talawas blog

Chuyên mục:

Về những phản biện của ông Trương Nhân Tuấn

11/04/2009 | 1:17 sáng | 33 Comments

Tác giả: Dương Danh Huy

Category: Quan hệ Việt – Trung, Vấn đề Biển Đông
Thẻ:

Trong bài “Chủ quyền Việt Nam ở vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính, Vũng Mây”, tôi viết

Trong việc vạch ranh giới, tập quán luật quốc tế và ngoại giao không tính những đảo nhỏ, xa bờ, tự thân không có các điều kiện cho sự cư trú của con người và đời sống kinh tế riêng, như các đảo trong hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, để tránh việc những đảo này ảnh hưởng không công bằng tới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Nguyên tắc này được Toà án Công lý Quốc Tế tuyên bố từ năm 1969 trong phiên toà chia thềm lục địa Bắc Hải và được khẳng định trong Điều 121, Khoản 3 của UNCLOS. Từ năm 1969 tới nay, Toà án Công lý Quốc Tế luôn luôn tôn trọng nguyên tắc này, thí dụ như trong những phiên toà Lybia/Malta, Vịnh Maine, Guniea/Guniea-Bisseau.

Ông Trương Nhân Tuấn cho là tôi đưa ra “dẫn chứng không có thật”/”dẫn chứng sai” và đưa ra một số lý lẽ phản biện.

Trong bài viết này tôi sẽ cho thấy quan điểm và lý lẽ của ông Trương Nhân Tuấn hoặc là sai một cách khách quan, hoặc là chỉ là quan điểm chủ quan. Đại khái là ông Tuấn dùng những phương pháp sai sau:

  • Không đọc kỹ xem Toà nói gì, thí dụ như các phiên toà Bắc Hải, Malta/Tunisia, Vịnh Maine.
  • Sai logic về cho là phiên toà Guinea/Guinea-Bissau: cho là trường hợp đó không thể áp dụng cho các đảo nhỏ xa bờ.
  • Vô tình hay cố ý lẫn lộn việ phân định lãnh hải với việc phân định thềm lục địa: các đảo Channel Islands của Anh.
  • Vô tình hay cố ý cho là có việc “phân định lại” liên quan đến trường hợp ranh giới thềm lục địa Italy-Tunisia – trong khi hoàn toàn không có việc “phân định lại”.
  • Dùng dẫn chứng không chính xác cho quan điểm “vùng nước quần đảo” và “nội thuỷ” cho Hoàng Sa, Trường Sa.

1. Các phiên toà phân định thềm lục địa Bắc Hải (North Sea) 1969

Ông Tuấn cho là tôi đưa ra “dẫn chứng không có thật”/”dẫn chứng sai”.

Quan điểm đó sai một cách khách quan.

Sự thật là biên bản của Toà nói về nguyên tắc vạch ranh giới như sau:

The continental shelf area off, and dividing, opposite States, can be claimed by each of them to be a natural prolongation of its territory. These prolongations meet and overlap, and can therefore only be delimited by means of a median [equidistance] line; and, ignoring the presence of islets, rocks and minor coastal projections, the disproportionally distorting effect of which can be eliminated by other means, such a line must effect an equal division of the particular area involved.

Như vậy, khi Toà tuyên bố về nguyên tắc cho việc vạch ranh giới trong trường hợp thềm lục địa của các nước nằm chồng lấn lên nhau, Toà có tuyên bố nguyên tắc bỏ qua các đảo nhỏ (islets).

Như vậy, dẫn chứng tôi đưa ra có thật và ủng hộ mệnh đề tôi đưa ra.

Ngược lại, ông Tuấn đưa ra 2 quần đảo Orkney và Shetland của Anh để ủng hộ quan điểm là các đảo nhỏ xa bờ cũng được 100% hiệu lực.

Trên thực tế:

  • Quần đảo Orkney có diện tích tổng cộng gần 1000 km2, đảo lớn nhất có diện tích gần 500 km2;
  • Quần đảo Shetland có diện tích tổng cộng 1500 km2, đảo lớn nhất có diện tích gần 1000 km2.
Bản đồ 1 : Quần đảo Orkney và Shetland của Anh: so sánh với HS, TS là không chính xác.

Bản đồ 1 : Quần đảo Orkney và Shetland của Anh: so sánh với HS, TS là không chính xác.

Trong khi đó:

  • Quần đảo Hoàng Sa có diện tích tổng cộng khoảng 10 km2, đảo lớn nhất ở Hoàng Sa có diện tích khoảng 2 km2;
  • Quần đảo Trường có diện tích tổng cộng dưới 10 km2, đảo lớn nhất ở Trường Sa có diện tích khoảng 2 km2.

Như vậy, trong khi Toà có nói như tôi dẫn chứng thì dẫn chứng ông Tuấn đưa ra lại không chính xác cho Hoàng Sa – Trường Sa.

2. Phiên toà phân định thềm lục địa Malta/Tunisia 1985

Ông Tuấn cũng nói đây là “dẫn chứng không có thật”/”dẫn chứng sai”.

Quan điểm đó sai một cách khách quan, hay ít nhất là một quan điểm chủ quan.

Nếu ông Tuấn đọc biên bản của Toà thì sẽ thấy là Toà tuyên bố là không dùng có một đảo nhỏ của Malta cách bờ 5 km trong việc vạch ranh giới (ai muốn biết tên của đảo này có thể email tôi).

Như vậy, Toà có loại một đảo nhỏ như tôi nói.

