talawas blog

Chuyên mục:

Hans F. Sennholz – Về tư hữu và quyền lực kinh tế

18/04/2009 | 11:44 sáng | 3 Comments

Tác giả: Đinh Tuấn Minh

Category: Khủng hoảng đạo đức
Thẻ: >

BCS (www.x-cafevn.org) dịch, Đinh Tuấn Minh hiệu đính

Khi lên án trật tự xã hội của chúng ta [tức, chế độ tư bản chủ nghĩa – ND], những người theo chủ nghĩa xã hội (CNXH) thường sử dụng hai cách tấn công sau. Một số mô tả những cái tốt đẹp đáng mong ước của CNXH bằng những lời ca tụng có cánh, còn một số mô tả những điều khủng khiếp được gán ghép cho hệ thống tư doanh. Trong quyển sách Moral Man and Immoral Society [Con nguời đạo đức và xã hội đồi bại], Reinhold Niebuhr đã sử dụng phương pháp thứ hai để biện hộ cho CNXH. Quyển sách này gần như đã “làm nên” Niebuhr khi xuất hiện vào năm 1934. Nó đưa ra nhiều lăng kính mà thậm chí đến tận ngày nay nhiều người vẫn sử dụng để xem xét các vấn đề xã hội.

Chúng ta đồng ý với Niebuhr rằng quyền lực là xấu xa và không đáng tin cậy. Nhưng “chỉ có người vô sản Mác-xít”, theo Niebuhr, “mới nhìn thấy vấn đề này một cách thấu đáo. Nếu người vô sản Mác-xít có mắc phải sai lầm khi lựa chọn phương tiện để đạt được mong muốn của mình, thì anh ta không hề phạm sai lầm khi đề ra mục tiêu đúng đắn, mục tiêu về công lý bình đẳng (equal justice), mà xã hội cần phải hướng tới, cũng như khi thấu hiểu các nền tảng kinh tế của công lý” (tr. 164-165). Chỉ có người vô sản Mác-xít mới nhận ra được điều này.

Khi Niebuhr nói về “các giai cấp thống trị” – tức là những nhóm bảo vệ CNTB – ông sử dụng những từ cục cằn như “thành kiến”, “đạo đức giả”, và “bất lương.” Cách suy nghĩ, tôn giáo và văn hóa của họ, theo Niebuhr, “là sản phẩm của, hoặc ít nhất cũng bị nhuộm màu bởi, đời sống cục bộ của giai cấp này” (ctr. 140-141). Nói cách khác, bất kỳ ai bảo vệ tự do cá nhân, tư hữu, và tư doanh, đều bị coi là kẻ ủng hộ các đặc quyền và lợi ích của giai cấp tư sản.

Theo triết lý kiểu Niebuhr thì: xã hội được chia ra làm các giai cấp kinh tế có lợi ích hoàn toàn khác nhau; nhưng chỉ có người vô sản Mác-xít mới đấu tranh cho các mục tiêu đúng đắn mà xã hội cần phải hướng tới; và hệ thống tư doanh là thối nát và bất công vì nó được xây dựng dựa trên các đặc quyền và đặc lợi của giai cấp tư sản.

Cả ba nhận định trên đều ngụy tạo. Hoàn toàn không có giai cấp cũng như quyền lợi của giai cấp trong xã hội mà các nhà kinh tế và triết gia cổ điển (mong muốn) tạo dựng. Trước pháp luật, mọi người đều bình đẳng. Các đặc quyền tạo ra bởi địa vị xã hội, bất động sản hay giai cấp của thời kỳ cổ đại đã bị các đạo luật trong thế kỷ XVIII và XIX bãi bỏ.

Tài sản tư bao gồm cả vốn sản xuất

Tư hữu không phải là đặc quyền mà chỉ riêng tầng lớp tư sản được hưởng. Nó là thể chế tự nhiên hỗ trợ quá trình sản xuất và phân công lao động diễn ra một cách có trật tự. Tư hữu tư liệu sản xuất là vì lợi ích của tất cả mọi người, vì nó đảm bảo việc sử dụng một cách kinh tế nhất các nguồn tài nguyên hữu hạn. Một doanh nhân kinh doanh hiệu quả sẽ sản xuất ra được sản phẩm đáp ứng nhu cầu của mọi người một cách hiệu quả nhất, và sẽ giành được việc kiểm soát các nguồn vốn sản xuất. Của cải của anh ta chủ yếu bao gồm các nguồn vốn được sử dụng trong việc sản xuất ra sản phẩm cho mọi người.

