỳ 1775-1805, đã từng có 3 chánh quyền tồn tại nối tiếp và được Trung Hoa Mãn Thanh công nhận và phong “An Nam Quốc Vương“ cho 3 người đứng đầu : Lê Chiêu Thống, Quang Trung và Gia Long. Để ý rằng chữ “ngụy“ do triều Gia Long sử dụng để gọi chánh quyền Nguyễn Tây Sơn, cho nên không phải là sáng tác độc quyền của CHXHCNVN.
Điều đó cho thấy tính “kế thừa chính quyền“ (của phe thắng trận sau nội chiến) là logique hiển nhiên, được Trung Hoa tiền hiện đại thừa nhận. Lập luận của Trương Nhân Tuấn thiếu căn cứ pháp lý và không phù hợp lý lẽ thông thường.
Nhận xét cuối cùng cho phần nầy, từ Monique Chemillier-Gendreau cho đến Chi-kin Lo và Brantly Womack đều chỉ xét tới công hàm Phạm Văn Đồng trong quá trình tìm hiểu ý chí (intention) của VNDCCH trong việc xác lập chủ quyền tại Hoàng Sa-Trường Sa. Công hàm này có giá trị như lời tuyên bố, lời hứa không có tính chất ràng buộc (theo Từ Đặng Minh Thu) của một quốc gia. Nó không có giá trị thừa nhận hay chuyển nhượng Hoàng Sa-Trường Sa cho quốc gia khác.
IV. Vài chuyện khác
Về nhóm giải pháp của Dương Danh Huy và Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, tôi vẫn hy vọng có thêm nhiều phản biện hơn nữa để hoàn thiện, nhất là ý kiến của các chuyên gia có thẩm quyền. Có thể còn có điểm này điểm kia cần phải bàn lại nhưng từ góc nhìn cá nhân, tôi thấy ở đó (nhóm giải pháp DDH) tính khả thi và khả dĩ chấp nhận. Có gì gần gũi giữa tinh thần của nhóm giải pháp này và ứng dụng của lý thuyết trò chơi (Game Theory)?
Với Trương Nhân Tuấn, tôi muốn góp ý một điều: Thảo luận với Dương Danh Huy vừa tạm kết thúc, việc tranh thủ lặp lại luận điệu “có người viết về Biển Đông theo lối dọn sân cho nhà nước… ” trong bài viết chỉ liên quan đến báo Du Lịch và Ải Nam Quan, thực sự là hành xử không đẹp.
Ngày 23/04, độc giả Hà Minh có nhận xét “… phần vì quá tự tin vào những lập luận của mình (tức Trương Nhân Tuấn), tuy nhiên những lập luận ấy cũng có những sơ hở nhất định…”. Tới đây, tôi chợt nhớ câu chuyện “Hoàng đế cới truồng”.
© 2009 Nghiêm Quang
© 2009 talawas blog
[1] Ý kiến 17/04 có bổ sung mấy chữ “Atlas về Géopolitique”.
@Bác Lưu Linh,
Tôi có tìm thấy 1 số phiên toà có 1 số khía cạnh tương tự. Eg, tranh chấp Đông Greenland giữa Đan Mạch & Na Uy có một số nguyên tắc có thể liên quan. Nhưng chưa thấy phiên toà nào tương tự nhiều.
V/d này cần các nhà luật học VN bắt tay vào việc.
Khổ nỗi trong nước chì chưa được quảng bá rộng rãi v/d này. Một số đoạn về CH PVD trong các bài báo bị kiểm duyệt. Mặc dù bây giờ báo chí VN được đăng nhiều vê HSTSBD, vẫn chưa có bài nào về CH PVD.
Giống như xem phim tập 1 mà không xem tập 2.
Còn ở nước ngoài thì CH PVD được nói tới rất nhiều, nhưng phần lớn là nói kiểu “Công hàm bán nước”.
Ai lý luận là CH PVD không có hiệu lực ràng buộc VN phải chấp nhận chủ quyền TQ d/v HSTS (như bà Từ Đặng Minh Thu) thì bị bảo là “chạy tội cho CS”, “tự sướng”, vv.
Tôi không khẳng định là “VN bị ràng buộc” là đúng hay là “VN không bị ràng buộc” là đúng. Tôi cho là chúng ta chưa biết đủ để có thể khẳng định. Nhưng tôi cho là người Việt cần có thể bàn về CH PVD một cách tự do, nghiêm túc, phi chính trị, phi chụp mũ.
Hình như 2 bản đồ bác Hoà gửi là của ĐH Texas.
