talawas blog

Chuyên mục:

Tiền Vệ và tự do tư tưởng và diễn tả cho nghệ thuật Việt Nam đương đại

23/04/2009 | 4:22 sáng | 22 Comments

Tác giả: Hoàng Ngọc-Tuấn

Category: Chính trị - Xã hội, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: >

Dưới đây là bản dịch tiếng Việt của bài tham luận “TIEN VE and Freedom of Thought & Expression for Contemporary Vietnamese Arts” do Hoàng Ngọc-Tuấn đọc tại hội nghị quốc tế “Echoes of a War” trong cuộc triển lãm NAM BANG!, tại Casula Powerhouse Arts Centre, ngày 17/04/2009. Bản dịch này đã được đọc trong cuộc toạ đàm “Thơ và Nhạc thời chiến ở Việt Nam”, tại Casula Powerhouse Arts Centre, chiều ngày 19/04/2009.

——————

Bất kỳ chế độ độc tài nào cũng sợ sự phản kháng. Vì sợ sự phản kháng, nó ra sức đàn áp tự do tư tưởng và diễn tả. Nó không chấp nhận bất kỳ ý nghĩ nào, tiếng nói nào, cách nói nào khác hay ngược lại với những gì nó cho phép. Nó muốn mọi công dân đều tin tưởng tuyệt đối vào nó, ca ngợi nó, hoặc chí ít, giữ im lặng và đi theo con đường nó đã vạch ra. Không ai được nghi ngờ. Không ai được thắc mắc. Với tham vọng duy trì sự tồn tại của nó một cách trường cửu, chế độ độc tài không chỉ muốn xoá bỏ mọi ý nghĩ phản kháng đương thời, mà, quan trọng hơn, nó còn muốn làm tác giả độc quyền của lịch sử. Đối với nó, lịch sử phải là một văn bản vĩnh cửu xác định rằng nó là chế độ tuyệt hảo nhất, và những gì nó đã làm, đang làm và sẽ làm là những gì đúng đắn nhất, tốt đẹp nhất. Với những tham vọng đó, nó ra sức xoá sạch mọi chất liệu có thể được dùng để viết bất cứ một lịch sử nào khác. Đó là lý do tại sao các chính phủ độc tài không chỉ kiểm duyệt những tin tức truyền thông hàng ngày, mà họ còn nỗ lực kiểm duyệt, sửa đổi hoặc huỷ diệt cả những văn bản hư cấu và những tác phẩm nghệ thuật, những thứ có khả năng tồn tại dài lâu hơn mọi chế độ chính trị.

Chính sách “đổi mới” và “mở cửa” ở Việt Nam đã bắt đầu cách đây hơn 20 năm, nhưng cho đến hôm nay, trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật sự “đổi mới” và “mở cửa” ấy vẫn không thực sự cho phép giới nghệ sĩ được tự do tư tưởng và diễn tả. Cho đến hôm nay, không một cá nhân nào ở Việt Nam được tự ý xuất bản hay trưng bày tác phẩm của mình nếu không có giấy phép của chính quyền. Ở Việt Nam không một nhà xuất bản tư nhân nào được cho phép thành lập. Mọi tác phẩm nghệ thuật, ngay cả một bài thơ ngắn hay một một bức tiểu hoạ, đều phải qua hệ thống kiểm duyệt trước khi được xuất bản hay trưng bày. Thậm chí những tác phẩm đã được phép xuất bản hay trưng bày vẫn có thể bị thu hồi và cấm đoán bất kỳ lúc nào.

Một số người cho rằng giới nghệ sĩ ở Việt Nam hôm nay “muốn làm gì thì làm, miễn đừng đụng đến chính trị.” Nói như vậy là quá lạc quan và không thực sự chính xác. Đã có rất nhiều tác phẩm không được xuất bản hay trưng bày, mặc dù các tác giả của chúng không hề muốn đụng đến chính trị. Điều nguy hiểm là mọi thứ đều có thể bị diễn dịch thành ý đồ chính trị. Nếu cuốn tiểu thuyết của bạn có quá nhiều đoạn kể về những hiện tượng xã hội tiêu cực như tham nhũng, hối lộ, đĩ điếm, v.v., thì có thể bạn không được phép xuất bản, bởi vì, dưới con mắt của các cán bộ kiểm duyệt, cuốn tiểu thuyết của bạn ám chỉ sự sai lầm và thất bại của nhà cầm quyền. Đảng và Nhà nước chỉ muốn thấy giới nghệ sĩ ra sức ca tụng chế độ và ra sức tô vẽ một hình ảnh giả tạo về một xã hội Việt Nam tuyệt vời, nơi đó nhân dân sống trong tự do, hạnh phúc và công bình, nơi đó không hề có sự đàn áp, bóc lột, bất công, tham nhũng!

Cái ước muốn này của Đảng và Nhà nước thì tất nhiên đi ngược lại bản năng sáng tạo và diễn tả của nghệ sĩ. Đảng và Nhà nước muốn hoàn toàn kiểm soát và điều khiển công việc sáng tạo của nghệ sĩ, nhưng nghệ sĩ lại luôn luôn muốn được tự do nhiều hơn. Sự xung đột này khiến Đảng và Nhà nước không ngừng cảm thấy bất an, và nghệ sĩ không ngừng cảm thấy bị ức chế. Trước kia, lúc Việt Nam chưa mở cửa ra trước thế giới, thì Đảng và Nhà nước dễ dàng siết chặt gọng kềm. Bây giờ thì khác: khi Việt Nam phải mở cửa, giao lưu kinh tế và thương mại với thế giới để đất nước có thể sống còn (và để tầng lớp lãnh đạo có thể làm giàu), thì Đảng và Nhà nước không thể quá dễ dàng siết chặt gọng kềm như trước, nên họ đành nương tay một chút. Thế nhưng, giới nghệ sĩ vẫn chưa có thể nhân cơ hội đó mà giành lại tự do, vì họ biết Đảng và Nhà nước vẫn có thể bất chấp dư luận thế giới để nhanh chóng nghiền nát bất kỳ cá nhân nào dám công khai đi ngược chiều. Tình hình này làm sinh ra một thứ thoả hiệp ngầm: chúng tôi thả lỏng một chút cho các anh, nhưng các anh phải biết đâu là giới hạn, và trong cái giới hạn đó, các anh có thể sáng tác và kiếm sống. Tất cả nghệ sĩ ở Việt Nam đều biết rõ cái giới hạn ấy, và hầu hết đành chấp nhận nó, để tránh nguy hiểm.