Những người phê phán CNTB trong khi lên án cách biệt giàu nghèo lớn giữa nhà tư bản công nghiệp và công nhân thường bỏ qua khía cạnh đặc trưng này của tài sản của nhà tư bản công nghiệp. Của cải của anh ta không bao gồm các đồ xa xỉ phẩm vô ích, mà là các nhà máy, máy móc và các thiết bị được dùng để sản xuất hàng hóa cho con người, tạo ra công ăn việc làm với mức luơng bổng cao. Tất nhiên là người lãnh đạo doanh nghiệp thường được hưởng mức sống cao hơn là nhân viên. Ông ta có thể đi xe hiện đại hơn. Quần áo ông ta mặc có thể được cắt may bởi hiệu may nổi tiếng, và căn nhà ông ta ở thì có thể được trải thảm. Tuy vậy điều kiện sống của ông ta không hẳn khác biệt về chất so với cuộc sống của các công nhân.

Quyền lực kinh tế có tính phái sinh (derivative)

Quyền lực của một doanh nhân được phái sinh từ quyền lực tối cao mà người tiêu dùng nắm giữ. Khả năng quản lý một cách khôn ngoan các yếu tố sản xuất mang lại cho ông ta sự ủng hộ của người tiêu dùng. Cái này không bắt nguồn từ đặc quyền pháp lý, phong tục hay truyền thống, mà là từ khả năng phục vụ người chủ tối cao duy nhất của nền kinh tế tư bản: người tiêu dùng. Doanh nhân, cho dù sức mạnh có lớn thế nào đi chăng nữa, vẫn phải phục vụ theo các nhu cầu và thị hiếu cá nhân của người tiêu dùng. Nếu không chú ý đến các nhu cầu và thị hiếu này thì tai họa sẽ đến với ông ta.

Một ví dụ nổi tiếng sau sẽ minh họa cho việc này. Henry Ford đạt được danh vọng, sự giầu sang, và quyền lực khi ông ta sản xuất ra được hàng triệu chiếc xe ô tô mà người tiêu dùng ưa thích và mong muốn. Tuy nhiên, vào cuối những năm 20 của thế kỷ XX, thị hiếu và nhu cầu của người dùng bắt đầu thay đổi. Họ muốn có các chủng loại xe đa dạng hơn, tốt hơn và to hơn, nhưng Ford từ chối không sản xuất những chiếc xe này. Hậu quả là, trong khi các công ty khác như General Motor và Chrysler phát triển chóng mặt thì hãng Ford lâm vào tình trạng thua lỗ nặng nề. Kết quả là, có thời kỳ thế lực và danh tiếng của Henry Ford đã giảm xuống rất nhanh ngang bằng với tốc độ đi lên trong các thập kỷ trước đó.

Tất nhiên là có khả năng xảy ra trường hợp một doanh nhân phớt lờ hay bỏ qua nhu cầu của một người tiêu dùng cá thể nào đó. Nhưng ông ta sẽ phải trả giá bằng việc doanh số hoặc mức lãi sẽ bị giảm đi. Nếu ông ta tiếp tục làm người mua thất vọng, ông ta sẽ sớm bị loại ra khỏi hàng ngũ những nhà doanh nghiệp.

Và tất nhiên là cũng có thể có trường hợp một doanh nhân đối xử bất công và thô lỗ với một nhân viên nào đó. Nhưng ông ta sẽ phải trả giá đắt cho tính độc đoán này của mình. Nhân viên của ông ta sẽ từ bỏ công ty của ông ta và chuyển sang làm việc cho các đối thủ cạch tranh. Để thu hút đủ nhân công, một doanh nhân có tiếng là đối xử xấu với nhân viên sẽ phải trả thêm một số tiền nhất định cao hơn mức lương mà đối thủ cạnh tranh có tiếng là chu đáo hơn với nhân viên sẽ phải trả. Và việc chi phí đầu vào cao sẽ dẫn tới việc phá sản của ông ta. Còn nếu ông ta trả lương thấp đi, ông ta sẽ bị mất đi những nhân viên giỏi cho các đối thủ cạnh tranh của ông ta, tức là cũng dẫn tới con đường diệt vong của ông ta.