Atlas có nhiệm vụ vẽ yêu sách của các nước. Nếu họ vẽ lưỡi bò và ghi đó là yêu sách của TQ (eg “China’s claim”) thì cũng bình thường và không có nghĩa là họ công nhận chủ quyền của TQ.
TQ cũng có thể nghị kiến hay áp lực các NXB vẽ lưỡi bò. Điều đó cũng có ích lợi tuyên truyền cho TQ. Người đọc chỉ thấy TQ yêu sách, không nước nào yêu sách, thập niên này sang thập niên khác, người ta có thể tưởng vùng biển bên trong là của TQ.
Ngoài ra, sau vài chục năm nữa, TQ có thể tuyên truyền là “TQ đã claim 100 năm rồi, bản đồ nào cũng in, 100 năm là đủ để thành biển lịch sử”. Có học giả TQ lý luận kiểu đó.
Ngoài ra, có 1 vài bản đồ quốc tế bắt đầu ghi “Xisha (Paracels)” hay “Paracels (Xisha)”. Đây là chiều hướng có hại cho VN. Nhưng tôi không nghĩ đó là vì CH PVD mà là TQ đang chiếm đóng HS, có thể vì TS có ngời làm việc với NXB mà VN khì không, có thể vì TQ hoạt động mạnh trong các lãnh vực quốc tế hơn VN.
Nhưng tôi nghĩ CP và tất cả những người VN quan tâm tới HSTSBD cần làm gì tích cực để chống lại chiều hướng có hại đó, thay vì ngồi đổ lỗi, phê phán CH PVD mà không làm gì tích cực.
Một trong những dự án của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông là sưu tầm những bản đồ dùng tên Xisha/Nansha và viết thư yêu cầu NXB dùng tên quốc tế, hoặc dùng cả 2 tên TQ và VN.
Bác nào biết về bản đồ nào như trên thì xin cho biết.
Ông Hòa nói nhiều bản đồ thế giới về Biển Đông “vẽ hình lưỡi bò TQ THEO YÊU CẦU CỦA TQ”. Tôi hỏi ví dụ, ông Hòa đưa ra bản đồ của… CIA! Vậy theo ông Hòa, TQ đã yêu cầu CIA vẽ lưỡi bò, và CIA đã ngoan ngoãn nghe lời?
Dĩ nhiên là không phải. CIA vẽ lưỡi bò thì cũng giống những người VN như ông DD Huy hay ông Vũ Hữu San vẽ lưỡi bò, tức là để cảnh giác trước tham vọng của TQ.
Cám ơn Ông Huy, Tuấn và Hòa và các vị khác đã cung cấp thêm tin tức về vấn đề HSTS và Biển Đông.
Dựa trên những tin tức được cung cấp thì “Công Hàm Phạm Văn Đồng” là một chứng từ làm giảm sức thuyết phục chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo nêu trên. “Công Hàm Phạm Văn Đồng” sẽ gây ra bao nhiêu khó khăn hay thiệt hại bao nhiêu và thiệt hại gì cho hồ sơ pháp lý thì vẫn chưa thấy ai nói tới. Bà Monique cho rằng “Công Hàm Phạm Văn Đồng” không có giá trị về pháp lý dựa trên luận điểm đã nêu như trên nhưng bà ta cũng đã nhận định rằng công hàm đã làm lu mờ vị thế của Việt Nam đối với vấn đề chủ quyền hai quần đảo. Tuy nhiên, Công hàm đó lu mờ những điểm gì và tại sao thì bà ấy không nói tới.
Không biết Toà Án Công Lý Quốc Tế đã phán xét những trường hợp tranh chấp chủ quyền mà trong đó có những trường hợp vấn đề tương tự như vấn đề “Công Hàm Phạm Văn Đồng” và cách diễn giải của họ như thế nào đối với vấn đề đó.
Riêng việc Ông Tuấn có nhận định “hầu hết” những Atlas đều ghi nhận Công hàm và dư luận quốc tế công nhận do hiệu lực của Công Hàm đó không có cơ sở lắm. Việc ông “quan trọng hóa” Công hàm không làm giải thiểu những luận điểm khác của ông trong vấn đề tranh chấp chủ quyền.
Một lần nữa, cám ơn các vị đã giúp mở mang kiến thức.
Sau đây là (2) bản đồ Biển Đông hay Nam Hải (South China Sea) không liên quan gì đến tranh chấp, nhưng vẫn vẽ hình “lưỡi bò” TQ. Tôi thấy khi dùng “Google ” tìm “South China Sea”. Dưới bản đồ có ghi nguồn và năm vẽ hay sao chép (1988 và 2007). Thật ra chỉ từ một nguồn (cơ quan CIA), vẽ năm 1988.