Nếu chúng ta quan sát những tác phẩm văn học được cho phép chính thức xuất bản, chúng ta sẽ thấy:

– Các ý tưởng bất đồng chính kiến, nếu có, đều được ẩn dụ hoá đến mức tối đa và cái thông điệp trở nên rất mơ hồ, có thể được diễn dịch theo nhiều cách khác nhau. Nếu tác phẩm bị cơ quan kiểm duyệt đặt vấn đề, thì tác giả có thể giải thích theo chiều hướng có lợi cho Đảng và Nhà nước.

– Những biểu hiện tiêu cực về văn hoá, những hành vi sai trái, nhũng lạm, bất công, tàn ác, nếu có, thì được phản ảnh một cách rải rác với chủ đích phê phán ở tầm mức cá thể, chứ không mang tính khái quát hoá về cộng đồng xã hội và guồng máy chính trị.

– Nhà văn được phép kể về đời sống đói khổ ở một mức độ nào đó, nhưng nguyên nhân gây đói khổ không phải là nhà cầm quyền đương thời. Tất cả đều do “hậu quả của chiến tranh” trước 1975, hay do chế độ “bao cấp” của giai đoạn 1975-1985 gây ra. Nhưng, “bao cấp” là gì? Đảng và Nhà nước muốn nhân dân hiểu đó là một biện pháp kinh tế sai lầm, nhưng nhân dân Việt Nam lại hiểu nó là chế độ độc tài dưới sự cai trị của Tổng bí thư Lê Duẩn. Đúng ra, đó là một chữ bí ẩn, vì chế độ “bao cấp” mặc dù do Đảng và Nhà nước tạo ra, lại không được Đảng và Nhà nước xem là sản phẩm của chính họ. Nó chẳng thuộc về ai cả, và chẳng ai chịu trách nhiệm về nó cả, tưởng như nó đã rơi từ trên trời xuống! Chế độ “bao cấp” thì hoàn toàn sai lầm và thậm chí bị Đảng và Nhà nước kết án, và nó giống như một cái thùng rác nơi tất cả những sai lầm có thể được vất vào, nhưng Đảng và Nhà nước không chịu trách nhiệm về cái thùng rác ấy, bởi vì Đảng và Nhà nước hoàn toàn đúng đắn, mãi mãi!

– Sự cách tân và thử nghiệm bút pháp, nếu có, thì rất ít ỏi và có chừng mực. Đa số tác phẩm đều dễ đọc, dễ hiểu, và mặc dù chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đã bị âm thầm vứt bỏ, hầu hết nghệ sĩ vẫn còn sử dụng bút pháp hiện thực chủ nghĩa, vì đa số họ muốn tránh phiền phức khi xin giấy phép xuất bản, muốn tránh gây sốc khiến nhà cầm quyền khó chịu, muốn tránh bất kỳ sự diễn dịch nào có thể đem nguy hại đến sinh mệnh chính trị của bản thân, và muốn tác phẩm của mình dễ được tiêu thụ trên thị trường.

– Ngay cả những tác phẩm dịch thuật cũng phải qua hệ thống kiểm duyệt. Đem so với nguyên tác, ta sẽ thấy rất nhiều tác phẩm dịch thuật bị cắt bỏ, sửa đổi nhiều chữ, nhiều câu, thậm chí nhiều đoạn văn, để có thể phù hợp với đường lối chính trị của nhà cầm quyền. Nhiều tác phẩm nổi tiếng thế giới không bao giờ có cơ hội được dịch và xuất bản tại Việt Nam sau 1975, chẳng hạn, Trại Súc Vật1984 của George Orwell, hay những tác phẩm lớn của Alexandr Solzhenitsyn. Ngay cả tiểu sử của một số nhà văn lừng danh quốc tế cũng bị cắt sửa, chẳng hạn, vào tháng Tám 2008, khi Alexandr Solzhenitsyn qua đời, các chi tiết tiểu sử của ông đã bị báo chí Việt Nam viết lại. Solzhenitsyn, một nạn nhân của nước Nga thời Xô-viết và một nhà tranh đấu chống lại chế độ độc tài dã man của nước Nga thời Xô-viết, đột nhiên biến thành một “người thư ký trung thành của nước Nga thời Xô-viết”!

Câu “muốn làm gì thì làm, miễn đừng đụng đến chính trị” cần được hiểu như thế, và các tác phẩm được phép xuất bản và trưng bày chính thức đều nằm trong giới hạn đó.

Trong vòng 20 năm qua, hầu hết giới học giả ngoại quốc nghiên cứu văn học Việt Nam chỉ tiếp cận những tác phẩm được chính thức cho phép xuất bản ở Việt Nam, và họ dường như muốn tin rằng văn học Việt Nam đương đại chỉ có thế. Có thể vì họ không có cơ hội để tiếp cận với văn chương ngoài luồng ở Việt Nam. Có thể vì họ ngây thơ, tưởng rằng ở Việt Nam không còn văn chương ngoài luồng nữa. Nhưng cũng có thể vì họ cố tình chọn một lối tiếp cận mang tính ngoại giao để tạo sự giao hảo êm đẹp với Việt Nam, có lợi cho sự nghiệp nghiên cứu hàn lâm dài lâu của họ.

