Nguyễn Hữu Liêm – Nguyễn Huệ Chi và bài ca trên cát
26/10/2010 | 6:21 sáng | 15 Comments
Category: 9 năm talawas, Chính trị - Xã hội
Thẻ: Vai trò của trí thức
Bãi cát, bãi cát ngao ngán lòng
Đường phẳng mờ mịt, đường hiểm vô cùng
Nghe ta ca “cùng đồ” một khúc
Phía Bắc núi Bắc, núi muôn lớp
Phía Nam bể Nam, sóng nghìn đợt
Sao mình anh trơ trên bãi cát?
(Cao Bá Quát, Nguyễn Huệ Chi dịch)
San Jose, tháng Mười, 2010. Nguyễn Huệ Chi đến California đúng mười năm trước. Mùa thu năm nay anh trở lại. Một con người qua cả thập niên không có gì thay đổi. Anh chỉ muốn trở lại xứ này, xứ của người ta nhưng có nhiều bạn gặp gỡ năm xưa, để mà thăm hỏi, để mà hàn huyên. Chuyện Việt Nam không có gì mới cả. Chuyện California cũng vậy. Trông anh vẫn như xưa, khỏe mạnh, vui vẻ và hồn nhiên tươi cười trong hăng say nhiệt huyết của một ông đồ nghè gốc Nghệ Tĩnh.
Huệ Chi bước vào nhà, hành trang nặng những sách và sách. Lòng thư sinh chứa đầy cổ thư trĩu kéo bước đi theo gánh nặng thời sự đang là. Đây là một Huệ Chi say mê mà cẩn trọng; can đảm nhưng không liều mình. Nhiều người vui mừng nghe tin anh đến. Họ tìm tới nơi để thăm hỏi, để chúc mừng, để cảm ơn anh. Họ thấy nơi anh như một niềm hy vọng, một tiếng nói, một đại biểu cho lương tâm thế hệ trí thức Việt Nam đang bất lực đứng ngoài lịch sử và xã hội. Khi mà cách mạng dân tộc với lòng yêu nước ngút ngàn nay đã biến thành một hệ thống quyền lực suy thoái, áp bức, có kẻ trí thức này vẫn cần cù, cương quyết, bước vào vòng cương tỏa để thắp lên một ngọn nến lương tâm cho thời cuộc.
Đêm đã về khuya, Huệ Chi ngồi kể cho thân hữu nghe về những tháng ngày lặn lội leo núi rừng Yên Tử, Đông Triều, Tuyên Quang, Thanh Hóa… để tìm ra văn bia Lý Trần, rồi học tiếng Hán, đi tận sang Tàu nghiên cứu lại, để khôi phục một nền nhân văn mà người Tàu đã bao lần muốn tiêu diệt. Anh là người đem văn học Lý-Trần về lại cho thời đại, cho con người thời nay, bắc lại một nhịp cầu văn hóa dân tộc bằng một chiều sâu đa dạng mà tổ tiên ta để lại. Anh hăng say kể lại từng chi tiết của triều đại xưa và từng mẩu chuyện con người Hà Nội hôm nay trong bối cảnh nhân văn và chính trị nhiều giới hạn khắt khe. Anh thấy trong lịch sử cái quy luật biện chứng tương tác giữa cá nhân và tổ chức mà ý thức con người là chính. Anh soi ra mối hiểm nguy từ sự kìm kẹp và chuyên chế của hệ thống – khi mà ý chí tổ chức đã trở nên một con khủng long mang đầy tính quyền lực. Như là sự sa đọa của Tây phương khi mà nguyên lý khoa học đã trở thành một nền chuyên chính kỹ thuật hữu hạn, cách mạng Việt Nam khởi đi từ chí khí trong sáng nay đã thành chính trị chuyên quyền và bất lực. Chỉ có con người – mà trí thức là những kẻ tiên phong – có thể giữ được bờ cõi nhân văn cho dân tộc trước sự tiêu hủy tàn bạo và đầy sa đọa của hệ thống quyền lực như hiện nay.