Điều tôi muốn nói là TQ, hoặc từ chính phủ hay các học giả của họ, tìm cách đưa các điều TQ đòi hỏi ở Biển Đông vào những bản đồ thế giới, và sau đó được nhiều người, cơ quan, tổ chức, nhà xuất bản hay in ấn, sao chép và phổ biến.
http://en.wikipedia.org/wiki/File:Schina_sea_88.png
File:Schina sea 88.png
From Wikipedia, the free encyclopedia
Map of the South China Sea
Source Asia Maps — Perry-Castañeda Map Collection: South China Sea (Islands) 1988
Date 1988(1988)
Author U.S. Central Intelligence Agency
Sau đây là bản đồ tương tự, thấy ở chỗ khác, ghi ngày vẽ và từ nguồn khác (tuy sao chép từ bản đồ trên):
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/archive/a/a4/20090401134010%21Schina_sea_88.png
Source: [http://www.lib.utexas.edu/maps/] from the [http://www.lib.utexas.edu/maps/ Perry-Castañeda Library Map Collection]. {{PD-USGov-CIA}} )
(TT)
Hai tuyến phòng thủ lập luận đó, tôi đoán có thể là:
a) CH PVĐ không hội tụ đủ các điều kiện để làm cho VNDCCH mất quyền tranh chấp HSTS với TQ. Lý lẽ như bà Từ Đặng Minh Thu đã phân tích về estoppel. Có thể Toà chấp nhận, có thể không.
b) CHXHCNVN thừa kế 2 điều có thể trái ngược nhau:
b.1 Chủ quyền đ/v HSTS từ VNCH.
b.2 CH PVĐ từ VNDCCH, mà CH này có thể bao hàm trách nhiệm trong pháp lý quốc tế “Không tranh chấp HSTS với TQ”.
Nếu ra Toà thì Toà sẽ phải xét b.1 cần được tôn trọng hơn hay b.2.
Cá nhân tôi đoán là Toà sẽ cho là b.1 được tôn trọng hơn, nhưng tôi không thể khẳng định điều đó.
Vì vậy tôi nghĩ xác suất Toà xử VN thắng là 60%.
Đề nghị kiểu “kêu gọi CHXHCNVN vô hiệu hoá CH PVĐ” không có tác dụng gì. QH CHXHCNVN đã không công nhận, đã phủ định quan điểm “CH PVĐ công nhận HSTS là của TQ” rồi, thì đâu cần “vô hiệu hoá”.
Đề nghị kiểu “CHTBCNVN vô hiệu hoá CH PVĐ” cũng không có tác dụng gì. Vì nếu TQ và Toà không chấp nhận việc QH CHXHCNVN phủ định quan điểm “CH PVĐ công nhận HSTS là của TQ” thì họ cũng sẽ không chấp nhận CHTBCNVN vô hiệu hoá nó.
@Bác Chiêu Anh
2. Công hàm 1958 của PVĐ cũng như các tuyên bố, bài báo của NN-VNDCCH từ 1956-1969 không có giá trị pháp lý quốc tế vì hai quần đảo HS-TS thuộc quyền quản lý của NN-VNCH từ 1955-1975.
Tôi nghĩ lập luận trên không đúng.
CH PVĐ có thể có giá trị pháp lý quốc tế ràng buộc VNDCCH không được tranh chấp với TQ chủ quyền đối với HSTS.
Thí dụ minh hoạ:
A và B tranh chấp căn nhà X.
C không có thẩm quyền đối với X.
Giả sử C ký hợp đồng với A: “C công nhận X thuộc về A, A cho C điều Y gì đó”.
Hợp đồng này có ý nghĩa gì?
1. Dĩ nhiên nó không thể làm cho B mất quyền sở hữu đối với X.
2. Dĩ nhiên riêng nó không thể làm cho X thuộc về A. (Vì X có thể thuộc về B, D, E, F).
3. Nhưng nó có thể ràng buộc C không được tranh chấp X với A.
Logic này được thể hiện trong phiên toà quốc tế phân xử tranh chấp chủ quyền Đông Greenland: Na Uy không làm cho Đông Greenland thuộc về Đan Mạch nhưng làm cho NU quyền tranh chấp Đông Greenland với ĐM.