Đảo này lớn hơn 2/3 các đảo nổi ở Trường Sa và cao hơn tất cả các đảo Trường Sa. Nếu dùng đảo này để vạch trung tuyến thì một phần của ranh giới sẽ bị đẩy về phía Tunisia 2.5 km. Chỉ có 2.5 km mà Toà đã cho là bất công và loại đảo này.

Tuy là đảo này gần bờ, nhưng điều đó chỉ làm cho lý lẽ “loại bỏ các đảo nhỏ xa bờ” của tôi càng đúng hơn. Để tôi minh hoạ cho dễ hiểu:

  • Nếu một đảo nhỏ của nước A cách bờ 5 km được cho đầy đủ hiệu lực thì đảo này sẽ đẩy ranh giới về phía nước B 2.5 km. Toà cho đó là bất công nên không cho đảo này hiệu lực.
  • Nếu một đảo nhỏ của nước C cách bờ 200 km được cho đầy đủ hiệu lực thì đảo này sẽ đẩy ranh giới về phía nước D 100 km. Đẩy ranh giới 100 km như vậy sẽ còn bất công hơn cả đẩy ranh giới 2.5 km như trong trường hợp trên.

Tức là nếu Toà loại các đảo nhỏ gần bờ của một nước thì cũng sẽ loại những đảo nhỏ xa bờ, như mệnh đề tôi đưa ra.

Như vậy dẫn chứng tôi đưa ra có thật và ủng hộ mệnh đề tôi đưa ra.

3. Phiên toà Vịnh Maine 1984

Ông Tuấn cũng nói đây là “dẫn chứng không có thật”/”dẫn chứng sai”.

Quan điểm đó sai một cách khách quan.

Sự thật là biên bản của Toà nói về nguyên tắc vạch tranh giới như sau:

In an apposite passage of the 1969 Judgment on the North Sea Continental Shelfcases (I. C. J. Reports 1969, p. 36, para. 57), the Court showed how, in determining the course of a delimitation line intended to “effect an equal division of the particular area involved” between two coasts, no account need be taken of the presence of “islets, rocks and minor coastal projections, the disproportionally distorting effect of which can be eliminated by other means”. In pursuance of this remark, the Chamber likewise would point out the potential disadvantages inherent in any method which takes tiny islands, uninhabited rocks or low-tide elevations, sometimes lying at a considerable distance from terra firma, as basepoint[s] for the drawing of a line intended to effect an equal division of a given area. If any of these geographical features possess some degree of importance, there is nothing to prevent their subsequently being assigned whatever limited corrective effect may equitably be ascribed to them, but that is an altogether different operation from making a series of minor features the very basis for the determination of the dividing line, or from transforming them into a succession of basepoints for the geometrical construction of the entire line. It is very doubtful whether a line so constructed could, in many concrete situations, constitute a line genuinely giving effect to the criterion of equal division of the area in question.

Tức là

  • Phiên toà Vịnh Maine 1984 tôn trọng nguyên tắc bỏ qua những đảo nhỏ mà Toà đã tuyên bố trong phiên toà Bắc Hải 1969, như tôi nói.
  • Toà khẳng định là nếu dùng các đảo nhỏ để thì sẽ bất lợi cho việc phân chia công bằng khu vực, Toà rất nghi ngờ là trong nhiều trường hợp cụ thể làm như thế sẽ dẫn tới một ranh giới công bằng. Hai điều này đều như tôi nói.

Như vậy dẫn chứng tôi đưa ra có thật và ủng hộ mệnh đề tôi đưa ra.

4. Phiên Toà Guinea/Guinea-Bissau 1985

Ông Tuấn nói:

4. Phiên tòa Guinée và Guinée-Bissao: Do CJI xử ngày 14 tháng 2 năm 1985. Theo đó các đảo nhỏ ven bờ của Guinée-Bissao hầu như không có hiệu lực.

Trường hợp này cũng không thể áp dụng cho các đảo nhỏ, xa bờ.

Quan điểm của ông Tuấn sai logic.

Điều cần hiểu ở đây là nếu các đảo nhỏ ven bờ không được Toà cho hiệu lực thì những đảo nhỏ xa bờ lại càng khó có thể được Toà cho hiệu lực. Tôi đã giải thích điều này khi nói về phiên toà Malta/Tunisia.

Tức là phiên toà Guniea/Guniea-Bisseau, trong đó Toà không cho các đảo nhỏ ven bờ hiệu lực là dẫn chứng đúng cho quan điểm là các đảo nhỏ xa bờ cũng không được hiệu lực.

Như vậy dẫn chứng tôi đưa ra có thật và ủng hộ mệnh đề tôi đưa ra.

5. Về vùng nước quần đảo

Ông Tuấn nói:

Về vùng nước các quần đảo: Phần lớn vùng nưóc giữa quần đảo được quốc gia chủ quyền quần đảo qui định là «nội hải»: quần đảo Féroé của Đan Mạch, quần đảo Malouines (Falkland) của Anh, quần đảo Galapagos của Equateur, quần đảo Reine Elisabeth của Canada v.v… vùng nước các quần đảo này đều là nội hải.

Những dẫn chứng ông Tuấn đưa ra không chính xác cho Hoàng Sa, Trường Sa.

Các đảo trong các quần đảo Faroe (1400km2), Falklands (12,000 km2), Galapagos  (khoảng 7,800 km2), Elizabeth Islands (đảo lớn nhất khoảng 20 km2) và nằm sát nhau.