Chúng tôi cùng ngồi uống rượu với Huệ Chi trong khu vườn đêm. Trăng California vừa ló lên bên rặng núi phía đông. Anh đứng dậy đưa tay chỉ vầng trăng kia và ngâm “Trà giang thu nguyệt ca” của Cao Bá Quát. “Trăng sông Trà. Đêm nay vì ai mà trong sáng? Muôn dặm quan sơn trắng xóa một màu…” Chúng tôi lặng nghe hồn thơ của 160 năm trước nay lại trở về. Trong nhịp ngâm bi tráng của chàng nghè Nghệ Tĩnh, chúng tôi rùng mình nhận ra rằng lịch sử Việt Nam chưa hề tiến bước. Gần hai thế kỷ qua, chúng ta cũng lại bị ám ảnh bởi một hồn trăng vốn chứa nhiều âm lực điên loạn. Ôi thôi là “kỷ nguyên bóng tối” của Việt Nam. Chúng ta đã thiếu những anh hùng trí thức, những bóng dáng sĩ phu như Nguyễn Trãi, để hòng nhân văn hóa nhiệt lượng điên cuồng của lòng yêu nước Việt Nam vốn chỉ thành công trong việc cứu nước ra khỏi ngoại xâm nhưng không xây dựng được quốc gia trong thời bình. Khi ý chí cuồng say trỗi lên dưới ánh trăng tròn kia, người trí thức Việt Nam ở thế kỷ hai mươi mốt vẫn còn đeo mộng cũ. Chuyện nước nhà như gánh nặng nội thân – như một số phận làm người mà cái ta này không tìm thấy an vui, thỏa mãn trong một xã hội mà chính ta không soi rõ được bóng mình. Có phải hồn nhân văn Nguyễn Trãi đang hiện về tối nay trong chén rượu Huệ Chi?
Huệ Chi nhấn mạnh rằng cho mỗi thời đại, trí thức phải biết và có can đảm tự tái tạo lại chính mình bằng con đường dấn thân trong sáng vào công việc xã hội. Thế kỷ qua ư? Đó là thời đại của những cá nhân yêu nước nồng nàn chỉ biết hiến dâng ý chí cá thể nhằm nương mình vào làn sóng tổng thể khách quan. Cho đến khi thất vọng với đối tượng trông chờ, họ chỉ còn biết rút lui về căn phòng mong được làm những “tâm hồn cao thượng.” Đây là lúc đất nước lâm nguy. Đó là căn nguyên của vấn đề Việt Nam trong suốt thế kỷ qua. Bao nhiêu chàng trai trẻ, trí thức Việt đã nương theo cơn sóng dân tộc độc lập, nhắm mắt đi theo sức mạnh của thời đại. Dù cho trong thâm tâm vẫn từng lặng mang những nghi ngờ, uẩn khúc về giá trị cách mạng mà họ đang hy sinh cho, nhưng cuối cùng vì ánh sáng nhân văn dân tộc và thời đại đã không đủ soi sáng cho lịch sử, họ đau lòng nhìn và chấp nhận con khủng long chiến thắng đầy kiêu hãnh đang phản bội và nuốt nghiền tất cả. Huệ Chi biết thế nên anh đã không gia nhập Đảng, hoặc không được gia nhập Đảng. “Tôi luôn là người không đảng phái. Tôi đứng với tổng thể con người bằng giá trị nhân văn. Tôi không thích và tôi sợ tổ chức”, anh nói.
Cái khoảng cách tha hóa giữa tổ chức và cá nhân, giữa công dân và quốc gia, giữa nội tâm và xã hội đang hủy hoại lịch sử và con người Việt Nam. Huệ Chi nhìn thấy thời đại Lý-Trần như là một thuở hoàng kim, biểu trưng cho khả thể tính quốc gia và dân tộc, cho sự hòa nhập giữa hai vế con người và xã hội. Tức là chúng ta phải xây dựng nền tảng xã hội bằng sức mạnh tri thức trên những giá trị nhân văn để dung hóa và cai chế bớt bản chất máy móc của tập thể tổ chức. Nói như Hegel thì quốc thể là vô hồn mà công dân phải đứng trên nó. Nếu không, chúng ta lại bị rơi vào vũng lầy lịch sử và văn hóa Đông phương – tức là cá nhân luôn luôn bị bất lực với guồng máy quốc gia. Độc tài, chuyên chế không phải từ trên trời rớt xuống – mà là do sự cho phép trở nên by default bởi công dân, nhất là của trí thức. Chúng ta đừng trách ai cả. Đừng đổ lỗi cho chính quyền, đừng trách Đảng, đừng trách ngoại bang. Tất cả là lỗi của công dân, lỗi của trí thức. Tức là 160 năm qua, từ lúc Cao Bá Quát cảm tác bài “Sa hành đoản ca”, kẻ mang lỗi lớn nhất trước tòa án lương tâm lịch sử dân tộc là người trí thức Việt Nam.
