Trần Kiêm Đoàn – Phật Ngọc trong mắt ai
08/10/2010 | 12:58 sáng | 141 Comments
Category: Tôn giáo
Thẻ: Phật Ngọc
Đã hơn một năm rưỡi, thường xuyên xem hình, đọc bài viết, nghe lời luận bàn, theo dõi tin đồn về Phật Ngọc[1] và hiện tượng Phật Ngọc, nhưng mãi đến hôm nay tôi mới được tiếp cận và chiêm bái trong thầm lặng riêng tư với Phật Ngọc ngay giữa rừng người. Quá trình nghĩ về và đến với trong mối liên hệ nhân quả có khi chỉ là một. Nhân quả đồng thời. Nhân quả nối đuôi nhau trong chớp mắt. Nhưng cũng có khi là con đường dài biền biệt, có khi hết cả đời không mong gì thấy được nhân thành quả. Mây trắng có thể chẳng bao giờ thành mưa nếu trên đường gió lộng gặp trời xanh và nắng ấm. Nghĩ về và thực chứng là đi từ hư đến thật; từ vọng đến chân.
Sáng Chủ nhật (3-10-2010), tại chùa Kim Quang, thành phố thủ phủ tiểu bang California, theo sau những nghi lễ đầy âm thanh và màu sắc, tượng Phật Ngọc đã chính thức được trưng bày trước đại chúng. Hơn một trăm tăng ni và sáu nghìn người (theo quan sát và ước tính của nhật báo Sacramento Bee[2]) gồm quan khách đồng hương cũng như người nước ngoài, thân hữu và Phật tử tham dự nghi thức khai mạc lễ hội cung nghinh Phật Ngọc. Khi toàn hình ngôi tượng được trưng bày trong âm thanh trầm vọng của tiếng cầu kinh niệm Phật hòa quyện với tiếng vỗ tay nồng nhiệt của đại chúng, tôi mới chợt hiểu nghệ thuật biểu hiện tâm linh có con đường bay riêng của nó mà phương tiện diễn đạt của ngôn ngữ và tranh luận của lý trí sẽ trở thành bất lực, vô phương.
Khai mạc Lễ hội cung nghinh Phật Ngọc tại chùa Kim Quang, Sacramento
Bên cạnh tiền đình với nhiều đường nét mỹ thuật của ngôi chùa Kim Quang mới được tái tạo và khánh thành chưa lâu là lễ đài tôn trí tượng Phật Ngọc. Màu xanh ngọc bích bóng ngời của thân tượng phản chiếu nắng vàng mùa Thu nổi bật giữa rừng áo vàng của quý tăng ni, hòa với màu lam dịu hiền của nhiều đơn vị Gia đình Phật tử khắp nơi tụ về đã tạo thành một bức tranh mang tính pháp hội thật nhu hòa mà cũng sinh động đầy thu hút.
Gặp dịp, tôi dán mắt mình quan chiêm ngôi tượng Phật bằng Ngọc để cố tìm cho ra những đường nét hiển hiện đầy thiêng liêng mà nhiều người đã từng ca tụng. Nhưng tất cả hiện ra trước mắt tôi là một tác phẩm điêu khắc mỹ thuật tạc ra từ một chất liệu vật thể quý hiếm mang bóng dáng đức Phật. Thật ra, mọi hình tướng tượng đài tự bản chất là một sự phỏng định không quy ước. Đó chỉ là cách thể hiện cụ thể cái “sự” bắt nguồn từ cái “lý”; cái dụng thể hiện cho cái ứng. Vì vậy, càng tranh luận hơn thua, đúng sai, tốt xấu, cao thấp về niềm tin tôn giáo “linh tại ngã, bất linh tại ngã” càng có cơ dẫn tới sự xung đột cá nhân và phân hóa tình người chẳng có lợi cho ai mà chỉ làm dày đặc thêm bóng tối vô minh của cực đoan và chấp ngã.
Mãi đến khi mắt rời ngôi tượng, quan sát chung quanh, tôi mới thật sự bắt gặp những gì mình chưa thấy qua đôi mắt trần vật lý. Đó là hình ảnh phản chiếu long lanh hình tượng Phật Ngọc trong đôi mắt của hàng nghìn người đang chiêm bái. Tâm thế nào thì ảnh tượng Phật Ngọc sẽ hiện ra trong mắt như thế ấy. Sự mặc khải của dòng trực cảm tâm linh không đo lường hay dò tìm được bằng những phương tiện phàm trần quy ước. Sẽ không ai có đủ khả năng phân tích và lý giải được những gì thuộc về phạm trù tâm linh, tôn giáo trước một khối người đông tới sáu nghìn quanh khuôn viên chùa Kim Quang hôm nay. Tất cả đều như đang trầm lắng lại bằng sự tĩnh tâm quan chiêm cùng một đối tượng: Phật Ngọc.
Xin nghỉ chân rong chơi một chút loanh quanh dòng Tâm lý Trị liệu Thực hành (Practical Psychotherapy) hiện đại. Những tay nghiên cứu tâm lý sừng sỏ thường nói đến sự vi tế và giao hưởng đầy sinh động của năng lượng, sóng và tần số xuất phát từ tâm thức và đời sống thực tế của mỗi con người. Năng lượng lành (thanh khí), năng lượng ác (trọc khí) vần vũ xuôi ngược thường xuyên trong trời đất bao la từ vô thủy đến vô chung. Năng lượng nhiều hay ít tùy theo sóng cao thấp của thể lý và tâm linh. Sóng lớn hay nhỏ, vi tế hay thô trần tùy theo mức độ lành hay dữ của năng lượng. Tần số là cửa ngõ phát tán và thu hút năng lượng. Cửa ngõ mở rộng, đóng hờ hay khép kín đều phát xuất từ tâm và thức. Xin nhớ lại chuyện “Đi Chùa Hương”: Cô bé bận quần lĩnh áo the mới đi lễ hội chùa Hương với Thầy Mẹ. Chàng thư sinh lòng phơi phới lên chùa chiêm bái. Năng lượng lành xuất hiện. Cả hai không quen nhau nhưng cùng được tưới tẩm trong dòng suối tâm linh “Nam mô A Di Đà” của đại chúng. Mỗi bên đều phát tán và thu nhiễm năng lượng của bên kia. Thuyền càng tới gần chùa, làn sóng tâm linh của cá nhân và đại chúng càng cuồn cuộn vực dậy trong biển năng lượng thanh thoát của vạn lời cầu nguyện phát ra từ những tâm thành. Tần số tâm thức của đôi lứa thanh xuân cùng cường điệu bắt gặp nhau nhẹ nhàng và tự nhiên như đến từ tiền kiếp: “Em ư? Em không cầu. Đường vẫn thấy đi mau. Chàng cũng cho như thế. Ra ta hợp tâm đầu.”