Như vậy trái ngược hẳn với trường hợp Hoàng Sa Trường Sa vì các đảo Hoàng Sa, Trường Sa chỉ khoảng 0.1 km2 tới 2 km2, lại còn trải ra trên vùng biển mỗi chiều hàng trăm hải lý.

Bản đồ 2: Quần đảo Faroe: Nếu dùng đường cơ sở thẳng thì sẽ hợp lý hơn cho HS, TS

Bản đồ 2: Quần đảo Faroe: Nếu dùng đường cơ sở thẳng thì sẽ hợp lý hơn cho Hoàng Sa, Trường Sa


Bản đồ 3: Quần đảo Falklands/Malvinas: Nếu dùng đường sở thẳng thì sẽ hợp lý hơn cho HS, TS

Bản đồ 3: Quần đảo Falklands/Malvinas: Nếu dùng đường sở thẳng thì sẽ hợp lý hơn cho Hoàng Sa, Trường Sa


tnt_bando3

Bản đồ 4: Quần đảo Galapagos: Nếu dùng đường cơ sở thẳng thì sẽ hợp lý hơn cho Hoàng Sa, Trường Sa

Tức là các dẫn chứng ông Tuấn đưa ra đều không chính xác.

Thêm nữa, chẳng có nước nào tuyên bố vùng nước quần đảo (archipelagic waters) cho các quần đảo này, như ông Tuấn nói về vùng nước quần đảo cho Hoàng Sa, Trường Sa. Nói như thế là không hiểu là quy chế vùng nước quần đảo chỉ áp dụng cho các quốc gia quần đảo.

Ông Tuấn nói:

Vùng quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc cũng tuyên bố vùng nước nơi đây là nội hải.

TQ tuyên bố theo luật rừng. Nếu chúng ta cũng hùa theo thì vừa rừng vừa dại.

Ông Tuấn có thể đọc bài của Daniel Druzek đăng bởi International Boundaries Research Unit phân tích tại sao đường cơ sở thẳng chung quanh Hoàng Sa vi phạm UNCLOS.

Ông Tuấn cũng có thể đọc tài liệu của Department of State Mỹ phân tích tại sao Mỹ không chấp nhận đường cơ sở thẳng chung quanh Hoàng Sa, dù Trung Quốc tuyên bố hay Việt Nam tuyên bố.

6. Về ranh giới thềm lục địa Italy-Tunisia

Ông Tuấn nói:

Trường hợp Tunisie – Ý: Hai nước ký kết năm 1971 hiệp ước phân định thềm lục địa. Lúc đó lãnh hải của Ý được xác định là 6 hải lý (thay vì 12 hải lý như qui định của UNCLOS 1982). Trên tinh thần đó đảo Lampedusa, Linosa và Pantelleria được hưởng 13 hải lý và đảo Lampione được 12 hải lý.

Nhưng sau khi có công ước 1982, phía Ý đã thay đổi lập trường về việc phân định như trên.

Câu trên của ông Tuấn sai một cách khách quan. Ý hoàn toàn không thay đổi lập trường về việc phân định thềm lục địa như trên.

Ông Tuấn nói:

Nguyên nhân việc phân định lại hải phận là do phía Tunise tuyên bố xác định vùng ZEE, dành vùng đánh cá, bao gồm vùng có tên gọi «il Mammelone», có nhiều cá mà ngư thuyền Ý thường xuyên khai thác, trong lúc phí Ý xem vùng này là «biển cả – haute mer». Phía Ý lập ra vùng ZPE (vùng bảo vệ môi sinh – zone de protection écologique) năm 2006. Vì thế hai nước sẽ phải phân định lại «hải phận», theo đó các đảo trên phải được chia theo đường trung tuyến với bờ biển Tunise. (Hình 2)

Đoạn trên có 2 điểm sai một cách khách quan. Hoàn toàn khộng có chuyện “phân định lại”. Không có cái gì được “phân định lại” hết.  Không hiểu sao ông Tuấn cố ý nhét chữ “lại” vào hai câu trong đoạn trên.  Để tạo vẻ Ý đã thay đổi lập trường về việc phân định thềm lục địa chăng?

Việc phân định vùng đánh cá thì có thể dựa vào nhiều điều kiện ngoài hiệu lực của các đảo, thí dụ như ngư dân Ý có truyền thống đánh cá ở những vùng đó mà Tunisia đã chấp nhận hay không phản đối.  Phân định vùng đánh cá theo cách khác phân định thềm lục địa có nghĩa là Ý thay đổi lập trường về việc phân định thềm lục địa như trên.

Tức là dẫn chứng ranh giới thềm lục địa tôi đưa ra có thật, là hiệp định có hiệu lực được 2 bên công nhận, trong khi ông Tuấn lại nói là nó không có thật, sai, bằng cách đưa ra một việc phân định không liên quan đến thềm lục địa, mà cũng chưa được 2 bên công nhận.

7. Về các đảo Channel Islands của Anh

Ông Tuấn nói:

Trường hợp Anh – Pháp: Hai đảo của Anh là Jersey (St Helier) và Guernsey (St Peter Port), rất gần bờ nước Pháp, phân định ngày 4 tháng 7 năm 2000 theo hình dưới đây. Ta thấy việc phân định vùng lãnh hải các đảo được chia theo lối “équidistance – chia đều”. Ông Huy đưa ra các con số 12 hay 13 hải lý, ý muốn cho là hiệu lực các đảo này không có nhiều. Nhưng phía bên Pháp cũng chỉ có bấy nhiêu đó thôi. (Hình 3)

Lập luận của ông Tuấn sai một cách khách quan.