Đêm đã về khuya, trở lại thư phòng, Huệ Chi vẫn thầm lặng ngồi trước bàn máy vi tính, dấn thân bằng những ngón tay, như những phím đàn điều hợp chuyện quê nhà, trao đổi với thân hữu khắp địa cầu. Rượu đã không làm anh say; trăng cũng không làm anh luỵ. Thời hoàng kim Lý-Trần đã từ lâu đi qua. Anh không không mong cầu dĩ vãng về cứu rỗi hiện tại. Thơ văn chỉ vui chơi trong phút chốc. Nhưng anh đang dấn thân trong nhẹ nhàng, khiêm tốn, trong sáng để nhắc nhở với hệ thống chính trị quyền lực về những chuyện nước nhà mà cái bộ máy vô hồn đó đang tạo ra cho dân tộc Việt Nam.
Gần ba giờ sáng, Huệ Chi bỗng ngừng tay, đứng lên, cầm ly nhỏ uống hết đáy rượu khuya, như là tiễn trăng về phía núi. Nhìn ra cửa sổ, anh ngâm tiếp, “Gió vàng đêm qua, từ cửa Trời thổi xuống. Móc trắng sương trong, lạnh suốt xương da…!” Huệ Chi trông như là chàng trai trẻ Cao Bá Quát đang chu du xứ Jakarta từ gần hai thế kỷ trước đăm nhìn ra sóng biển nước Nam dâng tràn mà cất cao lời thơ đầy chính khí.
© 2010 Nguyễn Hữu Liêm
© 2010 talawas
Bình luận
15 Comments (bài “Nguyễn Hữu Liêm – Nguyễn Huệ Chi và bài ca trên cát”)

“Nối điêu” chuyện “Tìm mèo” của bác Nguyễn Đình Đăng.
Vật lý gia: “Mèo không có trong phòng này thì nó sẽ ở một nơi khác.”
Triết gia: “Tôi đang nghĩ xem cái “tôi” lúc đang tìm mèo và “cái tôi” khi biết mèo không có trong phòng có là một không?”
Thiền sư: “Mèo không có, và đến kẻ tìm mèo cũng không có nốt.”
Triết gia Marxist: “Mèo có hay không không quan trọng, tôi đã thủ sẵn trong túi một bản vẽ con mèo rồi.”
Triết gia “thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”: “Tôi không tìm mèo, mà tìm bản vẽ con mèo trong túi triết gia Marxist!”
LỖI CỦA CHÚNG TÔI!
“Chúng ta đừng trách ai cả. Đừng đổ lỗi cho chính quyền, đừng trách Đảng, đừng trách ngoại bang. Tất cả là lỗi của công dân, lỗi của trí thức.” (Nguyễn Hữu Liêm)
Chúng tôi không trách ai cả!
Chúng tôi không đổ lỗi chính quyền!
Chúng tôi không trách Đảng!
Ai đời đi trách cứ ngoại bang?!
Tất cả là lỗi của chúng tôi!
Tất cả là lỗi của công dân, trí thức!
Không dám vạch tội chính quyền!
Không dám kết án Đảng!
Ai đời câu kết với ngoại bang?!
Đâu rồi?
Thất Trảm Sớ!
Đâu rồi người treo ấn từ quan?
Nhân sĩ đương thời đà hưu trí…
Ức Trai làm gì
mà Thị Lộ hàm oan?!
_________________
trầm kha
29 tháng 10, 2010
1) “Huệ Chi biết thế nên anh đã không gia nhập Đảng, hoặc không được gia nhập Đảng. “Tôi luôn là người không đảng phái. Tôi đứng với tổng thể con người bằng giá trị nhân văn. Tôi không thích và tôi sợ tổ chức”, anh nói.” (NHL)
Có lẽ GS Nguyễn Huệ Chi muốn nói đến các đảng phái và các tổ chức cực đoan theo kiểu phát-xít hay cộng sản. Trong một quốc gia dân chủ, chưa nói đến các tổ chức dân sự mà ngay cả các đảng chính trị, người ta vẫn có thể gia nhập và rời bỏ dễ dàng. Đảng Xanh (Green Party) ở các nước châu Âu tập hợp rất nhiều trí thức, nhưng hình thức tổ chức của họ hết sức lỏng lẻo, không có gì là kỷ luật, phi nhân văn cả. Vì vậy, bác bỏ mọi hình thức tổ chức cũng là một thái độ cực đoan chẳng khác gì đề cao mọi hình thức tổ chức.