Các dịch giả cũng thế. Hầu hết họ chỉ chọn dịch những tác phẩm được chính thức cho phép ở Việt Nam. Chỉ có một số rất ít dịch giả “Việt kiều” chịu bỏ công dịch một số tác phẩm ngoài luồng ra ngoại ngữ để đăng vào một vài tạp chí, một vài tuyển tập ở nước ngoài.

Bây giờ nếu tôi hỏi quý vị — những người không phải là người Việt Nam đang hiện diện trong cuộc hội thảo này — kể cho tôi nghe những tên tuổi nhà văn và nhà thơ Việt Nam đương đại nào mà quý vị biết, thì tôi cam đoan rằng đại đa số quý vị sẽ kể ra một danh sánh gồm hầu hết, nếu không toàn là, những nhà văn và nhà thơ có giấy phép chính thức trong văn chương chính mạch ở Việt Nam. Thậm chí, cách đây chừng 10 năm, nếu tôi đặt cùng câu hỏi ấy cho đa số người Việt Nam ở hải ngoại, thì họ cũng chẳng thể biết nhiều hơn quý vị bây giờ.

Sự thật là văn học Việt Nam đương đại không chỉ có thế, mà phong phú hơn gấp ngàn lần. Nhiều nhà văn có thực tài và lòng dũng cảm đã không chấp nhận những giới hạn được cho phép đó. Họ đã tự ban cho họ sự tự do tư tưởng và diễn tả để tiếp tục viết, mặc dù họ biết rằng họ không bao giờ được phép xuất bản tác phẩm của mình. Họ không thể kiếm sống bằng tác phẩm, nhưng họ đã làm bất cứ nghề gì khác để sống. Họ đã sáng tác và cất giữ hàng đống trong hộc tủ, và chuyền tay cho bạn bè xem; và trước khi có internet ở Việt Nam, họ chỉ có thể gửi đăng rải rác trên vài tạp chí của người Việt Nam lưu vong ở hải ngoại. Họ hy vọng tác phẩm của họ có thể tạo nên dăm ba lời đồng vọng từ những nơi xa xôi nào đó trên trái đất. Họ hy vọng tác phẩm của họ, nhờ một phép lạ nào đó, sẽ tồn tại dài lâu để có thể đóng góp vào kho tàng nghệ thuật đích thực của một đất nước Việt Nam tự do trong tương lai.

Trước khi Việt Nam có internet, nhiều nhà văn và nhà thơ đã gửi hàng tá tác phẩm ra hải ngoại giống như nhét những thông điệp vào những cái chai và ném vào đại dương. Phần nhiều những tác phẩm ấy ra đi, và dường như biến mất trong thế giới bao la. Nếu những tác phẩm ấy có thể xuất hiện trên những tạp chí ở hải ngoại, thì những tạp chí ấy chưa chắc đã có cơ hội trở về đến tay của tác giả, vì tất cả những tạp chí tiếng Việt từ nước ngoài gửi vào Việt Nam đều có thể bị nhà cầm quyền Việt Nam kiểm duyệt và tịch thu.

Chúng tôi biết rất rõ sự kiện này trong thời gian chúng tôi thực hiện tạp chí Việt từ năm 1998 đến 2001. Chúng tôi đã phát hành 8 số báo, và mỗi số báo đều đăng tải nhiều bài thơ, truyện ngắn và tiểu luận của những tác giả từ Việt Nam gửi sang. Sau khi in xong mỗi số báo, chúng tôi đã gửi hàng trăm copy về Việt Nam, nhưng hầu hết đã biến mất, không bao giờ đến tay các tác giả đã đóng góp những tác phẩm của mình.

Nhận ra những giới hạn của một tạp chí trong việc quảng bá, năm 2002, chúng tôi — một nhóm nhà văn, nghệ sĩ và học giả người Việt định cư tại Úc — quyết định thành lập website TIỀN VỆ. Trên trang mặt của website, chúng tôi xác định chủ trương như sau:

TIỀN VỆ là một trung tâm văn học và nghệ thuật trên mạng lưới thông tin toàn cầu, với hai hoạt động chính là phổ biến các tác phẩm mới và tiến hành các cuộc tranh luận về văn học nghệ thuật. Mục đích chủ yếu của TIỀN VỆ là nhằm góp phần xây dựng một khối Thịnh Vượng Chung của văn học nghệ thuật Việt Nam, nơi, bất chấp những dị biệt về địa lý và chính trị, mọi người có thể gặp gỡ nhau trong nỗ lực tìm tòi và thử nghiệm để trả công việc sáng tác trở về đúng nguyên nghĩa của nó: làm ra cái mới.

Bốn năm sau, năm 2006, Đinh Linh, nhà thơ Mỹ gốc Việt nổi tiếng, đã nhận xét về TIỀN VỆ như sau:

Dưới chế độ chính quyền kiểm soát toàn bộ việc phát hành ấn phẩm, các nhà thơ Việt Nam đã lên web để xuất bản và đọc tác phẩm của nhau. Một trang web duy nhất, Tiền Vệ, chịu trách nhiệm cho hiện tượng này. […] Tiền Vệ là trang web độc đáo vì nội dung được cập nhật hàng ngày. Mỗi sáng, vừa thức dậy tôi đã tìm thấy ngay những bài thơ và những bản dịch mới để đọc, ngay cả một số bài của chính tôi vừa gửi cho ban biên tập trước đó một ngày hay một giờ. Tờ báo mạng này đang sống và phát triển trước mắt mọi người, và những cuộc thụ phấn liên thể loại giữa thơ và truyện là bằng chứng hùng hồn. […] So với cái văn hoá chữ nghĩa chính thống ở Việt Nam, nơi những cây bút già bị bắt nạt phải viết loại thơ nhếch nhác như con nít, và những cây bút liều lĩnh hơn chỉ dám nhét một hai bóng ma vào bài thơ để khoe cái phẩm chất “siêu thực” của họ, thì Tiền Vệ nện cho một đá bể đít! Tiền Vệ có thể được coi là diễn đàn văn chương duy nhất, hay, đúng hơn, là cuộc chơi duy nhất trong vũ trụ (tiếng Việt), nên nhiều nhà thơ đã chọn nó làm thư khố cho toàn bộ tác phẩm của mình…[1]

