talawas blog

Chuyên mục:

Thơ ____ Tạo tuyến thơ

13/04/2009 | 5:24 sáng | 1 bình luận

Tác giả: Khải Minh

Category: Văn học - Nghệ thuật
Thẻ:

I. Ba thí dụ

1. Rụng rồi

Mời bạn đọc bài thơ sau của Hàn Mặc Tử (các bài thơ của Hàn Mặc Tử trong bài này đã được trích từ http://www.vietnamsingle.com/p_tuabai.asp?TID=1005)

Rụng rồi

Thơ chưa ra khỏi bút

Giọt mực đã rụng rồi

Lòng tôi chưa kịp nói

Giấy đã toát mồ hôi.

Thật khó mà cảm nhận tâm tưởng bài thơ này với câu cú úp mở và với những hình ảnh nặng tính nghề nghiệp về thơ như “bút” “mực” “giấy” phải không? Mời bạn cùng tôi mở rộng lớp áo ngôn ngữ chật chội kia bằng cách sáng tác thêm những tuyến như sau:

             Rụng rồi __________  Duyên sắc

Thơ chưa ra khỏi bút _____ Người chưa chớp làn mi

Giọt mực đã rụng rồi  ____ Thế gian đà túy lúy

Lòng tôi chưa kịp nói ____  Tình tôi chưa kịp nghĩ

Giấy đã toát mồ hôi.   ____ Hồn đã thoát tục y

Bây giờ bài thơ đã có hai hoặc nhiều phần: phần nguyên thủy là bài thơ gốc và những phần hay vế thêm vào bản gốc gọi là tuyến thơ. Phần nguyên thủy “Rụng rồi” có thể làm chúng ta hình dung cảnh Hàn Mặc Tử rụng rời trước một ý thơ đẹp, đẹp đến nỗi bút mực không tả được và đẹp đến độ hồn phải toát mồ hôi. Phần “Duyên sắc” chúng ta tạm thay ý thơ đẹp của Hàn Mặc Tử bằng một người đẹp, đẹp đến nỗi người thường phải sững sờ, đẹp đến độ tâm tưởng chúng ta vượt thoát khỏi tầng sắc dục. Nếu bạn thuộc dạng u mê như tôi thì phần hai giúp khai sáng phần một. Nếu ngược lại thì “Rụng rồi” khai sáng cho “Duyên sắc”. Từ đây khi sáng tác, chúng ta có thể ứng dụng cả hai phần để chúng cảm ứng lẫn nhau thành một bài thơ mới.

Áp dụng tương tự như vậy, thì các bài thơ có câu cú úp mở, ý tứ khó hiểu, cảnh lạ kỳ bí sẽ được kỹ thuật tạo tuyến này mở ra nhiều dạng mới có nội dung cảm ứng với từng người và với từng hoàn cảnh. Thí dụ với bài “Đây thôn Vỹ Dạ” cũng của Hàn Mặc Tử với nhiều hình ảnh đẹp nhưng ý tứ lại có vẻ rời rạc và nội dung vu vơ. Chúng ta thử tạo dạng mới cho bài này như sau:

 2. Đây thôn Vỹ Dạ

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?  ________ Tình yêu___ xa

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên. _______ lấp lánh đến___ ngẩn ngơ __ qua

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc  _______ Thân thể chừng khao khát

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.    _______  Duyên hẹn___  duyên kề duyên

Gió theo lối gió, mây đường mây,  _____ Người xa người__ muôn cớ

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay… ____ Tình đoạn tình __ từng cơn

Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó,    ____ đêm xa __ đêm tìm nhớ

Có chở trăng về kịp tối nay?           _____ Ước ao __ những chập chờn

Mơ khách đường xa, khách đường xa  ___ lối  về __ hoang mang xa

Áo em trắng quá nhìn không ra…   __ bao la __ duyên nhập nhòa

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh ___ trần gian phần ảo ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà? _______ bóng hồ nghi ___ rộn ràng

Tóm lại, với hai thí dụ trên, chúng ta thấy thơ không lệ thuộc vào hệ thống logic hoặc không có bố cục kiểu truyền thông truyền thống (nghĩa là có thể giải mã). Mỗi bài thơ nguyên thủy là mỗi dạng mở, là mỗi sáng tạo lưng chừng, là mỗi tâm tình chờ đợi. Hãy tạo tuyến để dạng thơ trở thành sống động từ nguyên thủy, qua người sáng tác đến người đọc và với từng hoàn cảnh đọc.