Sự nghiên cứu về năng lượng, sóng và tần số thuộc về lĩnh vực tâm linh của khoa Tâm lý Trị liệu Thực hành khởi từ thời đại cổ sơ của người thượng cổ khi chưa có hình thức tôn giáo ra đời. Phật và Chúa mấy chục nghìn năm sau mới xuất hiện. Đó là khi loài người thực hành nếp sinh hoạt tâm linh qua những hình thái bái vọng thiên nhiên hay ngẫu tượng. Tiến thêm bước nữa là thời kỳ Bái Vật giáo; rồi Phiếm Thần giáo, Đa Thần giáo. Nhiều bộ lạc chỉ chiêm bái và thờ cúng một tảng đá đầu truông, một con suối, một ngọn núi, một dòng sông đầu làng mà họ hết lòng tín cẩn và cầu nguyện. Khi những năng lượng tâm linh vi tế ẩn chứa phần lớn là năng lượng lành của một khối người có chung một tảng đá, một con suối, một ngọn núi, một dòng sông… làm đối tượng “chứng tri” thì năng lượng lành hay sóng, tần số tâm linh của cả một khối người đông đảo có sự tương tác giao thoa. Đó là một gia tài tâm linh tích lũy càng ngày càng lớn của một tập thể có chung niềm tin trong cùng một tín hiệu. Gặp khi nguy biến, thành tâm cầu nguyện là lúc cá nhân bị nạn “giải mã” (như mở password ngày nay) để nhận nguồn năng lượng lành đã tích lũy. Nếu minh họa bằng hình tượng cho dễ hiểu thì cũng tương tự như hoạt động tích lũy và sử dụng tài sản – gởi và rút tiền – qua trương mục của một ngân hàng trung tâm. Kẻ tích thiện làm lành có vốn giàu to. Kẻ độc ác sẽ bị trắng tay hay phá sản[3].
Với tinh thần Phật giáo “vô lượng pháp môn tu” – thì những ý kiến cá nhân hay nhóm phái chủ quan, cảm tính, cực đoan là phi Phật giáo vì đi ngược lại con đường Trung Đạo cố hữu của nhà Phật. Nói và viết về đạo Phật – con đường thênh thang mây trắng – mà phải nhăn trán, nhíu mày loay hoay mãi với tâm lý uẩn ức tiêu cực quanh mấy chuyện được thua, giàu nghèo, có không… trong giới hạn cá nhân nhỏ hẹp để khích bác và đối kháng lẫn nhau thì thật là uổng phí thời gian tĩnh lặng giữa cuộc đời ngắn ngủi. Thú vị chi ngồi khuấy tách trà làm bão tố phù du!
Sáng hôm nay 4-10-2010, đọc bài tường thuật của phóng viên Stephen Magagnini của nhật báo Sacramento Bee về lễ khai mạc cung nghinh Phật Ngọc tại Sacramento với tiêu đề “Jade Buddha draws throng praying for peace, health and prosperity” (Phật Ngọc làm dấy lên lời cầu nguyện đa dạng cho hòa bình, sức khỏe và phồn vinh.) Nội dung bài báo tương đối xứng hợp với tiêu đề đưa ra. Trước đó vài tuần, khi tượng Phật Ngọc còn đang trưng bày ở San Jose, thành phố có đông người Việt thứ nhì tại tiểu bang California sau Quận Cam, phóng viên Bruce Newman của nhật báo địa phương Mercury News, số ngày 15-9-2010 đã viết bài tường thuật về lễ hội cung nghinh Phật Ngọc tại đây dưới tiêu đề “The Jade Buddha, symbol of peace and harmony, everywhere but in San Jose” (Phật Ngọc, biểu tượng của hòa bình và hòa hợp khắp mọi nơi, ngoại trừ San Jose.)[4]
Thật ra, đứng trên quan điểm tôn giáo nói chung, Newman đã dẫn chứng các sự kiện và nhân vật trong cộng đồng người Việt tại San Jose mà ảnh hưởng và tác dụng của vấn đề cần đặt trong bối cảnh chung của tình hình xã hội và chính trị tại địa phương, chẳng có sự liên quan trực tiếp nào đáng kể trên sinh hoạt của Phật giáo tại San Jose. Trên tiêu chuẩn “handbook” của ngành báo chí Hoa Kỳ, Bruce Newman săn tin rất “động” nhưng lại chưa đủ “tĩnh” để có thể hiểu hết thực chất “tướng” và “tánh” – bóng và hình – của một cộng đồng dân tộc và văn hóa “bốn nghìn năm văn hiến” quá nhiêu khê như người Việt Nam.
Trong một bài viết trước đây về Phật Ngọc nhan đề “Phật Ngọc, hình tướng và thật tánh của hoà bình, an lạc”, kẻ đang viết những dòng nầy đã cố gắng ứng dụng đồng thời hai tuyến dữ kiện “động” và “tĩnh” để trình bày một phần quan điểm của mình về Phật Ngọc. Nay trong bài viết tiếp theo nầy, người viết bằng vào diễn biến thực tế và ý kiến của nhiều Phật tử trực tiếp tham dự Lễ Hội để nhận định về tác dụng trực tiếp cuộc du thỉnh “world tour” vòng quanh thế giới của Phật Ngọc đối với cộng đồng Phật giáo Việt Nam.
Xin tạm gác qua lắm chuyện thị phi bên lề diễn biến của tiến trình trưng bày Phật Ngọc liên quan đến sự được thua, hơn kém, to nhỏ, mạnh yếu, khen chê… về thế lực, tài chánh, khả năng tranh chấp quyền lợi; cùng những hào quang dễ dãi và bóng đen vu vạ mà xưa nay trong bất cứ hoàn cảnh nào và thời điểm nào cũng có. Một khi có sự tương tác từ hai người trở lên thì sự va chạm cá nhân và phe phái không thể nào tránh khỏi. Nhà sư Tích Lan, Tikhome Lanka, đã viết trong Pháp Ngữ Diễn Đàn (Dharma, 2001) rằng: “Tôn giáo dính vào tiền bạc và quyền thế tranh chấp đời thường là đang bước lên cỗ xe năng động: Chạy lên trời Đâu Suất hay rớt xuống Địa Ngục dễ dàng như trở bàn tay! Nhà tu ngày nay đến với cảnh giới giải thoát hay cứu cánh đắc đạo thường mua vé xe bằng tiền bạc nên chỉ đi được xe ngựa xe đò; trong lúc đó, cuộc đời quá ngắn ngủi thì phải đi bằng tốc độ tâm linh nhiệm màu nhanh hơn cả tốc độ ánh sáng mới mong về kịp chốn ước mơ trước khi nhắm mắt xuôi tay!”