Kẻ nắm quyền lực tuyệt đối thích hai loại trí thức: (1) xu nịnh, phục tùng (2) nhẫn nhịn, chịu đựng. Loại thứ nhất là trụ cột của chế độ độc tài, loại thứ hai có thể không ưa chế độ nhưng cũng “by default” góp phần giúp cho chế độ kéo dài sự tồn tại, nghĩa là can tội đồng lõa. Nhưng còn có một loại thứ ba: trí thức vô chính phủ (arnarchists) ghét bỏ mọi thứ tổ chức. Loại thứ ba này cho dù có làm cho kẻ cầm quyền choáng lên một chút, nhưng khi bình tĩnh lại, họ cảm thấy cũng chẳng có gì đáng sợ. Trong quá khứ, một số trí thức vô chính phủ đã vô tình giúp đỡ cho các nhà độc tài. Chẳng phải hồi thập niên 1930-40, Nguyễn An Ninh đã vô tình góp thêm sức mạnh cho đảng cộng sản đó sao? Hoặc như Noam Chomsky – nhà trí thức vô chính phủ nổi tiếng ở Hoa Kỳ, trong khi đấu tranh chống “chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ” by default đã biện hộ cho các chế độ độc tài nổi tiếng như Cuba, Việt Nam.
2) “Độc tài, chuyên chế không phải từ trên trời rớt xuống – mà là do sự cho phép trở nên by default bởi công dân, nhất là của trí thức. Chúng ta đừng trách ai cả. Đừng đổ lỗi cho chính quyền, đừng trách Đảng, đừng trách ngoại bang. Tất cả là lỗi của công dân, lỗi của trí thức. Tức là 160 năm qua, từ lúc Cao Bá Quát cảm tác bài “Sa hành đoản ca”, kẻ mang lỗi lớn nhất trước tòa án lương tâm lịch sử dân tộc là người trí thức Việt Nam.” (NHL)
Lập luận này hình như muốn đánh đồng nạn nhân với thủ phạm. Khi người trí thức không có quyền lực bị đàn áp, khống chế, thậm chí trở thành hèn nhát, xu phụ, thì lỗi đầu tiên là ở chế độ độc tài, đâu phải lỗi ở trí thức? Sao lại trách trí thức nói chung? Nếu có trách thì chỉ nên trách những Tiến sĩ, Phó tiến sĩ đã và đang nắm giữ các vị trí quyền lực hoặc xu nịnh, cầu an, đồng lõa với các chế độ độc tài.
3) Những nhà trí thức nếu chỉ dừng lại ở hoàn cảnh cô đơn thì không thể làm cho xã hội trở thành dân chủ được. Chỉ khi nào trí thức dấn thân thêm một bước nữa, nhập cuộc cùng với phong trào quần chúng thì mới mong đem đến tự do cho nhân dân. Phong trào ủng hộ Dreyfus ở Pháp đã làm thay đổi cả một hệ thống chính trị đâu phải chỉ do những trí thức “đem triết học vào chính trị” để làm dáng hay đấu tranh theo kiểu tài tử, lãng mạn!
Sau cùng thì tôi cảm thấy ngờ vực: ông Nguyễn Hữu Liêm đã thật sự hiểu được GS Nguyễn Huệ Chi hay chưa? Dù sao thì hai người ở trong hai hoàn cảnh khác nhau và rất khó hiểu nhau. Bởi vì Giáo sư Nguyễn Huệ Chi còn bị công an làm khó dễ, chứ Luật sư Nguyễn Hữu Liêm thì đi đi về về thoải mái, có khi còn có xe còi hụ đưa đón. Một người trong hoàn cảnh này làm sao có thể hiểu tâm trạng của người sống trong hoàn cảnh trái ngược?
Ngôn từ triết học thường dễ làm cho người ta lầm lẫn, biến cái đúng thành cái sai, cái rõ ràng thành cái lờ mờ. Cho nên không phải ngẫu nhiên mà các nhà trí thức dễ sai lầm, ngộ nhận hơn là những người lao động ít chữ nghĩa.Và lại càng khó nhận ra sai lầm hơn những người ít chữ nghĩa, vì cái tật ngụy biện của mình.
Triết gia mác-xít “lỡ” đọc phải BVNS chìa mẩu xương đuôi mèo bằng nhựa tái sinh hét toáng lên: “Tôi bắt được nó rồi!”