Trong trường hợp HSTS, CH PVĐ:
1. Không làm cho VNCH hay Philippines mất chủ quyền đ/v HSTS.
2. Riêng nó không làm cho HSTS thuộc về TQ.
3. Nhưng có thể làm cho VNDCCH mất quyền tranh chấp HSTS với TQ.
Tôi nghĩ VN phải đối phó với (3) bằng 2 tuyến phòng thủ lập luận khác…
Hòa Nguyễn viết câu tiếu lâm đó coi như cũng gián tiếp đồng ý rằng khẳng định của Trương Nhân Tuấn là chuyện phịa.
Ông Trương Nhân Tuấn nói rằng hầu hết atlas thế giới đăng công hàm PVĐ, câu đó đã là tiếu lâm. Nhưng ông Hòa Nguyễn tìm cách chống chế cho sự bịa đặt ba xạo của TN Tuấn bằng câu này thì càng tiếu lâm hơn: “Vì vậy, nếu nhiều Atlas chưa in (do ảnh chụp được phép phổ biến chưa tới 1 năm) thí rồi sẽ in thôi, như bây giờ nhiều bản đồ thế giới về Biển Đông có vẽ hình “lưỡi bò” TQ, theo yêu cầu của TQ.” (Ngoài cái tiếu lâm kiểu “wishful thinking”, hình như ông Hòa Nguyễn chưa bao giờ thấy một cuốn atlas và không biết atlas là gì!)
Và cũng xin ông Hòa Nguyễn cho vài ví dụ bản đồ thế giới về Biển Đông có vẽ hình “lưỡi bò” TQ THEO YÊU CẦU CỦA TQ (ngoài bản đồ của TQ hay Đài Loan, dĩ nhiên). Có nhiều bản đồ tôi đã thấy, như chính các ông Vũ Hữu San, DD Huy và BBC tiếng Việt hay trưng ra làm bằng chứng cho tham vọng của TQ, nhưng chưa thấy ai nói là những bản đồ đó vẽ THEO YÊU CẦU CỦA TQ cả.
BBCVietnamese.com vừa mới loan tin rằng “nhà máy đóng tàu Admiralty ở St. Petersburg sẽ thực hiện hợp đồng cung cấp sáu tàu ngầm hạng Kilo cho Việt Nam.” Nếu tin này chính xác, thì nó thật là một tin vui cho việc phòng thủ những hải đảo thuộc quần đảo TS còn nằm trong tay VN. Kinh nghiệm Iraq 2003 và Georgia 2008 cho thấy tiếng nổ của bom đạn lúc nào cũng mạnh hơn tiếng nói của công pháp quốc tế. Do đó việc hải quân VN sẽ được trang bị bằng tiềm thủy đỉnh tương đối tối tân là một việc đáng mừng. Khi đất hay biển đã mất vào tay một quốc gia mạnh hơn mình thì có lẽ phải chờ đến Tết Congo mới có thể đòi lại được bằng lý lẽ của pháp luật trước một trọng tài quốc tế. Vì vậy cho nên phải giữ cho được những gì mình đang có trong tay… Tôi chỉ phát biểu theo suy nghĩ nông cạn của một độc giả bình thường, đừng có nói tôi dọn đường cho CSVN cống HS cho TQ như Chế Mân đã từng cống 2 châu Ô, Lý cho Đại Việt… 🙂 (T.C.Đ. Trường 1989 cho rằng vùng đất này đã bị ĐV chiếm đóng từ lâu và cuộc hôn nhân CM-Huyền Trân chỉ là một thủ đoạn ngoại giao thể hợp thức hóa một việc đã rồi. Suy luận này có vẽ hợp lý hơn nhận định của Hoàng Lại Giang, người cho đến năm 2009 còn hạ bút viết rằng “[v]ua Chế Mân khi được vua Trần Anh Tông gả Huyền Trân Công chúa liền tặng cho ta hai Châu ô, Lý.”).
Ông Huy vừa nhận xét: cho Công hàm chỉ nhìn nhận hải phận 12 HL của TQ, chứ không nói nhìn nhận chủ quyền TQ trên HS & TS, là lý lẽ của trẻ con.
Tôi không nhớ tôi có nói đó là lý lẽ của trẻ con hay không, nhưng tôi cho là không thể chối bỏ nằng cách nói rằng CH PVĐ chỉ nói về bề rộng 12 HL của lãnh hải của TQ, rằng nó không nói gì về chủ quyền d/v HSTS.
Tôi cũng có cùng quan điểm với ông TN Tuấn (và có lẽ là với rất nhiều người khác) là chúng ta cần phải chống lại những ảnh hưởng của CH PVĐ, nhưng có ý kiến khác với ông TN Tuấn về phương pháp nào có tác dụng trong việc chống lại chúng.