Chúng ta đang nói về hiệu lực của các đảo nhỏ trong việc tính vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Tôi đang nói về Toà vạch ranh giới thềm lục địa cho các đảo Channel Islands. Chứng cớ tôi đưa ra (về thềm lục địa) liên quan tới vấn đề đang nói tới (phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa).

Ông Tuấn lại đưa dẫn chứng về phân định lãnh hải của các đảo Channel Islands. Dẫn chứng đó không nói được gì về phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Quy định của UNCLOS nói riêng và luật pháp quốc tế nói chung về phân định lãnh hải rất khác với về phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Nếu ông Tuấn đọc biên bản của Toà về phân định thềm lục địa giữa các đảo Channel Islands và Pháp thì sẽ thấy không có chuyện “Nhưng phía bên Pháp cũng chỉ có bấy nhiêu đó thôi“, vì các đảo Channel Islands của Anh chỉ được 12 HL thềm lục địa, trong khi phía bên Pháp được nhiều hơn 12 HL.

Tức là trong khi dẫn chứng tôi đưa ra có thật, là một phán quyết của Toà về thềm lục địa, thì ông Tuấn lại cho là nó sai bằng cách đưa ra dẫn chứng về lãnh hải. Thật là lạc đề.

8. Tóm tắt các phản biện của ông Tuấn

Có thể thấy được như trên là những gì ông Tuấn cho là sai lại là đúng. Ngược lại, những gì ông Tuấn cho là đúng để nói người khác sai thì lại là sai hay ít nhất không chính xác.

9. Về khía cạnh chiến lược

Ông Tuấn nói:

Các đảo tranh chấp giữa Việt-Phi hay Việt-Mã đều thuộc chủ quyền Việt Nam. Bỏ qua nó, thì chỉ có Việt Nam là thiệt hại, các vùng biển tại đây phải xem là mất. Việc giải quyết chủ quyền các đảo sau này, giả sử chúng phải trả lại cho Việt Nam thì Việt Nam cũng sẽ không bao giờ giành lại quyền lợi của mình.

Ông Tuấn assumes là Việt Nam có quyền lợi xa đảo hơn 12 hải lý, trong khi điều đó chưa được chứng minh bằng pháp lý. Trên thực tế sẽ khó có Toà  nào cho là các đảo Hoàng Sa, Trường Sa được hưởng quy chế vùng nước quần đảo (được vẽ đường cơ sở thẳng bao quanh quần đảo) và được đầy đủ hiệu lực trong việc tính EEZ.

Thật ra, ý kiến của QNCBĐ là xin Toà ban một ý kiến tư vấn về các đảo Hoàng Sa, Trường Sa được hưởng bao nhiêu HL là hợp lý nhất.

Ông Tuấn nói:

Việc giải quyết tay ba: Việt-Mã-Phi cũng không giải quyết được vấn đề Biển Đông nếu những tranh chấp với Trung Quốc vẫn chưa giải quyết. Chắc chắn Trung Quốc sẽ phản đối, việc này sẽ thường xuyên đem lại bất ổn cho khu vực.

Thật ra nếu Việt, Mã, Phi, Bru, Indo (Bru và Indo cũng bị yêu sách của Trung Quốc đe doạ) đoàn kết và có tiếng nói chung với ASEAN và với các cường quốc thì sẽ kìm chế Trung Quốc nhiều hơn, đỡ bất hôn hơn như bây giờ.

Ông Tuấn nói:

Ông Huy và nhiều người viện lý do khả năng quân sự Trung Quốc rất mạnh, Việt Nam không thể đương đầu, phải nhượng bộ thôi.

Tôi chẳng bao giờ nói điều trên. Ngược lại, ông Tuấn cho rằng vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính, Vũng Mây thuộc về Trường Sa như Trung Quốc đòi hỏi – điều đó chỉ góp phần them cho lý lẽ của Trung Quốc.

Ông Tuấn nói:

Nhưng việc tự tuyên bố các đảo của mình không có hiệu lực ZEE thì không phải là một nhượng bộ thông minh, vì nó không ảnh hưởng gì đến quyết định của Trung Quốc. Tham vọng của Trung Quốc đã để lộ từ một thế kỷ nay, bằng mọi cách họ sẽ thực hiện tham vọng của mình. Việt Nam hủy bỏ hiệu lực các đảo thì cũng không ảnh hưởng gì đến các quyết định của Trung Quốc. Mục đích của Trung Quốc là tài nguyên dưới thềm lục địa các đảo và vị trí chiến lược của các đảo. Nếu họ chiếm được các đảo Trường Sa, do ảnh hưởng các đảo, họ sẽ tuyên bố chủ quyền cả Biển Đông.

Tôi chẳng bao giờ nói nhượng bộ. Thêm nữa, Trung Quốc đòi là các đảo phải có thật nhiều EEZ. Tôi nói là các đảo phải có ít EEZ, ngược với đòi hỏi của Trung Quốc, cho nên không thể là nhượng bộ.

Ngược lại, chủ trương của ông Tuấn là các đảo phải có thật nhiều EEZ, lấn sâu vào vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính, Vũng Mây của Việt Nam. Bất kể ông Tuấn có cho đó có phải là nhượng bộ Trung Quốc hay không thì chủ trương đó cũng có lợi cho TQ và có hại cho VN.