Trong khi tôi đang viết những dòng nầy tại Sacramento thì đang hàng trăm người từ San Jose, Fresno, Stockton và các vùng lân cận đã kiên tâm chờ đợi tới mấy ngày, nhưng không ít người đã ra về tay không. Hầu hết những người ở xa cho biết là họ đã phải thức dậy từ 2, 3 giờ sáng để lái xe về địa điểm Phật Ngọc, xếp hàng chờ đợi để cố mua cho được một miếng tượng mỏng, nhỏ hơn hai ngón tay. Đại chúng được cho biết và có giấy chứng nhận đây là thành phẩm chiết ra từ khối ngọc chính tạc tượng Phật Ngọc. Tôi quan sát những khuôn mặt chờ đợi phờ phạc nhưng phát nụ cười hớn hở khi vừa ra khỏi cửa với miếng tượng nhỏ xíu trên tay. Cũng đã có quá nhiều lời bình phẩm – trong cũng nhiều mà đục cũng lắm – về ý nghĩa, động cơ và tác dụng của việc mua và bán tượng đeo bằng ngọc nầy. Trong muôn một, tôi thử tiếp xúc với một người vừa mua được tượng ngọc và “phỏng vấn”. Anh cho biết anh là Trần Quốc Mỹ, ở Stockton, đã trải qua “công đoạn” đợi chờ hết sức vất vả suốt mấy ngày mới mua được tượng ngọc. Anh cho biết là đã nghe quá nhiều chuyện thật hư, nhưng “tội ai nấy hứng, ai tu nấy chứng”, nên chẳng quan tâm đến chuyện thị phi, tin hay không tin là do mình. Anh kết luận thoải mái rằng: “Bạc vàng thì có giả, có thiệt do người ta mang tới, nhưng lòng tin là do mình. Mua một niềm tin có khả năng biến thành nguồn vui, hay hơn nữa thành nguồn an lạc thì quả là vô giá. Nhưng ở đây tốn kém chỉ bằng mua một cái vé đại nhạc hội Paris by Night thì cũng là thú vị.” Câu nói của anh làm tôi nhớ tới những hòn đá “tô-tem” làm vật thờ cúng của người cổ sơ.
Ông Trần Quốc Mỹ với tượng ngọc trên tay

Hai mẫu tượng ngọc phát hành trong dịp Lễ Hội cung nghinh Phật Ngọc
Niềm tin tôn giáo, dù chỉ là năng lực vô hình của tinh thần và tâm linh, nhưng lại chiếm ngự phần đời rất lớn của những người tôn giáo. Có tôn giáo hành đạo mỗi ngày năm lần bảy lượt để cầu nguyện. Có tôn giáo khi đã theo là hiến trọn đời mình cho giáo chủ. Đạo Phật thường nói đến con đường từ bi và trí tuệ không phải vì có một pháp môn chuyên nhất đưa tới giác ngộ, nhưng đức Phật đã chỉ ra vô lượng pháp môn hành đạo mà đời thường đưa ra con số làm biểu tượng là tám vạn bốn ngàn. Trên con đường thênh thang tùy duyên ấy, có những hình ảnh quán niệm tĩnh lặng cao thâm; nhưng cũng có lúc phải cần tới “lục thời công phu” và môn phái Tịnh độ hành trì Pháp môn Niệm Phật, giữ cho được “nhất tâm bất loạn” thì niệm Phật thường hằng không lúc nào dứt niệm. Nói tóm lại, đi vào lĩnh vực đức tin tôn giáo là đi vào một thế giới khác mà những tiêu chí và luận lý đời thường không thể nào lý giải và hiểu cho rốt ráo được.
Trong những ngày qua, môi trường truyền thông đại chúng người Việt cũng như người nước ngoài đã đưa ra một lượng thông tin khá phong phú và đa dạng về Phật Ngọc. Khuynh hướng đồng nhất hóa giữa biểu tượng và chân pháp; giữa phương tiện và mục tiêu; giữa lòng tin và lợi dụng; giữa hoằng dương và quảng cáo, giữa lý và sự đã đưa tới nhiều sự duy diễn quá xa vời.
Hiện tại, tượng Phật Ngọc đang được trưng bày tại Sacramento sang ngày thứ tư. Nhiều khách hành hương đã bày tỏ sự tán đồng về danh xưng: “Lễ hội cung nghinh Phật Ngọc…” vì nó tránh được sự cường điệu và thánh hóa không hợp với tinh thần đạo Phật. Người ta ước mong rằng, nếu lễ hội được mở ra bằng những tấm lòng và ý hướng chân chính tất sẽ thành Pháp hội. Phật giáo cận đại và hiện đại có nhiều khả năng lập ra nhiều Giáo hội nhưng thiếu Pháp hội. Giáo hội là để lãnh đạo và khống chế nhau bằng thế và lực; nhưng Pháp hội là để đến với nhau trong tinh thần hòa đồng, bình đẳng, tin yêu và chia sẻ.
Lời phát biểu của thầy Thích Minh Đạt trong lễ khai mạc đã một phần làm sáng tỏ cho một cách nhìn chánh niệm: “Phật vẽ trên giấy, Phật thêu trên lụa, Phật tạo bằng đất sét, bằng xi măng, bằng thạch cao, bằng tất cả các loại đá trong đó có loại đá quý mà chúng ta gọi là “Ngọc”… tất cả đều không có khả năng mang lại hòa bình cho thế giới. Chỉ có một vị Phật duy nhất có đủ khả năng mang lại hòa bình cho thế giới, đem lại an lạc hạnh phúc cho mọi loài, đó là Phật Tâm (…) Tâm bình thế giới bình.”