Thật vậy, từ lúc ra đời cho đến nay, TIỀN VỆ càng ngày càng trở thành một đối lực của hệ thống kiểm duyệt mang tính chính trị ở Việt Nam. Qua TIỀN VỆ, hàng trăm khuôn mặt văn nghệ mới và hàng tá tên tuổi văn nghệ sĩ bị bịt miệng ở Việt Nam đã xuất hiện dưới tên thật hay bút danh, với hàng ngàn tác phẩm mới sáng tác hay đã bị vùi lấp từ lâu. Qua TIỀN VỆ, nghệ sĩ ở Việt Nam có một không gian để hoàn toàn tự do suy nghĩ, tưởng tượng, tìm tòi và thí nghiệm mọi khả thể của việc cách tân nghệ thuật. Qua TIỀN VỆ, tác phẩm của họ nhanh chóng đến với độc giả tiếng Việt trên toàn thế giới. Qua TIỀN VỆ, họ đã tạo nên một nền văn chương Việt Nam khác, đối đầu với nền văn chương có giấy phép ở Việt Nam.

Qua những công việc của mình, TIỀN VỆ thực hiện 3 nhiệm vụ quan trọng:

1. Đề cao sự tự do tư tưởng và diễn tả, và cổ xúy mọi nỗ lực thí nghiệm và cách tân trong bút pháp và thẩm mỹ.

2. Quảng bá đến độc giả toàn cầu những tác phẩm mới và có giá trị của nghệ sĩ Việt Nam (trong nước và lưu vong), đặc biệt những tác phẩm bị cấm đoán và bị gạt ra ngoài lề ở Việt Nam.

3. Bảo tồn tất cả những tác phẩm ấy, với niềm tin tưởng rằng chúng hàm chứa những chất liệu chân thực để góp phần vào việc viết lại một lịch sử khác, trung thực hơn, cho Việt Nam trong tương lai.

Ngày 29/01/2004, tờ báo Thanh Niên, một trong những tờ báo mạnh nhất ở Việt Nam, đã biểu lộ sự lo ngại rằng TIỀN VỆ “muốn chiếm lĩnh nền thơ văn tiếng Việt trên mạng thông tin điện tử nhằm giành quyền ‘xây dựng một khối thịnh vượng chung của văn học nghệ thuật Việt Nam’.” Họ nhận ra rằng có những nhà văn trẻ đang “lao theo” TIỀN VỆ, và họ lo ngại vì “dường như cái ‘trung tâm văn học nghệ thuật trên mạng thông tin toàn cầu’ này đang thu hút sự tò mò của một số không ít người quan tâm tới văn chương nghệ thuật.” Họ cho rằng TIỀN VỆ là nơi quảng bá “những câu chữ lổn ngổn tối nghĩa”, “triết lý bí hiểm”, “vô số rác rưởi dơ bẩn”, “tục tĩu”… Họ xem TIỀN VỆ là một trong “các thế lực thù địch vẫn rêu rao những gì về nhân quyền, tự do dân chủ nhằm chia rẽ, phá hoại đất nước” Việt Nam. Họ kết án TIỀN VỆ có “một thái độ báng bổ Tổ quốc, đất nước, dân tộc và người cộng sản…” Và họ kết luận: “Cần có một biện pháp hữu hiệu để kịp thời ngăn chặn và xử lý tình trạng ô nhiễm độc hại nói trên.”

Ngay sau đó, một số nhà văn và nhà thơ ở Sài Gòn đã bị công an cảnh cáo và đe doạ.

Thế rồi, từ đó đến nay, những tờ báo khác ở Việt Nam thay phiên nhau tấn công TIỀN VỆ, cũng bằng những luận điệu tương tự. Gần đây nhất, ngày 06/02/2009, tờ báo Công An thành phố Hồ Chí Minh kết án TIỀN VỆ là “một trang web chuyên về thơ văn chống phá đất nước.”

Họ dán cho TIỀN VỆ cái nhãn hiệu “chống phá đất nước”, nhưng họ hoàn toàn không đưa ra bất cứ một bằng chứng nào cho thấy TIỀN VỆ đã “chống phá đất nước” cả. Cái nhãn hiệu này được sử dụng như một biện pháp đe doạ đối với các nghệ sĩ ở Việt Nam: ai gửi tác phẩm đến TIỀN VỆ thì có thể sẽ bị kết án là hợp tác với những âm mưu “chống phá đất nước”. Ở Việt Nam, tội “chống phá đất nước” là tội nghiêm trọng nhất.

Sử dụng cái nhãn hiệu này, họ khẳng định tham vọng đồng hoá cái ý nghĩa của chữ “Đất nước” với các chữ “Đảng” và “Chế độ”. Ở Việt Nam, điều này thật là đơn giản: nếu một người nào đi ngược lại đường lối của Đảng và chế độ, thì người ấy hiển nhiên là kẻ “chống phá đất nước”, và người ấy phải bị nghiêm trị.

Quý vị có thể thắc mắc: Tại sao nhà cầm quyền Việt Nam lại phải cảm thấy lo ngại trước một website văn học nghệ thuật như TIỀN VỆ? Tại sao họ không thể làm ngơ?

Không, họ không thể làm ngơ được, vì nhiều lý do dễ hiểu:

1. TIỀN VỆ gây bất an cho giới nghệ sĩ chính thống ở Việt Nam. Hàng ngày, các nghệ sĩ chính thống ở Việt Nam vào đọc TIỀN VỆ, và họ nhận ra sự khác biệt to lớn giữa cái không khí tự do sáng tạo thực sự và cái không khí tù túng mà họ phải cam chịu. Họ cảm thấy họ bị lạc hậu, lỗi thời và hèn kém so với những nghệ sĩ chọn sự tự do. Mặc cảm thua sút này khiến họ không thể an tâm sống và làm việc dưới sự điều khiển của Đảng và Nhà nước. Từng chút và từng chút, họ cố gắng nhúc nhích để nới rộng cái không gian sáng tạo của họ.