Triết gia Đặng Tiểu Bình: “mèo trắng, mèo đen miễn bắt được chuột” Tớ thêm “nhưng mèo đỏ vì không bắt được chuột nên làm lãnh đạo”.
Triết gia định hướng XHCN: mặc dù con này có đầu dê và mình chó, cái đuôi là đuôi mèo nên nó vẫn là mèo
Triết gia còi hụ: Con mèo-khủng long có chà đạp đến khốn khổ đất nước và người dân cũng không nên trách nó. Nó cũng biết nghe lắm. Ngày xưa nó giết người như ngóe vì bất cứ điều gì, bây giờ nó chỉ giết vì không đội mũ bảo hiểm. Thế là tiến bộ, thế là biện chứng.
Trí thức, cũng như nhân dân, không thể bị “cách chức” để bầu lên một nhân dân hay một tầng lớp trí thức khác. Nói rằng trí thức có cái tội nặng nhất, đối với tôi cũng gần như nói nhân dân có cái tội nặng nhất vậy. Ở một mặt nào đấy, có thể xem là đúng, vì quan từ trong dân mà ra. Cái tội này còn là cái tội nghiệp. Cái nghiệp của nhân dân, của trí thức. Dân trí thấp không thể đòi quan trí cao. Tuy nhiên, nhân dân cũng có một câu thế này: “đứng mũi chịu sào”. Để xét xem cái tội ai lớn nhất thì cần phải thấy là ai có khả năng đem đến sự thay đổi dễ dàng nhất cho xã hội và cho dân tộc: người dân đen, người trí thức, hay là người làm chính trị?
Gửi bác Nguyễn Đình Đăng: Chuyện cười của bác chắc do bác tự nghĩ ra [tôi đoán mò vậy], đọc mắc cười quá. Xin cám ơn bác.
Trí thức có tội nặng nhưng không phải là nặng nhất.
Bài viết của Nguyễn Hữu Liêm lần này là một bài chính luận đầy suy tư, chất thơ và cảm xúc.
Đúng là trong “cuộc trần ai” dai dẳng này cả dân tộc đều có lỗi. Nhưng nếu đổ tội nặng nhất cho trí thức thì hơi oan. Dù người dân bình thường nhất cũng có lỗi vì đã ngu muội, cầu an, im lặng chịu đựng, không biết phản kháng hay hùa theo cái ác nhưng tội nặng nhất là những kẻ cầm quyền. Với quyền lực và sự độc đoán, độc ác, tha hóa, họ đã tàn nhẫn đưa dân tộc đến lầm than và ngang nhiên hưởng thụ trên máu xương và mồ hôi, nước mắt của nhân dân.
Hầu như đã là con người, ai cũng vì quyền lợi nhưng trí thức có trí tuệ, lại yếu đuối nên thường so đo tính toán và hèn nhát hơn các thành phần khác. Đặc biệt tội của trí thức rất nặng khi luôn “phò chính thống” không phân biệt đúng sai, thậm chí biết sai nhưng vẫn tung hô ủng hộ để có chút chức vụ, lợi quyền. Những kẻ đó giúp quyền lực độc ác vững mạnh, về mặt tinh thần, có hiệu quả không kém bộ máy đàn áp về vật chất, làm thành vòng kim cô trói siết nhân dân vào u mê. Nói “kẻ mang lỗi lớn nhất trước tòa án lương tâm và lịch sử dân tộc là người trí thức Việt Nam” có lý về phương diện tinh thần vì trí thức thường tự hào là lương tri của dân tộc.
Tuy nhiên tự bản chất, trí thức suy tư và phản kháng về mặt tư tưởng chứ không phải là người tổ chức và hành động. Dù sao mỗi thời kỳ lịch sử, nếu vẫn có một số cá nhân trí thức với trí tuệ ưu việt, phẩm chất cao quý, dám phản kháng cái ác và cường quyền, chỉ ra con đường đúng đắn, dân tộc đó vẫn còn hi vọng.
Tiếu lâm về “Sự khác nhau giữa vật lý gia, triết gia, và triết gia Marxist”
Vật lý gia giống như một người đi tìm một con mèo đen trong một cái phòng tối đen mà con mèo thì có thể có hoặc không có trong phòng.
Triết gia giống như một người đi tìm một con mèo đen trong một cái phòng tối đen mà con mèo thì không có trong phòng.