Phật Ngọc không ở đâu, không giống định kiến nào, không thuộc về ai cả mà ở chính trong đôi mắt của người nhìn. Cái nhìn xuất phát từ Tâm. Phật Ngọc trong mắt ai… sẽ không giống Phật Ngọc trong tưởng tượng và suy diễn của tha nhân. Phải chăng vì nó không giống ngón tay chỉ mặt trăng mà bởi nó là đôi mắt thật của tâm sinh và tâm khởi trong nguồn năng lượng lành: Ai nhìn nấy thấy.
Sacramento, 4-10-2010
© 2010 Trần Kiêm Đoàn
© 2010 talawas
[1] Sở dĩ có cái phụ chú nầy vì đã có ý kiến phản bác danh xưng Phật Ngọc.Ý kiến này cho rằng “Phật là Phật; là đấng giác ngộ viên mãn chứ không có Phật ngọc, Phật vàng, Phật bạc gì cả).Vì người viết không tự đặt mình ở vị trí để tranh biện về chính danh – định phận hay dính líu vào một hình thức luận bàn hình thức không cần thiết tương tự, nên xin gọi theo thế danh đại chúng về ngôi tượng là Phật Ngọc. Thật ra, mọi danh xưng, danh vị, danh từ tạm dùng để gọi tên vạn pháp theo tinh thần đạo Phật đều là giả danh. Lời Phật: “Chân pháp không phân biệt. Nhìn đúng là nhìn thẳng vào bản lai diện mục của tất cả các pháp đều không có tự tánh nên chẳng chấp trước nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả. Nhìn cành hoa không phải là cành hoa mới thật là cành hoa.”
[2] Xem toàn văn tường thuật tại trang web: http://www.sacbee.com/2010/10/04/3076893/jade-buddha-draws-throng-praying.html
[3] Practical Psychotherapy: Adaptation of dialectical behavior. Gerald Amada. Batam, NY; NY, 2009.
[4] Toàn văn bài viết nầy đã đăng lên mạng lưới toàn cầu, ở địa chỉ: http://www.mercurynews.com/ci_16087076?nclick_check=1
Bình luận
141 Comments (bài “Trần Kiêm Đoàn – Phật Ngọc trong mắt ai”)
« Trang trước 1 2 3 4 5 6 … 10 Trang sau »
Cám ơn bác Trầm Kha đã hướng dẫn.
Vì một nghịch-thuận duyên mà tôi đi nhà thờ Tin Lành VN hàng tuần từ 5 năm nay. Ở nhà thờ mà tôi đi tôi nhận thấy có một sự ăn thua đủ, công kích toàn diện tới những gì gọi là ma qủy, hoàn toàn không có 1 sự dung thứ nào, trắng với đen phân biệt rõ ràng, trắng là Chúa, đen là ma qủy. Trong cư xử của tuyệt đại đa số tín hữu Tin Lành Việt Nam chung quanh tôi, đúng như một độc gỉa talawas – bác Trung Thứ đã mách cho tôi link http://www.vjol.info.vn/index.php/rsr/article/view/2078/2021, là Bụt Thần cũng bị liệt vào hàng ma quỷ, việc thờ cúng tổ tiên bị ngươì Tin Lành VN rùng mình ghê sợ. Ga-la-ti (câu gốc 1:9, Kinh Thánh Ga-la-ti 1:8-9) “Nếu ai truyền cho anh em một tin lành nào khác với Tin lành anh em đã nhận, thì người ấy đáng bị a-na-them!”.Do đó, ngoài việc đi nhà thờ Tin Lành VN, hiện nay tôi lại đi thêm nhà thờ Công Giáo VN mỗi chiều CN để tìm hiểu thêm. Tôi thấy Công Giáo VN đã chấp nhận việc thờ cúng tổ tiên, nhưng nói chung vẫn có thể nói là giữ thái độ không khoan nhượng tới những gì dính dáng tới ma qủy – nhận xét này cần được tôi kiểm chứng thêm, vì thời gian đi nhà thờ Công Giáo VN của tôi còn qúa ngắn ngủi.
Lý giải nôm na của tôi là vũ trụ quan của Thiên Chúa Giáo là đường thẳng, Phật Giáo là những looping luân hồi. Ma quỷ trên đường thẳng chỉ có thể vẫn là ma quỷ, xấu xa vẫn là xấu xa, còn ma qủy trên looping không chừng có thể trở thành tốt đẹp và thành thánh, tiên, Phật hay cái gì đó.
Tôi chỉ là một người làm việc kỹ thuật, nhắm tới cái tương đối, trong một khung thời gian và ngân quỹ nhất định, không phải là nhà toán học đi tìm cái tuyệt đối.
“Mọi mẫu/hiện tượng mà từng cá nhân thấy/biết về một tôn giáo nào đó không bao giờ có thể dùng làm căn cứ để khái quát về tôn giáo đó”, thế nhưng nếu (tuyệt đại?) đa số mẫu/hiện tượng quan sát được đều chia xẻ một pattern chung thì có thể dùng làm căn cứ để khái quát không ạ?
Kính bác Lê Quốc Trinh,
Tôi thỉnh thoảng thấy những “kiến giải” của bác trên diễn đàn này về vấn đề Phật học cũng như những ý kiến liên quan đến Phật giáo. Nếu những nhà tôn giáo (ở đây là Phật giáo) cứ theo cách “kiến giải” của bác, thì có lẽ ngày nay không còn đến cái tên Phật giáo, chứ đừng nói gì đến những giáo lý như vô ngã, duyên sinh, bát chánh đạo… mà bác luôn lớn giọng cao đàm.
Tượng Phật không được thờ vào thời đức Phật, nhưng tại sao lại được những đệ tử về sau khắc tạc và tôn thờ? Điều này cần phải đặt nó vào bối cảnh đời sống tôn giáo-xã hội Ấn sau thời Phật tịch diệt. Phật nói rằng “ai thấy pháp (giáo lý) là thấy Phật, ai thấy Phật là thấy pháp,” nhưng có phải tất cả đệ tử Phật đều có thể thấy và hiểu rõ pháp để mà thấy Phật, hay là chỉ một nhóm nhỏ người có điều kiện nghiên cứu kinh điển để thấy, còn hầu hết dân chúng thì không? Hồi đó chưa có internet để thấy Phật thấy pháp dễ dàng như thấy… hầm cầu thủ thiêm bây giờ đâu.