Ông Tuấn nói:

Mục đích của họ là vậy, Việt Nam tuyên bố ra sao thì mặc kệ. Nhưng một khi Việt Nam đã tuyên bố rồi, vĩnh viễn Việt Nam sẽ không thể trở ngược lại. Đây là việc rất sơ đẳng, ai có trí óc bình thường cũng suy nghĩ ra được. Nó là một điển hình cho việc tự bắn vào chân ngu xuẩn nhất.

Vậy là ông Tuấn chưa hiểu luật quốc tế rồi. Bao giờ Việt Nam có ký/phê duyệt hiệp định thì mới vĩnh viễn không thể trở ngược lại. Còn nếu như Việt Nam và ASEAN có tuyên bố đơn phương là các đảo Hoàng Sa, Trường Sa chỉ được 12 HL mà Trung Quốc không chấp nhận thì Việt Nam và ASEAN có thể đổi ý. Nếu ông Tuấn có đọc về quá trình đàm phán thì sẽ thấy các bên có thể tuyên bố, đòi hỏi này nọ, sau đó đổi ý.

Ông Tuấn thích nói “sơ đẳng” và chửi “ngu xuẩn” nhưng thật ra ông Tuấn sai về luật quốc tế.

“Chiến lược” của ông Tuấn là:

  • Đòi đường cơ sở thẳng/vùng nước quần đảo cho các đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Điều đó sai với UNCLOS.
  • Đòi thật nhiều EEZ cho Hoàng Sa, Trường Sa. Điều đó chưa chắc phù hợp với luật quốc tế, nhưng trước mắt là có lợi cho Trung Quốc và có hại cho Việt Nam. Trước mắt, Trung Quốc có khả năng dùng lý lẽ đó để lấn vào vùng biển của Việt Nam, còn Việt Nam thì không có khả năng dùng lý lẽ đó để lấn vào vùng biển của Trung Quốc.
  • Chờ tới Tết Công Gô sẽ có Toà nào ban cho Việt Nam 2 điều trên và các nước kia sẽ chấp nhận.
  • Cho tới Tết Công Gô, Việt Nam phải là sao giữ được, không cho mất thêm, mà không có sự ủng hộ của các nước khác.

Rõ ràng, đề nghị của QNCBĐ là xin ý kiến tư vấn của Toà về Hoàng Sa, Trường Sa được bao nhiêu hải lý rồi dùng ý kiến đó làm cơ sở cho liên minh bảo vệ những vùng viể không thuộc Hoàng Sa, Trường Sa, hay hơn “chiến lược” của ông Tuấn nhiều, mà cũng không phải là thiệt hại cho Việt Nam.

10.  Lời kết

Từ khi ông Tuấn bắt đầu “góp ý” với tôi cách đây 6 tháng, thỉnh thoảng ông Tuấn lại “góp ý” kiểu:

  • Ông Huy là người thế này, thế nọ.
  • Chụp mũ.
  • Ông Huy sai ở một loạt điểm A, B, C, D, E, F.

Nhưng nói ra thì chính ông Tuấn lại sai ở các điểm A, B, C, D, E, F.

Một thời gian sau, ông Tuấn lại tiếp tục:

  • Ông Huy là người thế này, thế nọ.
  • Chụp mũ.
  • Ông Huy sai ở một loạt điểm G, H, I, J, K, L.

Nhưng nói ra thì chính ông Tuấn lại sai ở các điểm G, H, I, J, K, L.

Một thời gian sau, ông Tuấn lại tiếp tục:

  • Ông Huy là người thế này, thế nọ.
  • Chụp mũ.
  • Ông Huy sai ở một loạt điểm M, N, O, P, Q.

Nhưng nói ra thì chính ông Tuấn lại sai ở các điểm M, N, O, P, Q.

Tôi không hiểu ông Tuấn có cho là làm vậy là phí thì giờ không. Riêng tôi trong 6 tháng qua thấy trả lời ông Tuấn, viết về ông Tuấn hay các bài viết của ông ấy chưa bao giờ là cách tốt để dùng thời gian của tôi.

Nếu sau bài này tôi không trả lời ông Tuấn nữa thì hy vọng mọi người hiểu.

Bình luận

33 Comments (bài “Về những phản biện của ông Trương Nhân Tuấn”)

  1. Lê Anh Dũng viết:

    Không rõ ông TNT là nhà nghiên cứu chuyên nghiệp hay tài tử. Dù là hobby với những thiếu sót không tránh khỏi, so với hobbies của tôi là thả diều, chơi cá(xem Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Vương)thì nghiên cứu về TS, HS vẫn đáng được ngả nón, cúi đầu. Khi đa số chúng ta chỉ quan tâm tới vấn đề trong lúc nhàn rỗi, “đóng góp” khi chợ đã đông, khi đã có người đi bước tiên phong, lượng thời gian đầu tư rất lớn, thì việc chỉ ra những sai sót cần được những kẻ “nghe hơi nồi chõ” như tôi đóng góp trong lễ độ, khiêm cung. Tôi trân trọng những đóng góp dài hơi của qúi vị TNT, DDH. Những đóng góp, quan điểm của qúi vị có thể còn bất cập, thiếu sót, hoặc sai trật, nhưng cần tuyên dương.
    Trái với anh Huy nghĩ “… viết về ông Tuấn hay các bài viết của ông ấy chưa bao giờ là cách tốt để dùng thời gian của tôi”, tôi thấy những trao đổi của anh Huy rất bổ ích, gây chú ý tới vấn đề ở một cấp độ cao hơn, soi rọi từ nhiều góc nhìn tới một vấn đề chiến lược, là gương sáng trong văn hóa tranh luận bần hàn của chúng ta. Dùng thời giờ như vậy thì tốt qúa. Trước một đối phương nặng ký như Trung Quốc, chúng ta cần tỉnh táo, kiên nhẫn, chấp nhận thiệt haị do hỏa lực “bạn”.
    Ông PQT tưởng tượng một cách đầu cơ trên tương lai “Không ngạc nhiên khi ông sẽ lại lôi Rockall ra nói từ đầu trong một bài nữa!”, ngôn ngữ “sai từ đời tám kiếp”, “nói càng dai, càng là… học giả”. Vấn đề lớn cần đầu óc, tấm lòng lớn, nhìn xuyên qua những yếu kém thường tình. Đôi co lặt vặt không thích đáng với tầm vóc của vấn đề.