2. TIỀN VỆ không chỉ ảnh hưởng đến văn giới chính thống ở Việt Nam trên phương diện thẩm mỹ mà cả về nhận thức chính trị. Đọc TIỀN VỆ, họ học định nghĩa lại tự do, công lý, nhân quyền, và trách nhiệm của nghệ sĩ đối với đồng bào dưới chế độ độc tài. Và một khi họ đã hiểu những định nghĩa mới này, họ cảm thấy xấu hổ để tiếp tục sống và viết như những kẻ nô lệ và những kẻ dối trá.

3. TIỀN VỆ là nơi dung dưỡng những tiếng nói đối kháng. Phần lớn các tác phẩm trên TIỀN VỆ là những tác phẩm chứa đựng những tiếng nói đối kháng. Chúng không phải là những khẩu hiệu dễ dãi và chóng quên, mà chúng là những tiếng nói được chuyên chở trong những tác phẩm nghệ thuật. Điều này khiến nhà cầm quyền độc tài lo ngại, vì, những tác phẩm ấy, được viết bởi những nghệ sĩ có lương tâm trước con người dưới những chế độ áp bức, bạo ngược, thì chính là nơi dung chứa những chất liệu cho một lịch sử khác hẳn với cái lịch sử giả mạo mà nhà cầm quyền đang ra sức tô điểm. Như chúng ta đều biết, những bài báo, những bản tin thời sự, những bài bình luận hay tranh cãi về chính trị có thể sẽ bị lãng quên theo thời gian, nhưng những tác phẩm nghệ thuật có giá trị mới có thể còn lại, và trong những tác phẩm nghệ thuật ấy, hậu thế sẽ tìm thấy những chất liệu để viết một lịch sử khác.

Con người Việt Nam đang sống trong một không gian và thời gian phi lịch sử. Cái lịch sử hiểu như bản mô tả những sự kiện quá khứ từ ngày thống nhất đất nước đến nay là một lịch sử giả mạo. Trong đó không có hình ảnh và tiếng nói của hàng triệu người đã bị giam cầm trong những trại tập trung cải tạo và cưỡng bách lao động. Trong đó không có hình ảnh và tiếng nói của hàng triệu người đã bỏ xứ ra đi và hàng trăm ngàn người đã chết trong lòng biển hay trên đường vượt thoát. Trong đó không có hình ảnh và tiếng nói của hàng chục triệu người dân đã sống trong một bầu không khí tù hãm, đói khát, cơ cực, sợ hãi và tuyệt vọng. Trong đó không có một chữ nào mô tả sự áp bức, bạo ngược, bất công, tham nhũng, và sai lầm của Đảng và Nhà nước.

Những nghệ sĩ Việt Nam có lương tâm và trách nhiệm đã và đang viết không ngừng. Họ viết để lấp vào khoảng trống của không gian và thời gian phi lịch sử ấy. Và TIỀN VỆ đang hỗ trợ họ, quảng bá và bảo tồn những tác phẩm của họ. TIỀN VỆ là một trong những điều kiện tồn tại của họ — những nghệ sĩ bị guồng máy chính trị gạt ra bên lề và, đặc biệt, những nghệ sĩ như những người bất đồng chính kiến, ở Việt Nam hôm nay. Họ phải tiếp tục tồn tại để viết cho một tương lai khác — một tương lai mà nhân dân Việt Nam có thể giành lại lịch sử của mình, một lịch sử đầy thương đau, nhưng là một lịch sử mà chính họ đã trải qua bằng xương máu.

______________

[1]Đinh Linh, “Hãy để họ ăn pixels!”, Tiền Vệ, 22.11.2006.


Bình luận

22 Comments (bài “Tiền Vệ và tự do tư tưởng và diễn tả cho nghệ thuật Việt Nam đương đại”)

  1. NguyenKhoi viết:

    Tôi thấy ông Hoà Nguyễn cố gắng biện bác cho ý kiến của ông và càng lúc càng lỏng chỏng. Nếu ông đã công nhận ông không đọc kỹ bài diễn văn của ông Hoàng Ngọc-Tuấn thì làm sao ông có thể nhận định chính xác về nó? Ngay cả cái tiêu đề đưa ra ông cũng không đọc kỹ hoặc không hiểu về nó thì lấy gì để nhận định với nhận xét?

    Bài diễn văn của ông Hoàng Ngọc-Tuấn nói về vai trò của Tiền Vê mà không có 20 chữ Tiền Vệ trong bài thì dùng 20 chữ gì?

    Ông Hoà Nguyễn không nhận ra rằng bài phát biểu của ông Hoàng Ngọc-Tuấn chỉ là một bài trong một loạt bài tham luận của chương trình “Echo of a war”. Làm sao ông có thể tròng từ chuyện “vai trò của Tiền Vệ” sang chuyện phải thoả mãn và khớp với chuyện “con chó và lá cờ”. Xin hỏi ông Hoà Nguyễn đã thử xem qua cái booklet của chương trình Nam Bang chưa? Nếu chưa, xin gởi ông đường dẫn để ông tải và mà xem cho hãn hữu chớ không nên lò mò phỏng đoán:

    http://www.casulapowerhouse.com/ImageBank/docs/nambang_edukit_booklet.pdf

    Hy vọng đọc xong, ông nhận ra được bài tham luận của ông Hoàng Ngọc-Tuấn thuộc phần nào của cái “Nam Bang” kia để có thể nhận định một cách chính xác hơn.