Quy y Phật là một trong ba quy y của người Phật tử. Nhưng sau khi Phật tịch diệt, với hầu hết những đệ tử tại gia (lúc đó chưa có ai là kỹ sư cả), đều thấy mất nơi quy hướng. Các vị xuất gia, dù thế nào vẫn không đại diện được cho Phật. Vì vậy người ta cần những biểu tượng để làm nơi quy hướng. Lúc đầu là bánh xe Pháp luân, ngôi bảo tháp, là những gì liên quan đến thân Phật như xá lợi còn lại sau khi hoả thiêu, về sau là phát triển tượng Phật (cũng nhờ điều này mà Phật giáo đống góp đáng kể cho nền hội hoạ và điêu khắc cổ đại Ấn. Xin bác xem thêm cuốn này: “The Origin of the Buddha Image”, của A. K. Coomaraswamy).
Với hầu hết những người theo Phật giáo, chẳng ai đi phản bác việc thờ tượng Phật dù việc đó Phật không bảo mà là “tự ý” của những người đệ tử về sau. Mỗi người thờ Phật với một mục đích khác nhau. Có người thờ để cho không gian gia đình được trang nghiêm hơn, có người vì muốn mua may bán đắt, có người thờ để răn mình mỗi khi làm điều xấu, có người thờ vì kính giáo pháp của Phật và để làm nơi quy hướng, có người thờ vì thích thờ…
Việc đức Phật cấm tăng chúng không được nhận tiền bạc cũng phải đặt nó vào bối cảnh xã hội lúc ấy. Bác biết vì răng đức Phật cấm không? Những nghiên cứu gần đây về Phật giáo thời đức Phật đã cho thấy rằng, sự Phát triển của Phật giáo vào thế kỷ thứ sáu (BC) là ủng hộ cho trào lưu thành thị hoá và việc hình thành những nhà nước cộng hoà nhỏ ở Ấn, và cũng ủng hộ cho tầng lớp thương nhân trung lưu (điều này được nói tại đây: The sociology of Early Buddhism, của G. Bailey và I. Mabbett.) Cấm người xuất gia giữ tiền bạc, do đó, là để giúp họ tránh sự chi phối của thương mại (điều bị dân chúng lên án vào thời đó). Ngày nay tăng sĩ không giữ tiền, ôm bát qua Canada khất thực, không biết bác Trinh có cúng dường cho được bữa ăn nào không? Hay là đuổi như đuổi tà?
Bác nói chuyện đức Phật chế nguyên tắc ưu tiên: Giới-Định-Tuệ, về phương diện Phật học, là không đúng mô bác nờ. Sự sắp xếp theo thứ tự nhân giới sinh định, nhân định phát tuệ là do những người đệ tử “mê tín” về sau systematize nó lại đó bác. Đức Phật dạy giới (đạo đức)-định-tuệ khắp trong các kinh điển, nhưng ngài không có sắp xếp thứ tự như bác nói đâu. Sự sắp xếp tam vô lâu học thật ra để cho nó có lớp lang vậy thôi, trong thực tế thì không phải mọi người thực hành Phật giáo đều theo quy trình đó. Nhiều người thực hành 5 giới suốt đời vẫn chưa xong, nói chi sinh định, phát tuệ. Cũng có người chẳng cần giữ giới gì sất, suốt ngày thiền định bằng… mồm, sáng thực hành chiều phát tuệ.
Với tui thì Phật giáo là Phật giáo. Không dán thêm nhãn mác chi hết. Mình thấy trong kho tàng giáo lý nhà Phật điều nào phù hợp thì mình theo. Còn điều nào thấy không phù hợp thì không theo, và không vội lên án hay kết tội ai cả. Biết đâu một lúc nào đó vì “tang gia bối rối”, mình cũng rước tượng về vái lạy xì xụp như ai.
Có nhiều điểm muốn trao đổi thêm với bác, nhưng nói thật là không có thời gian. Vả lại nói về Phật giáo nhiều ở đây tui cũng không thích.
Kính bác Hoà Nguyễn,
Câu trích từ ông/mụ Tây nào đó của bác Trần Quốc Việt là nhằm vào comment trước của cháu đó Bác ạ. Nhưng mà không răng mô Bác. Cháu thật sự cũng biết thân biết phận là thuộc diện vợ không đẹp con không thông minh. Nhưng mà… như vậy thì mình phải “điều chỉnh” cách hành xử (bởi vì trước giờ cháu nghĩ là nên tôn trọng nhau) để cho nó “có qua có lại”, hả Bác? Mà vậy thì đâu đúng Bác nhỉ!
@Trần Quốc Việt
Bác viết: Đây thành tích “chửi dòng giống mình” của Trần Quốc Việt trong cùng thời gian trên:
1. Màu Cầu Vồng (vè)-viết
2. Lịch sử hàng hai-viết.
3. Tháng Năm và Lãnh Tụ -viết
4. Cõng người lên núi hay không đưa người qua sông- viết.
Tôi không nghĩ bác “chửi dòng giống mình” hoặc “ít có chất Việt trong người” khi viết câu “Nước nghìn năm u mê” nhưng tôi cho rằng bác quá tự cao, bởi cả nghìn năm không ai thấy, để bây giờ bác mới chỉ cho. Nếu không thế thì bác là một nhà thơ nhà văn yếm thế. Trên thế giới nầy chưa có một dân tộc nào, nước nào mà đi lên mãi trong nghìn năm. Đã có lên thì có xuống. Khi đất nước nào đi xuống thì cũng sinh ra lắm sự. Lắm sự này không phải là nguyên nhân khiến đất nước đi xuống mà chỉ là “by-products” thôi.
@Lê Anh Dũng:
Xin nói thêm cho rõ cùng bác là: PH của bác Hoà Nguyễn cũng đã “giúp tôi bổ túc được nhiều điều suy nghĩ” còn khá nông cạn của mình về Phật giáo. Kính.
@Trương Đức
Bác viết câu “…Trần Quốc Việt, người mà từ cái họ tên trở đi, “đầy chất Việt”” thật là một ấm ớ hội tề.
Viết như thế chắc bác nghĩ ông Nguyễn Ái Quốc hẳn là một người yêu dân nước Việt lắm? Còn ông Dương Trung Quốc yêu nước Tàu hơn Việt?
@Lê Anh Dũng nói: 13/10/2010 lúc 1:35 sáng
Vâng. Thưa bác,
Bác lý giải kiểu hội hoạ như vậy thì tôi cũng… chịu. Song chỉ chịu khi nó được áp dụng vào những lĩnh vực ngoài tôn giáo, chứ ngay cả đối chiếu kiểu ‘bảng-cột-hàng’ như các bác ở đây mà còn… ngập, huống hồ là tôi với bác chả… nguy sao?! 😉
Với lại, theo thiển ý của tôi, dẫu bác có lấy “quan điểm của tín đồ của A trên x” mà so sánh với “quan điểm của tín đồ B trên” cũng chính x đi nữa để khái quát về A so với B đã là một cách suy luận võ đoán rồi, huống chi “trên mội cái mài mại của x là x’’.