Theo các tư liệu hiện có và cuộc tranh luận vừa qua, chúng ta cần nhận ra một số điểm sau:
1. Công hàm 1958 của PVĐ cũng như các tuyên bố, bài báo của Nhà nước VNDCCH từ 1956-1969 công nhận trực tiếp hay gián tiếp đòi hỏi chủ quyền của TQ đối với hai quần đảo HS-TS.
2. Công hàm 1958 của PVĐ cũng như các tuyên bố, bài báo của NN-VNDCCH từ 1956-1969 không có giá trị pháp lý quốc tế vì hai quần đảo HS-TS thuộc quyền quản lý của NN-VNCH từ 1955-1975.
3. Lịch sử sẽ phán xét Công hàm 1958 của PVĐ cũng như các tuyên bố, bài báo của NN-VNDCCH từ 1956-1969 liên quan đến hai quần đảo HS-TS.
4. Các Atlas từ 1974-2009 liên quan đến hai quần đảo HS-TS không đại diện cho công pháp quốc tế.
Mong các bên trong cuộc tranh luận tập trung sức lực và trí tuệ vào một vấn đề thiết thực hơn: Kêu gọi NN-VN quốc tế hoá cuộc tranh chấp liên quan đến hai quần đảo HS-TS.
Vài chuyển biến được ghi nhận trên báo chí về quần đảo HS trong thời gian qua.
Công hàm của TT Phạm Văn Đồng chẳng những được nhắc tới, mà còn được chụp và in lại tại Wikipedia tiếng Anh: en.wikipedia.org/wiki/Spratly_Islands. Có lẽ được phổ biến như vậy chỉ từ tháng 9-2008, vì chú thích ghi công hàm này được phép phổ biến ra ngoài công chúng sau 50 năm theo luật của CHXHCN Việt Nam. Trang Wiki cũng nhắc lại cả chi tiết nhỏ như Công hàm được viết ngày 14-9-1958, và đăng tải trên báo Nhân Dân ngày 22-9-1958.
Tất cả điều đó cho thấy bàn tay của chính phủ và các học giả Trung Quốc giúp cho sự phổ biến rộng rãi này, vì có lợi cho họ trong tranh biện với VN về chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa. Vì vậy, nếu nhiều Atlas chưa in (do ảnh chụp được phép phổ biến chưa tới 1 năm) thí rồi sẽ in thôi, như bây giờ nhiều bản đồ thế giới về Biển Đông có vẽ hình “lưỡi bò” TQ, theo yêu cầu của TQ.
Ông Huy vừa nhận xét: cho Công hàm chỉ nhìn nhận hải phận 12 HL của TQ, chứ không nói nhìn nhận chủ quyền TQ trên HS & TS, là lý lẽ của trẻ con. VN không thể chối bỏ nội dung công hàm dễ dàng như vậy, vì công hàm viết VN “tôn trọng quyết định ấy (của TQ)” và tiếp theo “triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc”, khi tuyên bố của TQ về hải phận 12 HL bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Thử đề nghị: quốc hội VN ra quyết nghị cho công hàm 1958 hết hiệu lực, vì luật biển quốc tế đã thay đổi (từ hải phận 12 HL thời đó nay cho EEZ tới 200 HL, nên chính tuyên bố TQ tự hết giá trị). VN huỷ bỏ tất cả quyết định, cam kết quốc tế nào từ trước khác với UNCLOS
Cũng nên nhắc lại hai khẳng định tiếp theo của TN Tuấn:
“Nhiều người không tin rằng các Atlas trên thế giới ghi nhận việc này. Thực ra tất cả các cuốn Atlas mà tôi có tham khảo, sách nào cũng có ghi, khác nhau là phương cách ghi nhận. Thông thường là cách ghi nhận là như lối ghi nhận của bà Monique Chemillier-Gendreau trong cuốn La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys: trong thời kỳ chiến tranh, e ngại phật lòng đồng minh, nên VNDCCH có cùng quan điểm với Trung Quốc về chủ quyền HS&TS. Nhưng có một số ghi thẳng do hiệu quả công hàm của ông Phạm Văn Đồng.” (http://www.talawas.org/?p=2123)
(Thực ra, cuốn Monique Chemillier-Gendreau không phải là atlas!)
“Nếu ông [PQ] Tuấn yêu cầu đàng hoàng thì tôi có thể đưa ít nhất 18 bằng chứng về các Atlas cho ông thấy, đủ các nước: HK, Anh, Pháp, Nhật, Đức, Ý, kể cả Úc… ở các năm 2007, 2008. Ở đây không tính các Atlas của Trung Quốc.” http://www.talawas.org/?p=2692&cpage=2#comments