Triết gia Marxist giống như một người đi tìm một con mèo đen trong một cái phòng tối đen mà con mèo thì không có trong phòng, nhưng triết gia Marxist thỉnh thoảng lại hét toáng lên: “Tôi bắt được nó rồi!”
Cảm ơn ông Nguyễn Hữu Liêm về bài viết này. Những cảm xúc rất chân thành. Tôi mong ông Liêm có những bài như thế, đừng như bài Đại học Duy Tân của ông gần đây. Hy vọng đó chỉ là 1 phút xao nhãng.
Ông Bùi Văn Nam Sơn – nhà nghiên cứu triết học – từng nói rằng CHÍNH TRỊ như cái xương mà tuyệt đại đa số các triết gia và các nhà nghiên cứu triết học bị hóc: nuốt không vào, khạc không ra. Càng nghiêm túc và đào sâu bao nhiêu thì dường như cái xương lại càng to ra bấy nhiêu.
Đó là lý do vì sao mà ông Liêm (một người cũng nghiêm túc nghiên cứu triết học) có nhiều bài viết hay thông điệp không rõ ràng. Cả bức chân dung ông Huệ Chi này cũng vậy.
Chẳng hạn: Huệ Chi biết thế NÊN anh đã không [xin] gia nhập Đảng, HOẶC [xin nhưng] không được gia nhập Đảng. – một câu đoán mò thông thường.
Chẳng hạn: vừa “đau lòng nhìn và chấp nhận” lại vừa “dấn thân để nhắc nhở”.
Chẳng hạn: vừa “Đừng đổ lỗi cho chính quyền, đừng trách Đảng, đừng trách ngoại bang. Tất cả là lỗi của công dân, lỗi của trí thức.” nhưng lại vừa ví chính quyền với khủng long, vừa bảo chính quyền là vô hồn, phản bội,…
Tóm lại, qua bàn tay của một nhà nghiên cứu triết học bị “hóc xương” thì người ta có một bức chân dung với gam mầu tối om về một ông Huệ Chi nào đó cũng đang bị “hóc xương”.
Giáo sư Nguyễn Huệ Chi như một bức tranh, ông Nguyễn Hữu Liêm, vì nhiệt tình, muốn nó đẹp hơn nên dùng màu mè, cọ ra tô vẽ thêm. Tiếc rằng ông không phải là họa sĩ!
@ Hoàng Trường Sa
Adamo ca Aline tại đây
và
ND Chris ca lời Việt từ phút 2:20 tại đây
Còn đây là Patrick Sebatien nhại Aline trong parodie Alain
@ Nguyễn Đình Đăng,
“J’avais dessiné sur le sable
Son doux visage qui me souriait
Puis il a plu sur cette plage
Dans cet orage, elle a disparu
Et j’ai crié, crié, Aline, pour qu’elle revienne
Et j’ai pleuré, pleuré, oh! j’avais trop de peine”
(Trích từ “Aline”của Christophe)
Tôi xin mạo muội dịch thoát bài trên như sau:
Anh vẽ gương mặt em lên cát
Nó dịu dàng nhìn anh như ca hát
Than ôi cơn mưa nào rơi độc ác
Xóa vỡ tan bóng em nhòa nhạt
Anh hét lên: em đâu, em đâu rồi
Và anh khóc, khóc to, lòng tan nát.
Một bài viết xuất sắc, nặng trĩu tâm sự của một trí thức tuy chân bước đi mà lòng vẫn “ngập ngừng”… Bỏ thì thương mà vương thì tội là thế.
Và đấy chính là thái độ trí thức mang nhãn hiệu Việt Nam!!
“J’avais dessiné sur le sable
Son doux visage qui me souriait
Puis il a plu sur cette plage
Dans cet orage, elle a disparu
Et j’ai crié, crié, Aline, pour qu’elle revienne
Et j’ai pleuré, pleuré, oh! j’avais trop de peine”
“Ngồi hoạ người tình vào bãi cát vàng
Hình dáng em ngoan, nụ cười ôi mến thương
Rồi trời mịt mù, làn mưa rồi xoá nhòa
Hình dáng nên thơ chìm dần trong bão mưa
Rồi anh sẽ hét, sẽ hét lên, Aline, gọi tên người quen
Rồi anh sẽ khóc, sẽ khóc lên, khóc lên, lòng đau triền miên”
(Trích từ “Aline”của Christophe, lời Việt của Phạm Duy)
Ôi! Trí thức thời nay sao nhục thế!? (Tô Hải)