Một nhà doanh nghiệp thành công thường là một người đáng tin cậy và công minh. Ông ta cố gắng chiếm được lòng tin và sự tín nhiệm của khách hàng cũng như của nhân viên làm việc cho mình. Trên thực tế, quá trình giành lấy sự tín nhiệm của mọi người có thể biến doanh nhân thành người thiếu cá tính. Để tránh xung đột và căng thẳng, thông thường doanh nhân sẽ hạn chế hoặc thậm chí tránh không đưa ra ý kiến của mình về các vấn đề chính trị hoặc kinh tế. Đa số các doanh nhân thường bày tỏ lập trường trung dung đối với các vấn đề gây tranh cãi.

Chủ nghĩa tư bản – Thiên đường của người lao động

Một xã hội tư bản là thiên đường đối với người lao động, những người được hưởng lợi nhiều nhất từ trật tự này. Chúng ta chỉ cần so sánh đơn thuần cuộc sống của một công nhân Mỹ với những đồng nghiệp trong các quốc gia không theo CNTB như Ấn Độ hoặc Trung Quốc là thấy rõ ngay. Anh ta là hoàng tử trong giới lao động thế giới; thời gian làm việc là ngắn nhất, và lương của anh ta lại cao hơn đáng kể so với những người còn lại.

Đời sống của nhà triệu phú trong xã hội tư bản chủ nghĩa ít đáng thèm muốn hơn là đời sống của nhà triệu phú trong các xã hội không theo CNTB. Sự giầu có của anh ta chủ yếu nằm ở các khoản đầu tư vốn mà anh ta phải bảo vệ liên tục trước sự cạnh tranh của các doanh nhân khác. Số tài sản dành cho chi tiêu hưởng thụ của anh ta thường là rất ít, chỉ là một phần rất nhỏ trong tổng tài sản của anh ta. Nhưng nhà triệu phú Ấn độ, thường là một tiểu vương, thì sẽ không quan tâm lắm đến sản xuất hay cạnh tranh. Ông ta sống trong những tòa nhà lớn, được bao quanh bởi hậu cung của mình và được phục vụ bởi rất nhiều người hầu chăm chỉ. Ông ta chắc chắn không thèm muốn cuộc sống của các nhà tư bản công nghiệp Mỹ, cho dù tài sản của những người này có lớn đến đâu đi chăng nữa.

Chủ nghĩa xã hội, cho dù là dưới các nhãn hiệu Mác-xít, Fabian, Quốc xã hay là Phát xít, đều không nâng đỡ quyền bình đẳng, mà ngược lại tạo ra sự bất bình đẳng ghê gớm. Nó tạo ra một tầng lớp mới những nhà quản lý chính trị và kinh tế với quyền lực quản lý kinh tế vô hạn và tuyệt đối. Nó loại bỏ quyền lực tối cao của người tiêu dùng và các quyền lực phái sinh của doanh nhân. Nó loại bỏ quyền tự do lựa chọn và phán xét của người dân và thay vào đó bằng những kẻ cai trị độc đoán và nhà nước theo chế độ toàn trị.

Có thể đúng là nhà vô sản Mác-xít đang nỗ lực để hiện thực hóa một xã hội XHCN; nhưng trái với niềm tin của Niebuhr, các nỗ lực của ông ta rõ ràng là đã không mang lại lợi ích cho xã hội hay chính bản thân ông ta. Bị bịt mắt và lừa phỉnh bởi tam đoạn luận XHCN, ông ta ủng hộ một trật tự xã hội mà sẽ nô dịch hóa và bần cùng hóa ông ta. Vì thế, ông ta đang phá hủy chính cái trật tự đã giải phóng ông ta thoát khỏi chế độ nô lệ và bần hàn.

(Nguồn: Hans F. Sennholz, “On Private Property and Economic Power”, Freeman, Tháng 1, 1961)
http://www.fee.org/publications/the-freeman/article.asp?aid=7965