  2. Lê Anh Dũng viết:

    Chuyện nặng lời của ông TNT với ông DDH có lẽ tới từ nhận xét: thái độ của chính quyền Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa là không chấp nhận được; một số người khác nêu chuyện Hoàng Sa, Trường Sa thì bị đàn áp, sách nhiễu, tù đày… như Điếu Cày; tiếng nói của DDH lại được quảng bá trong nước, nên DDH phải lãnh búa. Từ khi Talawas tái xuất giang hồ, chuyện Điếu Cày đi tù có vẻ được qúi bloggers coi như đương nhiên, định mệnh đã an bài, không nghe nhắc tới. Ở phương Tây thì trí thức ở đó ồn ào phải biết. Tới nay có một ngoại lệ là khi DT Hương bị tù, nhóm Diễn Đàn Paris cập nhật số ngày bà bị giam giữ và đăng tải ở mỗi kỳ báo, rất dramatic, ngoại lệ này không đáng được tuyên dương vì có yếu tố phe phái, cảm tính, không cùng phe thì cứ ở tù tiếp. Chỗ đứng chính trị, yếu tố phe phái ảnh hưởng nặng tới việc hiểu và đánh gía quan điểm của nhau, nó xé con người ra, thay vì kết hợp lại, ngay cả trên chuyện lãnh thổ là chuyện chung, lâu dài. Nặng lời chỉ là hệ qủa tự nhiên từ sự đánh gía vị trí của nhau. Xa hơn, lâu hơn, Nguyễn Gia Kiểng trong Tổ Quốc Ăn Năn “… văn hóa Việt Trung, trong đó sự lỗ mãng là môt thông lệ… (trong cả truyện Tàu tôi chỉ thấy thời Tam Quốc có Tào Tháo và Tôn Quyền là đôi khi đối đáp nhã nhặn với người chiến bại). Một chi tiết khác trong bài của Trần Mạnh Hảo là lời lẽ của nó rất gay gắt. Đó cũng là đặc tính chung của phần lớn những bài tranh luận giữa người Việt Nam thuộc mọi thế hệ. Hình như chúng ta cảm thấy có bổn phận phải nổi giận khi không đồng ý.”

  3. […] Ông Huy đã phản biện ra ngoài vấn đề. Ở đây xin nhắc lại thêm lần nữa, lần thứ n lập luận của ông Huy: «Trong việc vạch ranh giới, tập quán luật quốc tế và ngoại giao không tính những đảo nhỏ, xa bờ». […]

  4. Dương Danh Huy viết:

    Bác Hoà,

    Cảm ơn bác đã góp ý. Tôi cảm phục sự quan tâm của bác về v/d HSTSBD. Có nhiều ý kiến khác nhau, có nhiều tranh luận về v/d HSTSBD, là điều tốt.

    Cá nhân tôi thấy v/d HSTSBD rất lý thú (ngoài khía cạnh nó có tầm quan trọng gần như sống còn cho nền độc lập của Việt Nam) cho nên tôi rất thích tranh luận về nó.

    Bác nói đúng là chưa loại bỏ hoàn toàn được khả năng trong tương lai Mã, Phi có thể đòi nhiều EEZ cho những đảo TS họ đòi (nhưng tôi nghĩ khả năng đó không cao). Đó là một trong những lý do QNCBĐ đăng bức thư ngỏ dưới đây trên báo Manila Times (Philippines):

    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2008/11/081121_manilatimes_asean_sea.shtml

    http://www.seasfoundation.org/articles/from-members/25-th-ng-gi-nhan-dan-va-chinh-ph-cac-nc-philippines-malaysia-brunei-indonesia.html