  2. Trần Văn Tích viết:

    Nhiều người cho rằng cảnh hoàng hôn ở nước Anh đã trở nên đẹp đẽ hơn sau khi các bức tranh của Turner ra đời. Ước mong sao trong một cuộc triển lãm đa văn hoá nào đó về “nghệ thuật đương đại” ở Sydney chẳng hạn, sẽ có những hoạ phẩm của người Việt trình bày cảnh bình minh trên châu Úc khiến quí ông Hoàng-Ngọc Tuấn, Nguyễn Quang Duy với nhị vị Chủ bút Sàigòn Times và Việt Luận cùng đứng cạnh nhau để cùng trầm trồ chiêm ngưỡng. Và để rồi từ ngày đó, bình minh trên châu Úc cũng sẽ đẹp đẽ hơn.
    Vẽ cảnh bình minh chắc không khó hơn vẽ chó, vẽ cờ mà lại khỏi phải giải thích, thuyết minh và nhất là khỏi gây tranh luận e rằng có thể làm mất hoà khí.
    Mong lắm thay.

  3. NAM BANG! là cuộc triển lãm và hội nghị về hậu quả và những dư âm của của chiến tranh Việt Nam. Bài tham luận của tôi đọc tại hội nghị “Echoes of a War” nói lên một phần của đề tài đó. Chính sách kiểm duyệt và hạn chế tự do tư tưởng là một biện pháp của CSVN trong thời chiến tranh Việt Nam nhằm kiểm soát và điều khiển ý thức hệ. Thế nhưng cho đến hôm nay, cuộc chiến đã chấm dứt hơn 30 rồi, CSVN vẫn còn áp dụng biện pháp đó y như trong thời chiến tranh. Bài tham luận của tôi trình bày thực trạng của việc kiểm duyệt và sự xâm phạm tự do tư tưởng ở Việt Nam trong lãnh vực nghệ thuật, và tôi trình bày vai trò của Tiền Vệ như một lực đối kháng với thực trạng đó. Đặc biệt, tôi nhắc nhở giới chuyên gia Việt học của ngoại quốc chớ nên tránh né thực trạng đó một cách ích kỷ và hèn nhát.

    Tranh của Lê Trí Dũng diễn tả nỗi đau đớn của người lính cả hai bên chiến tuyến. Cuộc trình diễn của Mai Long diễn tả nỗi đau đớn và chán ghét chiến tranh qua quan điểm của những nạn nhân vô tội. Và những nỗi đau đớn đó vẫn còn cho đến hôm nay. Loạt tranh của Trevor Woodward châm biếm và phê phán những hành vi không chính đáng của giới chính trị gia trong thời chiến tranh, cụ thể nhắm vào sự sai lầm cố ý của John Howard đối với vấn đề “vũ khí huỷ diệt hàng loạt” của Iraq, một vấn đề hoàn toàn không có thật! Trevor Woodward cũng nói lên những sự tương đồng giữa cuộc chiến Việt Nam ngày trước và cuộc chiến ở Iraq hôm nay. Cuộc chiến Iraq gợi lên những dư âm về cuộc chiến Việt Nam trong cảm nghĩ của Trevor Woodward, một cựu chiến binh đã chiến đấu ở Việt Nam.

    Tất cả tác phẩm và các bài tham luận ở NAM BANG! đều là sự khai triển từ đề tài về hậu quả và những dư âm của chiến tranh Việt Nam. Chỉ những người không đến trực tiếp quan sát mới có thể bị lèo lái dễ dàng bởi những ý đồ xuyên tạc. Trong vài hôm nữa, tôi sẽ gửi đăng một bài viết vạch ra những sự dối trá trắng trợn trong bài viết của Charlie Lynn (mà ông Nguyễn Quang Duy đã cho là rất hay và đã bỏ công dịch để phổ biến!)

  4. Phạm Quang Tuấn viết:

    Thành thực cám ơn ông Hòa Nguyễn đã chứng thực giùm tôi về trình độ tiếp nhận của “các ông”.

    Úc là một xã hội đa nguyên. Nghệ thuật luôn luôn là đa dạng. Một cuộc triển lãm như Nam Bang với cả ngàn tác phẩm và nhiều hoạt động liên hệ có muôn vàn khía cạnh, một trong những khía cạnh quan trọng được tuyên bố rõ là “Việt Nam ngày nay”. Mỗi khía cạnh có nhiều quan điểm, nhiều cách nhìn. Vậy mà, dựa theo vài bài (từ một nhà chính trị cực hữu; một bài báo từ Việt Nam; và tờ lá cải Saigon Times Úc Châu) mà ông Hòa phê bình bài của Hoàng Ngọc Tuấn là “những gì ông HNTuấn viết trong diễn văn theo tôi nhận xét khi đọc, có thể kỹ hơn nếu chỉ nghe, là không hợp chỗ, hợp lúc, và không đúng đối tượng”.

    Đúng là anh mù sờ … một đàn voi! Có bao nhiêu dữ kiện được trưng trên internet về những hoạt động liên quan đến Nam Bang!, dường như ông Hòa không thèm tìm hiểu, chỉ cần đọc lớt phớt vài bài xong là… đụ (Bang!, theo cách hiểu của chính ông Hòa và các đồng chí của ông)!