Thể theo lời yêu cầu của bác, và mặc dù hiểu biết của tôi về Công giáo (chứ không phải Thiên Chúa giáo) thua xa bác Hoà Nguyễn về Phật giáo, tôi xin đơn cử một vài mẫu/hiện tượng ngược lại cho thấy ‘không có nghĩa là họ không như thế’ (cách tôi nói), tức là “tín đồ Thiên Chúa, linh mục, mục sư, sách vở” KHÔNG PHẢI KHÔNG “tỏ lòng lân mẫn xót thương, tội nghiệp tới những gì dính dáng tới ma quỷ”:
1. Sách vở: Kinh thánh Tân ước kể không chỉ một lần đức Jesus trừ quỷ cho người bị quỷ ám; nhiều lần ngài chữa lành những bệnh nhân mắc các chứng nan y, cùng nhiều kẻ tật nguyền – tức cứu giúp những con người mà theo quan niệm của người Do Thái, bệnh tật của họ là do tội lỗi, và như thế là “dính dáng tới ma quỷ”.
2. Linh mục: Phép Rửa tội và phép Giải tội mà các linh mục vẫn cử hành đều đặn/thường xuyên là những nghi thức có cùng một mục đích và ý nghĩa như trên.
3. Tín đồ Công giáo (& linh mục): Lễ “Cầu cho các đẳng linh hồn” của Công giáo thiết tưởng cũng có thể so sánh tương đương với Lễ Vu lan của Phật giáo (nếu tôi không nhầm về lễ Vu lan).
Trên đây chỉ là một phần những điều tôi biết, mà cũng chỉ biết một phần về Công giáo, cho nên tôi xin nhắc lại và tóm lại:
Mọi mẫu/hiện tượng mà từng cá nhân thấy/biết về một tôn giáo nào đó không bao giờ có thể dùng làm căn cứ để khái quát về tôn giáo đó. Và đây là sai lầm phổ biến nhất khiến mọi tranh luận về tôn giáo đều dẫn đến… vô cùng tận.
Trân trọng.
Cám ơn bác TonNguyen147,
Mở đầu bác tự giới thiệu không phải là tín đồ Phật Giáo, thế nhưng các câu trả lời của bác chứng tỏ bác có theo dõi và tìm hiểu Đạo Phật từ lâu.
Bác yên tâm đi, Đức Thế Tôn không bao giờ cứng nhắc trong giáo điều cả, nhưng Ngài lại rất khắt khe trong Giới Luật (căn bản từ Ngũ Giới trước tiên) để giữ gìn phẩm hạnh cao thượng của một người tu hành. Ngài đặt trọng tâm vào tính giáo dục, phát triển trí tuệ chúng đệ tử. Do đó Ngài thường áp dụng hình thức hội họp dân chủ cho phép mọi người đặt câu hỏi chất vấn, bàn bạc, thảo luận tự do.
Thân ái chào bác,
@ Hòa Nguyễn
“2/ Những điều về đạo Phật ông 1mitee nêu lên, như Bát chánh đạo hay gì khác, tôi đều nghĩ khác ông dù ông viết rất ít (chỉ mới nói qua cái tên). Còn về cái “bản lai diện mục” thì tôi chưa thấy, và ai đã thấy được về cái của mình?
Bàn về bài thơ của TQV và NML, và bàn về đạo Phật với ông Thường là hai chuyện khác nhau quá xa. Nhập nhằng đưa hai chuyện đó vào một, như 1mitee làm, là hoàn toàn vô nghĩa. Thêm cái đả kích cá nhân(personal attack) của 1mitee càng làm tôi không bận tâm về điều 1mitee viết về phản hồi của tôi, và về tôi.”
Tôi chỉ biết ít điều sơ đẳng về Đạo Phật qua sách vở và học với các chú và các Ôn ở Chùa Bảo Quốc ở Huế lúc tôi học Đại học Văn Khoa trong thập niên ’70. Điều gì dùng được thì tôi cố gắng dùng trong đời sống của tôi; điều gì khó quá thì cứ để đó đã.
Tôi còn nhớ một buổi cơm trưa với Chú T. ở chùa Bảo Quốc. Hôm đó cũng có một chú mới tu học, chú này vừa ăn vừa thao thao nói về Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, v.v. Ôn T.H. tình cờ đi ngang, cười mà nói, “Chú ni mới đọc vài quyển sách mà đã lộng ngôn rồi hỉ.”
Có người biết mà không nói nhưng cũng có người nói nhiều để chứng tỏ mình biết nhưng chưa chắc đã biết vậy.
Nhận xét của tôi đã nhận là “chủ quan” và tôi đã trình bày cơ sở của nhận xét đó chứ không nhắm cá nhân mà bỏ qua vấn đề đang thảo luận nên không thể gọi là “đả kích cá nhân”. Nhưng nếu Hòa Nguyễn cho đó là “đả kích cá nhân” thì tôi cũng chỉ có thể nói rằng tôi không đồng ý mà thôi.
Và cũng chẳng có gì quan trọng cả.
Nhà thơ Nguyễn Đăng Thường không phải là tín đồ Phật giáo, nhưng ông không hề chống Phật giáo. Thử nhìn lại công việc của ông như một nhà thơ, ta có thể thấy ông đã dịch rất nhiều thơ Thiền. Nếu không yêu thích văn hóa Phật giáo thì khó mà cảm nhận và chuyển dịch được thơ Thiền một cách hay ho, đẹp đẽ.
Gởi bác Lê Quốc Trinh,
Tôi là một người không tin (atheist), chẳng phải tín đồ của một tôn giáo nào và cũng chẳng hiểu biết gì nhiều về đạo Phật nhưng mà mấy câu hỏi bác nêu ra có vẻ như bác muốn đạo Phật trở thành một tôn giáo cứng ngắc có tính giáo điều?