Bình luận

3 Comments (bài “Hans F. Sennholz – Về tư hữu và quyền lực kinh tế”)

  1. Nguyên viết:

    Nói thêm về Niebuhr: Ông là nhà thần học với nhiều nhận xét tinh tế về xã hội và chính trị Hoa Kỳ và thập niên sau thế chiến thứ 1, nhất là những yếu tố đưa đến cuộc suy trầm kinh tế vào cuối thập niên 20 thế kỷ trước. Tư tưởng ông góp phần làm nền tảng cổ xúy vai trò và nhiệm vụ của nhà nước trong việc thiết lập công bình xã hội, bảo vệ và giúp đỡ người dân trong nền kinh tế thị trường còn nhiều thiếu sót về đạo đức. Tư tưởng xã hội và chính trị của ông có ảnh hưởng quan trọng trên hai chính đảng Hoa Kỳ cho đến ngày nay. Đương kim tổng thống Hoa Kỳ Obama rất yêu thích các triết thuyết chính trị của Niebuhr.
    Niebuhr nổi tiếng với lời Cầu Nguyện Thanh Thản của mình:”Lạy Chúa, xin Chúa ban phước giúp con thanh thản chấp nhận những gì không thể thay đổi được, can đảm đứng lên thay đổi những gì cần phải thay đổi, và có sự khôn ngoan để có thể phân biệt hai điều trên”
    Đồng ý với Sennholz là Niebuhr thất bại trong điều cầu xin thứ nhì: thấy TBCN cần thay đổi nhưng chưa thay đổi được, nhưng những nhận xét của ông về CNTB từ 1934 đến nay qua cái nhìn của nhà thần học đã được nhiều người đón nhận và họ đã thay ông tiếp tục thay đổi “kinh tế thị trường” TBCN cho nó có bộ mặt đạo đức hơn dầu nó vẫn còn nhiều ‘đạo chích’ TBCN. Dẫu sao, CNTB vẫn tốt hơn chủ nghĩa cộng sản hay kinh tế thị trường định hướng XHCN nơi có môi trường chính trị dung túng các tên ‘đạo tặc’ cộng sản chủ nghĩa hay là các đại gia tư bản đỏ.

  2. Nguyên viết:

    Bài viết của Sennholz đưa ra cái nhìn rất phiến diện về tư bản chủ nghiã và lắm lúc khá cường điệu khi cho rằng Hoa Kỳ hoàn toàn không có giai cấp năm 1934 khi Niebuhr viết Moral Man and Immoral Society (1934).
    Ngoài ra, tư hữu tư liệu sản xuất không nhất thiết đảm bảo sử dụng kinh tế nhất các nguồn tài nguyên hữu hạn khi có nạn độc quyền kinh tế, khi chính quyền không can thiệp qua các chính sách quản lý tài nguyên chung như cá tôm dưới hồ hay cây cối trong rừng để mặc cho người ta tự do mua tàu, mua cưa khai thác vô tổ chức.
    Ngoài ra trong việc phục vụ người tiêu dùng, sở thích nhu cầu có thể bị lung lạc bởi sự phung phí quá nhiều nhân vật tài lực một cách vô lối vào các dịch vụ phi sản xuất như quảng cáo, tạo thời thượng hay qua các hợp đồng ‘huyển mỵ’. Các phung phí đó cuối cùng người tiêu thụ phải chịu trả thôi!
    Doanh nhân không phải là những người thiếu cá tính như Sennholz nói. Doanh nhân bao giờ cũng có cá tính ‘doanh nhân’: chiều chuộng khách hàng để bán hàng hay ký hợp đồng, thâu lợi rồi hết (hơi đạo đức…giả); ve vuốt công nhân viên cho đến khi đủ tiền mua máy móc làm tốt hơn công nhân viên để cho vào “tư bản” của mình và cho công nhân viên ra rìa (hơi .. ác). Tương tự, nếu có nguồn lao động nào rẻ hơn thì sẳn sàng chuyên chở “tư bản”, hãng xưỡng qua đó để có lời hơn (hơi hữu tài mà vô tâm).
    Sennholz còn nói ‘một xã hội tư bản là thiên đường đối với người lao động’ qua sự so sánh lao động Mỹ với lao động Trung Quốc, Ấn Độ. Tôi không biết ông thiên đường được định nghĩa như thế nào trong cái so sánh đó nên tôi vẫn chưa rõ lắm! Tương tự như thế, ông so sánh triệu phú Hoa Kỳ và Ấn Độ: nếu tiểu vương Ấn sung sướng sao lại có Siddharta? (C òn ti ếp t ập 2)

  3. dahieu viết:

    Cám ơn tác gỉa Đinh Tuấn Minh đã cho đọc tiếng Việt một bài lý luận thật hữu ích khi so sánh giữa hai chủ nghĩa TB và CS. Ước gì tuổi trẻ VN được học những lý luận này để họ hiểu là họ đang bị bịt mắt bởi lời hứa hẹn về XHCN.
    “Bị bịt mắt và lừa phỉnh bởi tam đoạn luận XHCN, ông ta ủng hộ một trật tự xã hội mà sẽ nô dịch hóa và bần cùng hóa ông ta. Vì thế, ông ta đang phá hủy chính cái trật tự đã giải phóng ông ta thoát khỏi chế độ nô lệ và bần hàn”. Câu này đang được chứng minh bằng những hiện thực rõ ràng nhất ở xã hội của VN hiện nay.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>