  5. Hoà Nguyễn viết:

    Ý kiến của hai ông Lancome và Phạm Quang Tuấn đều đơn giản. Tôi nói đã không đọc kỹ diễn văn của ông Hoàng Ngọc Tuấn vì tôi không biết trong đó chính xác có bao nhiêu từ TIỀN VỆ được đọc. Nhưng khi đã biết trên 20 từ thì không phải là chỉ liếc qua, hay chỉ đọc cái tựa đề. Xin hỏi có ai biết con số chính xác là bao nhiêu.
    Lancome vội phân biệt hai giới tuyến địch và ta. Tôi đã nói mình ỏ xa Úc hơn nghìn hải lý, chưa từng biết ông HN Tuấn, cũng chưa từng đọc hai tờ báo ở Úc được dẫn, và trích lại bài. Nhưng tôi phải đọc bài diễn văn của ông HN-Tuấn, và đọc những bài viết của nhiều người khác, để so sánh nội dung các câu chuyện được kể từ những người thật sự tham dự, trong đó có ông HNTuấn. Tôi không cho ai trong số đó nắm hết chân lý. Sau cùng tôi nhận thấy, bài diễn văn không liên quan với bức tranh của họa sĩ Lê Trí Dũng, với cuộc trình diễn chó và cờ của cô Mai Long, hay với các tranh biếm họa của một người Úc. Trong bầu khí phản chiến nặng nề, chẳng những chỉ vì chống chiến tranh VN đã qua, mà còn vì chống chiến tranh Iraq và Afghanistan hiện nay, những gì ông HNTuấn viết trong diễn văn theo tôi nhận xét khi đọc, có thể kỹ hơn nếu chỉ nghe, là không hợp chỗ, hợp lúc, và không đúng đối tượng.

    Riêng với ông Bac Phong, xin thêm: tôi không nói bài tham luận không hay, không nói TIỀN VỆ không “triển khai một dòng văn chương đối kháng” giúp chống lại ” sự đàn áp tư do tư tưởng và diễn tả” (mượn lời HN-Tuấn), nhưng nói về vị trí, ý nghĩa bài tham luận trong cuộc triển lãm.

  6. bac phong viết:

    tiền vệ nếu đúng như trình bày
    triển khai dòng văn chương đối kháng
    chúng ta cần quảng bá tiếp tay
    cho họ càng phổ thông trên mạng

  7. Phạm Quang Tuấn viết:

    Ông Nguyễn Quang Duy (http://www.talawas.org/?p=3135) cho rằng xem tranh không cần nhìn xa nhìn gần để mà phê phán. Ông Hoà Nguyễn thì cho rằng đọc bài không cần đọc kỹ cũng có thể phê phán. Cộng Đồng NVTD Úc thì cho rằng không cần xem triển lãm cũng biết gì để mà biểu tình (http://www.talawas.org/?p=2890). Lối suy nghĩ này rất thông dụng ở những người mà tôi tạm gọi là cực đoan (trừ phi có ai có cách gọi hay hơn).

  8. Lancome viết:

    Nói như thế này cho gọn nhưng chính xác:

    Nhìn chung, những gì mà các ông Hoà Nguyễn, Nguyễn Quang Duy, báo SàiGòn Times và những người khác đã căn cứ vào để phản đối, phê phán, biểu tình, đánh phá, hay chụp mũ, là những gì họ chỉ nghe đồn đãi, nghe lóm, tưởng tượng, hay bịa đặt ra, chứ họ không chịu đọc kỹ, và thậm chí chưa từng đến nơi để nhìn thấy bằng con mắt và nghe bằng lỗ tai của họ.

    Điều nguy hiểm là họ nhân danh “đấu tranh” để làm tất cả những điều đó, bất kể sự công bình và trung thực.

  9. Hoà Nguyễn viết:

    Để trả lời ông NguyenKhoi, tôi chỉ xin thêm một nhận xét về bài diễn văn của ông Hoàng Ngọc-Tuấn đọc tại triển lãm Nam Bang.

    Trong bài diễn văn hay tham luận đó, từ TIEN VE được nhắc lại ít nhất 20 lần (và khi in được dùng chữ viết hoa) là điều ít thấy hay chưa từng thấy trường hợp tươngtự ở đâu. Kỹ thuật gây ấn tượng mạnh như thế là rất cao, đã là một lý do để gọi (như) là quảng cáo (ví không chắc là tuyên truyền).

    Có thể tôi đã không đọc kỹ bài diễn văn này.

  10. Steven Nguyen viết:

    Tiến sĩ Dan Duffy, một học giả nổi danh ở Mĩ, là người đã bị chính quyền Việt Nam cấm nhập cảnh vĩnh viễn (banned for life) vì Công an Việt Nam kết tội (không có bằng chứng) ông là nhân viên tình báo CIA (Xem: http://www.vietnamlit.org/wiki/index.php?title=Dan_Duffy).

    Trên diễn đàn Vietnam Studies Group của đại học Washington ngày 24.4.2009, Dan Duffy đã giới thiệu bản tiếng Anh của bài tham luận này của Hoàng Ngọc-Tuấn đến giới nghiên cứu Việt học. Dan Duffy nhận định bài tham luận của Hoàng Ngọc-Tuấn là “đặc biệt quan trọng và lý thú đối với các học giả nghiên cứu về Việt Nam”.

    Ông khuyên các học giả ấy: “Nếu quý vị quen thói gạt bỏ những ý tưởng chống-cộng của người Việt Nam, xem đó như là những ý tưởng hoảng loạn, hay quý vị chấp nhận sự nghiên cứu của quý vị bị giới hạn trong các tác phẩm được in ở Việt Nam để thích ứng với những hạn chế thông thường mà ai trong chúng ta cũng gặp phải, và rốt cuộc thì quý vị bị mất cảm giác với sự kiểm duyệt mà quý vị áp dụng trên chính bản thân quý vị để duy trì những sự thuận lợi trong việc xin visa nhập cảnh, thì quý vị cần phải đọc bài này. Nó hay, và tốt cho quý vị.”

  11. NguyenKhoi viết:

    Tiêu đề của bài viết là:
    Tiền Vệ và tự do tư tưởng và diễn tả cho nghệ thuật Việt Nam đương đại

    Ông Hoàng Ngọc-Tuấn gút lại bài viết như thế này:
    Những nghệ sĩ Việt Nam có lương tâm và trách nhiệm đã và đang viết không ngừng. Họ viết để lấp vào khoảng trống của không gian và thời gian phi lịch sử ấy. Và TIỀN VỆ đang hỗ trợ họ, quảng bá và bảo tồn những tác phẩm của họ. TIỀN VỆ là một trong những điều kiện tồn tại của họ — những nghệ sĩ bị guồng máy chính trị gạt ra bên lề và, đặc biệt, những nghệ sĩ như những người bất đồng chính kiến, ở Việt Nam hôm nay.