Tôi nghĩ đạo Phật chủ trương phá chấp vì bản thân Phật đã từng tuyên bố là ngay cả lời dạy của ta các người cũng cần suy gẫm cẩn thận trước khi thực hành…
Trước khi ngồi thiền 49 ngày đêm, nhiều năm Phật đã từng học khá nhiều thầy, tìm đủ mọi cách để đạt được giác ngộ kể cả việc nhịn đói gần chết chứ đâu chỉ ngồi thiền không đâu. Việc ngồi thiền của Phật trong một thời gian lâu hơn trước đó chỉ xảy ra sau khi Phật đã nếm trải những kinh nghiệm thực tế cho bản thân mình. Vắng bóng những kinh nghiệm này Phật khó thể tiến xa.
Có lẽ chuyện ăn uống trong đạo Phật không quan trọng, không cầu cao lương mĩ vị mà chủ yếu là để sống bởi vậy cần du di: một người làm việc nặng nhọc cần ăn thêm thịt cá để làm việc, những người già nên ăn chay…
Phật có thể sống tha phương cầu thực, rày đây mai đó như một kẻ không nhà với điều kiện khí hậu như ở Ấn Độ hoặc các xứ nhiệt đới chứ nếu như ở Canada thì Phật sẽ gặp khó khăn ngay. Đây là tính cách uyển chuyển của đạo Phật?
Đạo Phật cũng cần có giáo chủ cũng như lớp học có thầy hướng dẫn nhưng không nhất thiết phải là một vị trung gian giữa thần thánh và con người như một vài tôn giáo khác.
Một nhà sư và một nhà khoa học hai người có hai mục tiêu khác nhau, không thể đòi hỏi nhà sư phải hiểu biết rộng rãi như một nhà khoa học và ngược lại. Nếu một nhà sư có trình độ KH cao mà vẫn giữ vững niềm tin của mình thì tốt (trường hợp một số nhà KH Tây phương theo đạo Phật) và ngược lại.
Nhận của cải vật chất của thế gian là đi ngược lại lời giáo huấn của Phật.
“Tùy căn cơ tùy quốc độ” trong đạo Phật cho thấy tôn giáo này có thể phù hợp với nhiều thành phần từ giới bình dân cho đến các nhà khoa học như tôi đã trình bày trong một PH trong mục này.
Đây chỉ là những thiển kiến của tôi về một vài câu hỏi của bác Lê Quốc Trinh chứ không có ý giải đáp. Mọi sự giải đáp thỏa đáng xin dành cho các nhà Phật học.
@ tracy
Nếu nhớ ko sai thὶ tȏi ko hề nόi “Công Giáo mang lại chữ quốc ngữ cho VN qua Giám Mục Alexande de Rhodes” hay “chữ quốc ngữ/latinh được sáng chế để khai sáng”. Ý tȏi muốn nόi là Thiȇn Chύa Giáo/Thực dȃn Pháp ko chỉ cό tội mà cῦng cό cȏng (trong việc khai sáng dȃn ta), trực tiếp hay gián tiếp. Tại sao ta chỉ nhớ “tội” mà lại quȇn “cȏng”? Chế độ “thực dȃn” (cῦ) đã thuộc về quá khứ, hận thὺ mãi cό ίch lợi gὶ? Trong khi chủ nghĩa “thực dȃn” (mới) đang hoành hành bốc lột dȃn mὶnh ngay trong chίnh lύc này?
Xin hỏi lại: Người Tàu đã mang chữ Hán sang nước ta để làm gὶ, để khai sáng hay truyền bá Ðạo Khổng? Chữ Hán tự nό ko “khai sáng” được dȃn trί Trung Hoa mà nhờ tiếng Anh, khi ngưới Anh đến Hong Kong, Shanghai. Dὺ ko dám chắc, nhưng Trung Quốc hiện nay cό thể sử dụng tiếng Anh nhiều hơn chữ Hán. Nhật và Nam Hàn thὶ cό Mỹ.
tracy nόi: “Vả lại, ngay cả cho đến khi thực dân Pháp chiếm hữu đất nước ta, có bao nhiêu phần trăm người Việt biết chữ quốc ngữ, hay đại đa số dân chúng mù chữ?”.
Xin hỏi lại: Trước khi thực dân Pháp chiếm hữu đất nước ta có bao nhiêu phần trăm người Việt biết chữ Hán, chữ Nȏm, hay đại đa số dân chúng mù chữ? Tȏi ko hề nόi Alexande de Rhodes là người phát minh ra tiếng Việt, và tȏi tin việc dùng tiếng Nôm hay sử dụng chữ alphabet cό tầm quan trọng cῦng như mức ảnh hướng rất lớn trong việc giáo dục, chί ίt là vὶ học chữ quốc ngữ chỉ cần nhiều lắm là vài tháng, và ko cần sử dụng sách Tàu như “Tam tự kinh” chẳng hạn. Việc học toán lý hόa, hὶnh học cῦng dễ dàng hơn. Các mȏn khoa học này ko cό trong các lớp học của các Ȏng Ðồ.
Nếu người Pháp ko đến VN thὶ ta ko cό tiểu thuyết văn xuȏi, thơ mới, nhạc mới (ca khύc) thẩm mỹ nghệ thuật hiện đại, v.v.
@ Hὸa Nguyễn
Xin thưa: Tȏi “vȏ thần” (một cách nόi) nhưng tȏi ko chống đối tȏn giáo, bất cứ tȏn giáo nào. Bới lẽ giản dị tȏi là “con người” sống trong xã hội loài người, mà xã hội do con người tạo dựng luȏn luȏn phát xuất và triển nớ từ một tȏn giáo. Khái niệm “vȏ thần” chỉ mới ra đời khi cό một triết gia tuyȇn bố “Thượng Ðế đã chết”.
Do vậy, là con người, dὺ “vȏ thần”, tȏi luȏn luȏn chịu/bị ảnh hưởng ko chỉ của một mà nhiều tȏn giáo. Ảnh hưởng luȃn lý đạo đức, văn chương nghệ thuật, ngȏn ngữ, thậm chί… ẩm thực. Tȏi “ăn chay” (thỉnh thoảng), tȏi yȇu văn chuơng nghệ thuật Thiȇn Chύa Giáo, Hồi Giáo, Phật Giáo. Học sinh, tȏi đọc và yȇu “Hồn bướm mơ tiȇn”, “Tiȇu Sơn tráng sĩ”, vậy thὶ tȏi “xuyȇn tạc”, “nόi xấu” Phật Giáo để làm gὶ?
Tȏi phản hồi bài viết của Nguyễn Hữu Liȇm về Phật Ngọc vὶ với tȏi (tȏi được trọn quyền cό “ý kiến chủ quan” như Hὸa Nguyễn chứ?, dὺ “ý kiến chủ quan” của tȏi đến từ sự nhận thức) bài Phật Ngọc chỉ là quảng cáo cho Phật Giáo “quốc doanh” của các đại gia trong ngoài hợp tác với nhau.