3. Con cóc

Bài này đã không liên quan gì đến thơ mà còn phản lại thơ. Đó là ý nghĩa nguyên thủy của câu chuyện nhân gian về bài “Thơ con cóc” này. Tại sao? Chúng ta hãy tạo tuyến để xem mấy câu sau ở dạng gì:

Con cóc trong hang __ mùa xuân ___   5  __  A ___ Xanh __  Sinh

Con cóc nhảy ra      __ mùa hạ      __  10 __  B ___ Đỏ     __  Lão

Con cóc nhảy ra     __  mùa hạ      __  10 __  B ___ Đỏ     __  Lão

Con cóc ngồi đó    ___ mùa thu      _  15 __  C ___ Tím   ___  Bệnh

Con cóc ngồi đó    __  mùa thu      _  15 __  C ___ Tím   ___  Bệnh

Con cóc nhảy đi   __  mùa đông    _  20 __  D ___ Vàng  ___ Tử

Chúng ta thấy ý nghĩa các câu trên có dạng tịnh tiến thuần logic. Nếu một em bé được dạy là thời gian có 4 mùa thì khi hỏi hay khi nhắc em sau mùa xuân là mùa gì thì em sẽ đọc một lèo: hạ-thu-đông. Cũng vậy khi một em học tiểu chơi đếm 5-10-15 hay một em mẫu giáo học A-B-C-D v.v.. đều có dạng tư duy tương tự. Bài Con cóc này còn được phóng đại với những câu lập lại hai lần cộng với công phu sáng tác của 3 tác giả để chúng ta cũng như người khách qua đường vô danh xa xưa kia phê bình là không có gì là thơ ở đây, dù là thơ dở.

II. Kỹ thuật tạo tuyến

1. Khái niệm

a. Tạo tuyến

Chúng ta lấy cấp độ tư duy để định chỗ cho kỹ thuật tạo tuyến ở mức nghệ thuật. Tuần tự như sau:

a. Tư duy tịnh tiến (diễn tả, tự thuật, vần, điệu…)

b. Tư duy nhị nguyên (so sánh, niêm, đối…)

c. Tư duy biện chứng (hiện tượng luận, khổ, đoạn, bố cục, giải mã…)

d. Tư duy nghệ thuật. (tạo tuyến, hòa âm, khai ý, thơ diễn triển bằng thơ, đa đảng, nhiều chiều…)

Có thể so sánh một phần kỹ thuật tạo tuyến với các kỹ thuật hòa âm trong âm nhạc hoặc như sự tương tạo giữa các phạm trù “Chủ thể”, “Thể”, “Khách thể”, “Đồng thể” trong triết học. Đơn giản hơn nữa, hãy ví các tuyến như những thành phần cấu tạo nên một món ăn: phở chẳng hạn. Trong phở có nước, có bún, có thịt và nhiều thứ khác. Người nấu phở giống như người sáng tác. Có người lấy nước làm gốc, có người lấy bún làm gốc rồi vừa nấu vừa gia giảm thứ này thứ kia cho thành một bát phở ngon. Tương tự như người nấu phở, người sáng tác uyển chuyển sự cảm ứng giữa bản gốc (thường là của chính mình) với các tuyến sáng tạo để hình thành một bài thơ.

Như thế về hình thức chúng ta có các loại tuyến ngang, tuyến dọc, tuyến chồng chéo hay nhiều hơn nữa tùy theo mỗi người.

Về nội dung chúng ta các loại tuyến đi từ tư duy tịnh tiến đến tư duy nghệ thuật để cảm ứng được với từng người thưởng thức và từng hoàn cảnh sáng tạo. Cảm ứng ở đây xin hiểu là dạng truyền thông của thơ. Nói đến truyền thông là nói đến các loại tư duy logic từ tịnh tiến đến biện chứng nhưng với thơ, chúng ta ưu tiên phần tư duy nghệ thuật nhiều hơn các phần tư duy khác.

b. Ký hiệu trình bày

Trong khi chờ sự thỏa thuận hay tìm những ký hiệu tối ưu để diễn đạt các chiều của các tuyến thơ, chúng ta tạm sử dụng ở đây ký hiệu một đường kẻ “___” (có thể uyển chuyển dài, ngắn, đậm, nhạt, liền, đứt…) để tách và để diễn tả cảm ứng các tuyến ngang.