  5. Hoà Nguyễn viết:

    Xin góp ý với ông DD Huy. Đúng là Phi, Mã và cả VN chưa lên tiếng đòi một đảo nào đó ỏ TS được EEZ rộng 200 HL. Nhưng dường như họ đều chuẩn bị để làm điều đó, nếu TQ làm trước. Chỉ mới là dự tính có tính cách phòng hờ, để không bị thiệt. Họ căn cứ vào điều 121 của UNCLOS : một đảo có người ở hay có sinh hoạt kinh tế có thể được EEZ 200 HL. Điểm mơ hồ ở đây là không quy định rõ diện tích đảo phải có ,với dân số bao nhiêu và hính thức kinh tế thế nào. Tôi chép lại một đoan trong sách ông Vũ Hữu San :
    “Theo tinh-thần Điều 121 của UNCLOS nói về Quy-chế Hải-đảo (Article121- Regime of islands) thì chỉ những đảo nào có công-đồng dân-cư sinh-hoạt tự-túc được mới được quyền lợi 200hl hải-phận EEZ. Tuy vậy theo một số luật-gia, đảo nhỏ như cồn (cay), đụn (dune) cũng có thể được hưởng quy-chế 200hl hải-phận EEZ; còn đá thì nhất-định chỉ được tính 12hl của lãnh-hải mà thôi.” (CH.9)
    Chuyện đã kể là Phi đưa 300 dân ra đảo Thitu, nằm về phía Tây TS,gần VN, chỉ rộng 37,2 hecta (so với đảo Itu Aba của Đài Loan rộng 46 hecta), và còn thấy nói Phi có kế hoạch đưa dân ra hai đảo khác là Northeast Cay và Flat Island. VN lập hai xã hành chính trên đảo Sinh Tồn và Song Tử Tây. Mã biến đảo Swallow Reef ,chỉ mới chiếm năm 1983, thành nợi du ngoạn. Mã cũng tuyên bố có chủ quyền trên toàn quần đảo TS, nhưng không gây tranh chấp như TQ, Đài Loan hay VN.
    Trở lại các vụ kiện xảy ra bên trời Tây, đa số xảy ra trước UNCLOS,vì tuy UNCLOS được dự thảo năm 1982,nhưng chỉ có hiệu lực thi hành từ 16/11/1994.

  6. Dương Danh Huy viết:

    Ngoài ra, Việt Nam có thể đòi hỏi là những đảo HS nhỏ, eg đá Tri Tôn, không được EEZ, còn đảo lớn, eg đảo Phú Lâm, thì có thể chấp nhận 1 phần hiệu lực nào đó trong việc tính EEZ.

  7. Dương Danh Huy viết:

    TT:

    Ngược lại, nếu VN cho là HS được 100% hiệu lực EEZ/TLĐ thì khi TQ đòi khai thác vùng biển giữa HS và Lý Sơn, VN chỉ có 1 lý lẽ để đưa ra với thế giới:

    (1) HS là của VN.

    Nhưng thế giới lại trung lập về HS là của ai.

    Vì vậy, tôi cho là việc có thêm lý lẽ thứ 2 là điều tốt.

    Tất nhiên, để có thêm lý lẽ thứ 2, VN phải “hy sinh” việc đòi khai thác tới trung tuyến HS-Hải Nam. Nhưng tôi nghĩ VN khó có bao giờ giành được quyền khai thác tới trung tuyến HS-Hải Nam.

  8. Dương Danh Huy viết:

    Bác Hoà,

    Phi, Mã chưa bao giờ đòi vùng nước quần đảo hay 100% hiệu lực EEZ/TLĐ cho các đảo TS. Các dấu hiệu cho thấy Phi, Mã đã/sẽ không đòi vùng nước quần đảo hay 100% hiệu lực EEZ/TLĐ cho TS.

    Mã không phải là quốc gia quần đảo, không thể đòi vùng nước quần đảo cho những đảo họ đòi. Mã đã công bố yêu sách TLĐ, trong đó các đảo TS họ đòi có rất ít hiệu lực.

    Phi là quốc gia quần đảo, nhưng họ đã chọn đường cơ sở tương đương với SB 2699 (xem thêm: http://tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/6082/index.aspx). Theo các bài viết của học giả quốc tế và các nhà bình luận Phi, điều đó suggests Phi không có ý định đòi 200 HL cho các đảo TS.

    Indo ủng hộ quan niệm là các đảo TS không được 100% hiệu lực EEZ/TLĐ.

    Ở Biển Đông chỉ có 2 tư tưởng lưỡi bò đáng kể: tư tưởng lưỡi bò từ Bắc xuống Nam của TQ/TW và tư tưởng lưỡi bò liếm ngang, từ Tây sang Đông, của không ít người VN.

    Những gì bác nói về HS cho thấy việc đòi 100% hiệu lực EEZ/TLĐ có hại cho VN chứ không có lợi.

    Nếu HS được 100% hiệu lực thì ranh giới Việt Trung phải là:

    (a) Trung tuyến giữa HS và Hải Nam.
    (b) Hoặc là trung tuyến giữa HS và Lý Sơn.

    VN có yêu sách (a) cũng khó đạt được, trong khi TQ có thể yêu sách (b) và áp đặt ít nhiều lên VN.

    Nếu VN cho là HS không được 100% hiệu lực EEZ/TLĐ thì khi TQ đòi khai thác vùng biển giữa HS và Lý Sơn, VN có 2 lý lẽ để đưa ra với thế giới:

    (1) HS là của VN.
    (2) HS không được 100% hiệu lực EEZ/TLĐ cho nên vùng biển giữa HS và Lý Sơn thuộc về Lý Sơn và bờ biển đất liền VN

  9. vietsoft viết:

    Cám ơn 2 Ông Dương Danh Huy và Trương Nhân Tuấn qua những tranh luận rất bổ ích về các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