Tȏi chỉ chống đối việc xȃy cất thȇm chὺa chiền trong lύc này vὶ bệnh viện, trường học cần thiết hơn. Vả lại, xȃy chὺa ko nhất thiết là dấu hiệu của tự do tȏn giáo, vὶ trong nước hiện giờ ko cό tự do tȏn giáo như chύng ta đều biết.
@Trầm Kha
Tôi không đối chiếu kiểu thiết lập 1 bảng có 2 cột, bên A, bên B với nhiều hàng x, y, z…; cái mà tôi đưa ra có lẽ có nét chấm phá như tranh thuỷ mặc của Tàu mà như nhiều người nhận thấy là các điều như kích thước, perspective (cận-viễn cảnh?), màu sắc …không phải là điều mà người hoạ sĩ hướng tới. Tôi không hẳn so sánh điểm x của A với điểm x của B, mà nhìn vào quan điểm của tín đồ của A trên x, và quan điểm của tín đồ B trên mội cái mài mại của x là x’. Phương pháp này không hẳn là không hiệu qủa khi tiếp cận vấn đề đâu nhé, mà là cách tôi thường gặp trong 1 số sách vở Analysis của ngành Information Technology.
Xin bác Trầm Kha vui lòng hướng dẫn những tài liệu hay hướng đi để tôi có thể thấy rõ hơn về cái bác để trong ngoặc đơn “họ không như thế”, riêng tôi với cách quan sát nhiều mẫu (sampling) và chưa từng thấy một hiện tượng ngược lại, tôi thấy “họ là như thế”, “rất như thế”…
MÊ TÍN DỊ ĐOAN TRONG PHẬT GIÁO
Bác Hoà Nguyễn thân kính,
Nghe bác giải thích về chuyện mê tín trong Đạo Phật, tôi xin phép được chia sẻ. Tôi đã từng lên các Trang Mạng (trong và ngoài nước) để tham vấn vài điều căn bản:
Phật tử nào cũng biết Ngài Cồ Đàm (Thích Ca Mâu Ni) là người đầu tiên sáng lập ra Giáo Hội Tăng Già Phật Giáo ở Ấn Độ cách đây 2500 năm. Phật tử nào cũng biết Ngài xuất thân là thái tử, giòng giõi vương giả nhưng dám từ bỏ cung điện giàu sang, uy quyền để gian nan đi tìm chân lý giải thoát chúng sinh. Phật tử nào cũng biết rõ tiểu sử Phật Thích Ca, ngồi thiền 49 ngày dưới cội Bồ Đề và Giác Ngộ về chân lý Đạo Phật …thế nhưng có Phật tử nào giải thích được những điều sau:
1)- Tại sao Đức Phật Thích Ca chỉ ngồi thiền mà chứng ngộ được chân lý? Tại sao Ngài không bao giờ ngồi tụng kinh gõ mõ ê a như các sư sãi trong chùa hiện nay?
2)- Tại sao mỗi ngày Ngài chỉ dùng cơm một bữa duy nhất đúng Ngọ? Ngài đi khất thực, ai cho gì thì ăn nấy, thịt cá, tôm, đồ mặn, Ngài không bao giờ chê bai, và Ngài không bao giờ chủ trương ăn chay giống như sư sãi hiện nay?
3)- Tại sao Ngài sống tha phương cầu thực, nay đây mai đó, màn trời chiếu đất, không bao giờ trú ngụ trong chùa, không bao giờ xin xỏ tiền công quả của thập nam tín nữ giống như sư sãi hiện nay?
4)- Tại sao Ngài suy tư khám phá nhiều luận đề hệ trọng trong Trời Đất, liên quan đến cuộc sống nhân loại và vũ trụ, làm tiền đề cơ bản cho giáo pháp Nhà Phật, khiến cho nhiều nhà bác học đương thời phải khâm phục, các vị sư sãi hiện nay chứng ngộ, khám phá ra được gì chưa?
5)- Tại sao Ngài không bao giờ vỗ ngực tự xưng Giáo Chủ, tuy rằng Ngài là người sáng lập Giáo Hội Tăng Già đầu tiên? Tại sao Ngài tuyên bố rằng “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”?
6)- Tại sao Ngài không chỉ định nguời kế thừa thay thế Ngài mà chỉ ân cần dặn dò chúng đệ tử cố gắng chuyên cần giáo pháp?
7)- Tại sao Ngài nghiêm cấm chúng đệ tử không cho tiếp nhận vàng bạc, tiền tài, vật chất do bá tánh cúng dường?
8)- Tại sao Ngài đặt ra quy luật Quy Y Tam Bảo theo thứ tự ưu tiên (Phật, Pháp, Tăng) ? Tại sao Ngài chỉ giới hạn đức hạnh Phật tử trong Ngũ Giới mà không hề trói buộc vào giáo điều cứng ngắc như các tôn giáo khác?
9)- Tại sao Ngài đặt ra nguyên tắc tu hành theo thứ tự ưu tiên: Giới, Định, Tuệ?
10)- Tại sao Ngài chỉ định Tam Pháp Ấn: “Vạn Pháp Vô Ngã / Chư Hành Vô Thường / Chư Hành là Khổ”?
Trả lời được hết những câu hỏi này thì ắt hiểu thế nào là hiện tượng mê tín dị đoan của một số tông phái tự nhận Phật Giáo hiện nay so với Đạo Phật chính thống cách đây 2500 năm đấy.
Thân chào bác Hoà Nguyễn,
Đây thành tích chống tôn giáo của Trần Quốc Việt sau 1 năm 4 tháng gia nhập talawas :
1. Con người đã quên Chúa _ dịch
2. Lương Tâm và Tôn Giáo _viết
3. Đạt Lai Lạt Ma_ dịch
Đây thành tích “chửi dòng giống mình” của Trần Quốc Việt trong cùng thời gian trên:
1. Màu Cầu Vồng (vè)-viết
2. Lịch sử hàng hai-viết.
3. Tháng Năm và Lãnh Tụ -viết
4. Cõng người lên núi hay không đưa người qua sông- viết.
Bị cáo xin gởi cáo trạng này đến các độc giả và ba nơi nhận sau:
1. Chúa Jesus
2. Phật Thích Ca
3. Đức Lý Thái Tổ (hiện đang dự lễ ở Hà Nội)