Đường kẻ này tạm thời đóng thêm vai gợi hình ảnh, tạo không gian hay diễn nhịp nhạc trong bài thơ. Thí dụ cách trình bày và phân tích của bài “Cảm giác” nguyên gốc tiếng Trung Quốc được Dư Thị Hoàn chuyển dịch ở http://hoiluan.vanhocvietnam.org, chúng ta xin trích lại dưới đây:

Cảm giác

Bầu trời màu xám

Con đường màu xám

Toà nhà màu xám

Cơn mưa màu xám

Trong mảng màu tro tàn

          chết tiệt kia

Đi qua

hai đứa bé

Một đứa nõn nà xanh

Một đứa tươi tắn đỏ.

Bài này giống như chuyển từ tranh sang chữ. Phần “Tranh” ở đây vừa trừu tượng (mảng mầu Xám) vừa hiện thực (có hai đứa bé). Phần “chữ” ở đây có vẻ chỉ là chụp lại hình thức chứ chưa thấy phần chuyển diễn nội dung. Hãy phân tích:

1. Đầu đề “Cảm giác” đứng trơ trọi mang tính chung chung giống văn xuôi, hay bài học, hay bất cứ văn bản không nghệ thuật nào đó. Chúng ta thử thêm một tuyến nữa để gợi ra một cái gì đó nghi vấn hơn, cụ thể hơn, tò mò hơn. Ký hiệu tuyến nên đủ dài hoặc rộng để diễn tả độ lớn hoặc mở của đề bài. Thí dụ:

Cảm giác _________ trắng

2. Vần “Xám” dội 4 lần liên tiếp vào tai người đọc đã tạo cảm giác nhàm chán. Thơ Lục bát dù có 3 vần bằng (êm, nhẹ, vang) nối kết với nhau nhưng cũng không dám đặt lì ở cuối câu mà phải có yêu vận có cước vận cho đỡ nhàm. Huống gì “xám” ở đây là vần trắc. Để tránh nhàm tai, chúng ta thử thêm những tuyến mới vào mỗi câu. Ký hiệu trình bày các tuyến này nên thiên về tính cảm ứng nhiều hơn là tính so sánh. Thí dụ:

Con đường màu xám ______ Trung Hoa

Toà nhà màu xám ________ Phủ Cấm Thành

Cơn mưa màu xám _______ pháp trường _____ vô tội

3. Ba từ “chết tiệt kia” là chỗ duy nhất nhà thơ bày tỏ cảm tưởng, nhưng chúng thật vô duyên và ngạo mạn. Nếu tác giả đừng chen vào thì cường độ của tổng thể bài thơ đã tăng rộng và mạnh  hơn. Đằng này cắt ngang bài bằng cách thêm cái tâm giận hờn của tác giả vào đã giống như chặt một con đường vô tận ra làm hai đồng thời khiến bài thơ biến thành nhỏ bé đi. Theo tôi nên bỏ hẳn ba từ “chết tiệt kia” trong bài đi nếu không được thì nên thêm tuyến vào để dung hòa hoặc xóa nhòa thành kiến của tác giả đi. Thí dụ:

chết tiệt kia ________ bao người hờ hững

4. “Đi qua” một cách cụt ngủn ở đây đã biến bài thơ thành dạng chết, giống như đọc sách hay nghe kể lại, nghĩa là đã làm bài thơ mất dạng trực diễn (live) đi. “Đi qua” diễn tả cảnh di chuyển nhưng ở đây nó đã không làm cho người đọc thấy cảnh đi từ chuyển động này tiếp nối chuyển động kia đi rất cần thiết trong thơ. Kết quả là người đọc không nhập vào hành động “đi qua” này, nghĩa là chỉ có một ai đó “đi qua” mà thôi chứ không có nhiều người. Như vậy “Đi qua” chỉ có một lần ở đây trở thành hụt hẫng. Chúng ta thử thêm vài ba lần “đi qua” nữa để tạo hình ảnh vừa sống động vừa có nhiều người “đi qua”. Rồi  cảnh nhiều người đi qua nhiều lần sẽ biến thành điệp ngữ ẩn vang vào tâm tưởng người đọc khiến họ nhập tự động vào hành động “đi qua” cùng với mọi người trong bài thơ. Ở đây ngoài cách thêm hai ba lần “đi qua”, chúng ta cần trình bày thêm bằng ký hiệu hay một cách cấu trúc nào đó cho bài thơ có không gian diễn tả sự “Đi qua” trong lặng lẽ để mỗi lần “đi qua” sẽ mỗi thêm lưu luyến và thêm tự vấn cho người đọc. Thí dụ cách ký hiệu diễn tả được không gian và nhịp chuyển của hành động “Đi qua” sau:

Đi qua ___________đi ___ qua – – – – đi – – – – qua

5. Hình ảnh “Hai đứa bé” ở đây có vẻ thiếu sự sống động. Vì nếu giữ như bản gốc người đọc có cảm giác là chỉ có hai đứa bé mà thôi. Hơn nữa “Đi qua” lại viết hoa và đặt trên vế “hai đứa bé”, điều này tạo sự mập mờ không biết là có “hai đứa bé đi qua” hay có hai đứa bé đứng một chỗ trong tranh, nhất là lại thêm cảm giác đứng cho người ta ngắm khi nhồi thêm các tính từ “nõn nà xanh”, “tươi tắn đỏ”. Khi đóng lại hay giới hạn lại chỉ “có hai” thì tầm nhìn, tâm tư, tư duy của người đọc bị đóng lại theo. Hai câu cuối này cũng còn hình thức đối ngẫu. Cách đối này kéo tư duy người đọc về thời tư duy nhị nguyên xưa. Chúng ta nên viết lại “hai đứa bé” thành “có hai đứa bé”. Như vậy bài thơ sẽ gợi ý là có nhiều người, có nhiều đứa bé nhưng nổi nhất là hai đứa thật xanh thật đỏ này. Chúng ta cũng phải thêm ký hiệu tạo tuyến để trình bày hình ảnh hai đứa bé này là một nhóm người đi qua trong một không gian nào đó. Thí dụ thay vì viết ngay đầu dòng như bản gốc, chúng ta dùng ký hiệu tuyến thơ để định vị trí đang đi qua của hai đứa bé trong không gian của bài thơ.:

Đi qua ___________đi ___ qua – – – – đi – – – – qua

________________ có hai đứa bé

Và toàn bài thơ kia có thể có dạng mới như sau:

~~~~~~ Cảm giác _________ trắng

Bầu trời màu xám

Con đường màu xám ______ Trung Hoa

Toà nhà màu xám ________ Tử Cấm Thành

Cơn mưa màu xám _______ pháp trường _____ vô tội

Trong mảng màu tro tàn ___ hồn trợn mắt

chết tiệt kia ________ bao người hờ hững

Đi qua ___________đi ___ qua – – – – đi – – – – qua

________________ có hai đứa bé

Một đứa nõn nà xanh __________ hẹn mai trở lại

Một đứa tươi tắn đỏ. __________ hối hả đi qua.

III. Kết luận

Đây chỉ là đại cương về lý thuyết tạo tuyến cho khuôn khổ một bài báo để mọi người cùng đọc và góp ý. Quí vị nào cần lý thuyết đầy đủ hơn, xin liên lạc riêng với chúng tôi.

© 2009 Khải Minh

© 2009 talawas blog

Bình luận

1 bình luận (bài “Thơ ____ Tạo tuyến thơ”)

  1. Nguyên viết:

    Nguyên nói:
    13/04/2009 lúc 10:54 sáng

    http://www.talawas.org/?p=2216&cpage#comment-638

    [ Riêng về thi ca trên Talawas gần đây tôi thấy có bài khảo luận “Thơ – Tạo tuyến thơ” của tác giả Khải Minh cho độc giả 1 cái nhìn rất mới về thơ nhưng tiếc là tác giả tạo tuyến thơ qua những nền tảng cũ. Dầu sao phần % recycled trong “Tạo tuyến thơ” (tương đối) rất ít. Rất mong phản hồi để học hỏi thêm…]

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>