  10. Hoà Nguyễn viết:

    (TT)
    Xin góp ý tiếp. UNCLOS không xét thềm lục địa khi quy định EEZ. Dù thềm lục địa rộng hẹp thế nào, EEZ cũng rộng 200 HL (nếu không chồng lấn với nước khác). Chưa chắc VN bi thiệt hay TQ được lợi nhiều khi đòi EEZ 200 HL cho các đảo đang chiếm ở TS nếu đủ điều kiên theo UNCLOS (có người ở hay có sinh hoạt kinh tế). Những EEZ đó sẽ có chỗ chồng lấn lên nhau, và sẽ có giải pháp như cùng khai thác ở chỗ chồng lấn, hay chia nhau theo trung tuyến giữa hai đảo. VN hiện chiếm 30 hay 33 đảo nằm sát bên nhau dài từ Bắc xuống Nam ở mạn Đông gấn đất VN. TQ chiếm 9 đảo san hô (khó có điều kiện sinh sống),Phi 10 đảo. EEZ rộng 200 HL tính từ các đảo VN sẽ bao phủ gần hết vùng biển từ TS đền EEZ từ bờ biển VN. Những chỗ chồng lần với EEZ của đảo các nước khác (TQ, ĐL,Phi) để cho các chuyên viên phân định. VN mất bớt EEZ chỗ chồng lấn, nhưng được phần EEZ khác về hai phía Đông và Nam. Nên nhớ Phi đã đề nghị đưa vấn đề nội thuỷ quần đảo TS ra tòa quốc tế,nhưng TQ và VN không chịu (theo Wikipedia).

  11. Hoà Nguyễn viết:

    Tôi nghĩ nên xét vấn đế theo thực trạng và gần với UNCLOS. Trong các “thông lệ” dẫn chứng, đa số xảy trước 1982, và riêng vụ án năm 1985 cũng không thấy nêu luật biển mới của LHQ. Trong khi các nước đang tranh chấp ở TS đều chấp nhân UNCLOS,và đều theo cách hiểu riêng UNCLOS khi tranh biện. Như đã nêu nhiều lần, Phi và Đài Loan đang biến đảo họ chiếm thành đảo có người ở bằng cách đưa dân ra đó và lập khách sạn,để mong được EEZ 200 HL. Mã biến môt hòn đá nổi thành một đảo nhân tạo bằng cách chở đất từ nội địa ra bối đắp và xây lên khách sạn. VN lập hai xã hành chính trên TS, với số dân vài chục người,nhưng cũng tham dự bầu cử trong đất liền. TQ chỉ chiếm đảo đá và san hô ở TS, nhưng trong vụ phản đối VN thăm dò ở Tư Chính-Vũng Mây dường như tự cho có EEZ 200 HL tính từ đảo nào đó. Ở HS rõ là TQ và VN mặc nhiên, nếu không chính thức, công nhận chia theo trung tuyến vùng biển từ HS tới cú lao Ré. Đó là xu hướng chung ở Biển Đông, khó đảo ngược. VN phải hành xử theo tình hình thực tế này.

  12. Phạm Quang Tuấn viết:

    Để khỏi tốn thì giờ của ông Dương Danh Huy (tốt hơn dùng cho việc tranh luận với Tàu và góp ý với các giới thẩm quyền) và của bạn đọc, xin đề nghị talawas chấm dứt bằng một closing statement từ ông Huy và từ ông TN Tuấn. talawas sẽ công bố hai bài cùng một lượt để tránh những cãi cọ kỳ kèo hay những lý lẽ cù nhầy.

  13. Dương Danh Huy viết:

    Xin lỗi bạn đọc, bài này có một số typos.

    Ngoài ra, khi tôi nói là đảo lớn nhất có diện tích 20 km2, tôi lầm quần đảo Queen Elizabeth ông Tuấn dùng để ủng hộ quan niệm HSTS được “vùng nước quần đảo” với một quần đảo khác.

    Thật ra quần đảo này có diện tích hơn 400,000 km2 và các đảo nằm sát nhau như sau:

    Như vậy, việc ông Tuấn so sanh quần đảo này với HS hay TS (tổng diện tích mỗi quần đảo cỡ 10 km2, các đảo cách xa nhau), lại càng không chính xác.

  14. Đinh Bá Anh viết:

    Tôi thường đọc hết các bài của Dương Danh Huy và thầm phục ông về tinh thần khách quan, căn cứ trên luật pháp quốc tế, và xem xét lý lẽ từ nhiều phía, trước khi xét tới lợi ích riêng của VN. Tôi cho rằng đấy là tinh thần đàng hoàng và đĩnh đạc mà các nhà nghiên cúu và ngoại giao Việt Nam cần có khi giao thiệp với các nước khác, giúp Việt Nam có thể đối thoại và giành được chiến thắng pháp lý khi tranh chấp.

    Tôi cũng thầm phục ông ở thái độ bình tĩnh, hòa nhã và kiên nhẫn không thể tưởng tượng nổi khi đối thoại với ông Trương Nhân Tuấn. Nếu sau bài này ông không thể kiên nhẫn thêm được nữa thì tôi hoàn toàn hiểu.

  15. Phạm Quang Tuấn viết:

    Tôi cũng thấy ông TN Tuấn đang… câu giờ. Ông lại đem cái vụ “nội hải” ra nói trong khi cái đó đã bị chứng minh là sai từ đời tám kiếp (http://www.talawas.org/?p=2000) và tôi đã cho chi tiết các điều khoản UNCLOS về việc đó. Chuyện Rockall cũng vậy, đã nhiều lần cho và nhắc lại những tài liệu đáng tin cậy chứng tỏ TN Tuấn nói sai, mà ông vẫn câu giờ, bảo là có tài liệu của bộ ngoại giao Anh nhưng… chưa kịp đọc (!!!). Không ngạc nhiên khi ông sẽ lại lôi Rockall ra nói từ đầu trong một bài nữa!

    Dường như ông quan niệm rằng “nói càng dai, càng là… học giả”?

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>