    Ông Hoà Nguyễn nhận định rằng:
    Dường như đọc không phải chỗ, không phải lúc, và không đúng đối tượng (nghe).

    Tôi nghĩ rằng:
    Dường như ông Hoà Nguyễn chưa đọc kỹ bài viết của ông Hoàng Ngọc-Tuấn và dường như ông Hoà chỉ nhìn từ một góc độ khá hạn hẹp và không được đẹp (bài viết này là để quảng cáo xét theo những gì vài người tham dự triển lãm kể lại và chưa xét xem những điều được kể lại có độ chính xác như thế nào).

  12. Hoà Nguyễn viết:

    Bài diễn văn ông HNT đọc trong triển lãm “Nam Bang”, theo tôi thấy chỉ là lời quảng cáo cho trang Web Tiền Vệ với những người không đọc Tiền Vệ và có lẽ không bao giờ đọc (có thể vì lý do đơn giản là họ không đọc được tiếng Việt).
    Quảng cáo là một nghệ thuật, hay một kỹ thuật, đáng cho là cao, rất cần thiết trong việc giới thiệu sản phẩm đến người tiêu thụ, và ở đây là sản phẩm văn học cao quý, còn người tiêu thụ là độc giả. Cho nên bài diễn văn viết thế là hay, nhưng đọc trong cuộc triển lãm như vậy có thích hợp không, để nhằm mục đích gí, gây tác dụng gì, và cho ai? Dường như đọc không phải chỗ, không phải lúc, và không đúng đối tượng (nghe). Xét theo những gì vài người tham dự triển lãm kể lại (bài viết của hoạ sĩ Lê Trí Dũng, bài dịch báo của ông Nguyễn Quang Duy).
    Còn viết như: “những vị biểu tình, nếu họ muốn, vẫn về VN phây phây, không bị làm phiền gì cả”, là nét đặc sắc trong cách viết của ông Phạm Quang Tuấn, vì nói được một điều không chắc đúng, hay chỉ tưởng tượng, mà cho người khác sẽ tin theo. Giống như ở chỗ khác tôi đã nhận thấy cách ông PQT lý luận: ông Nguyễn Ngọc Tuấn (chuẩn bị) tham dự “Nam Bang”, là nơi bị những người “chống cộng” biểu tình phản đối, nên ông NNTuấn đáng được được chế độ CS trong nước đón tiếp (hay ít ra cho vào).
    Viết kiểu đó thì Biển Đông dậy sóng cũng phải và ông Dương Danh Huy (trong vụ tranh biện TS) dường như bị người bạn gấu đặt hòn đá lên mũi. Có lẽ ông NNTuấn cũng cảm thấy cái đau, hay khó chịu tương tự.

  13. NguyenKhoi viết:

    “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu một hệ thống chính trị nhất thể, với một quyền lực và tính hợp pháp không bị ai thách thức…”

    Tôi không tin ông William Turley không biết hoặc lờ đi tất cả những bản tường trình về nhân quyền tại Việt Nam trong ít nhất 30 năm qua. Nếu quả thật đảng CSVN “không bị ai thách thức” thì tại sao lại có những Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Trần Khải Thanh Thuỷ, Nguyễn Quốc Quân, Trần Anh Kim, Nguyễn Ngọc Quang…. và hàng trăm cá nhân khác bị chụp cho cái mũ “chống phá đất nước”.

    Tôi không tin ông William Turley hạn hẹp tầm nhìn hoặc thiên vị đến mức kỳ lạ như thế. Ước gì ông ta ghé mắt vào một tường trình tương tự như thế này:
    http://www.state.gov/g/drl/rls/hrrpt/2008/eap/119063.htm

    Ngoài ra, tạp chí cộng sản “nắn bóp” cái gì đó để lên khuôn tạp chí cho “đúng lề” thì không kể.

  14. Phạm Quang Tuấn viết:

    Về thư ông Lê Điều:

    Chắc là bất an với các văn nghệ sĩ HƠN là với những cuộc biểu tình của CĐ, vì Đảng có cả một guồng máy CA văn hóa khổng lồ rất tốn kém để đối phó với văn nghệ sĩ. Trong khi đó, những vị biểu tình, nếu họ muốn, vẫn về VN phây phây, không bị làm phiền gì cả.

    Thực tình tôi cũng không hiểu tại sao họ quá lo lắng về văn nghệ sĩ như vậy! Như Phạm Duy, về nước rồi và hết “phản động” mà vẫn chỉ có lèo phèo vài chục bài được phổ biến.

  15. Lê Điều viết:

    Tôi vừa đọc được qua link trong spectrum của talawas bài viết:

    http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=4&news_ID=15437527

    trong đó có nhận xét của một ông GS Harvard hẳn hoi:

    Trong tác phẩm xuất bản gần đây, U.S.Tơ-ly (W.S.Turley), giáo sư khoa học chính trị của Đại học Ha-vớt đã nhận xét: “So với các chế độ cộng sản cũng đang cải cách khác, Việt Nam có được những lợi thế chính trị quan trọng. Lên nắm quyền qua chiến tranh và cách mạng,… Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu một hệ thống chính trị nhất thể, với một quyền lực và tính hợp pháp không bị ai thách thức…. Ban lãnh đạo của Đảng nằm trong số ổn định và thật sự nhất trí nhất trong thế giới cộng sản, và đảng viên của Đảng bao gồm một phần lớn những người tận tụy và yêu nước nhất ở Việt Nam.”

    Nhận định của ông HNT: “Đảng và Nhà nước không ngừng cảm thấy bất an” chỉ vì xung đột với tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ (chắc chiếm 0,001 % trong xã hội VN) liệu có… lạc quan quá không nhỉ?

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>