talawas blog

Chuyên mục:

Mừng đại lễ “nghìn năm lăng nhăng”

30/09/2010 | 12:19 sáng | 19 Comments

Tác giả: talawas blog

Category: Thời sự / Spectrum

Blogger Kami ca ngợi tài đức của đương kim thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng qua sáng kiến đúc tim hai dây cho tượng Thánh Gióng.

“Điều đáng tự hào hơn cả là với IQ and Idea của đồng chí Thủ tướng đã đập tan luận điệu xuyên tạc của bọn “phản động” trong nước cấu kết với các thế lực thù địch quốc tế,  đã tung lên mạng các bài viết xuyên tạc, bịa đặt nhằm hạ uy tín của đồng chí Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Chúng cho rằng đồng chí Thủ tướng tốt nghiệp cử nhân Luật dỏm, bằng là hoàn toàn do người trong Ban Tổ chức Trung ương Đảng học thay và thi hộ. Điều đó dẫn tới các phát ngôn, các quyết định và các ý kiến chỉ đạo của đồng chí Thủ tướng luôn thiếu kiến thức sơ đẳng về luật pháp tối thiểu, nên hậi quả dẫn tới việc vi phạm pháp luật và vi phạm Hiến pháp của đất nước một cách phổ biến, thường xuyên và trầm trọng. Đó chính là nguyên nhân thời gian gần đây đồng chí Thủ tướng đã bị một số kẻ xấu đâm đơn kiện ra tòa án, nhưng rất may do đảng và nhà nước ta có tầm nhìn xa, trông rộng đã không tiếp nhận đơn thưa kiện của kẻ xấu mà ngược lại cho quần chúng tự phát ra tay răn đe, đập phát tường rào kiểu cắt tiết gà dọa khỉ…

Điều đáng mừng và đáng tự hào nhất của chúng ta hôm nay là, chỉ với cái bằng tốt nghiệp lớp 4 (thật) trong R, nhưng đồng chí Thủ tướng tỏ ra có một suy nghi phi thường xứng tầm siêu nhân khi nhắc “đồng chí” đại đức Thích Thanh Quyết và gợi ý cho họ về việc đúc trái tim của đức Thánh với hình dáng như thật, thậm chí còn có hai dây nối tượng trưng cho động mạch và tĩnh mạch của trái tim với mong muốn trái tim đức Thánh sẽ mãi đập nhịp cùng với truyền thống tinh thần tốt đẹp của dân tộc Việt.

Chúng ta vui mừng, tự hào vì trí tuệ, sáng kiến kiệt xuất của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bao nhiêu, bởi vì đó được ví như cái tát đích đáng thẳng vào mặt bọn phản động và các thế lực thù địch thường xuyên bôi nhọ hình ảnh đạo đức và trình độ của đồng chí Thủ tướng. Ý kiến của đồng chí đã chứng minh hùng hồn rằng việc đồng chí Nguyễn Tấn Dũng tốt nghiệp lớp 4 là bằng thật 100%, đó là điều không thể phủ nhận được.”

Về mặt đối ngoại, quyết tâm thể hiện IQ sánh tầm thủ tướng, phó thủ tướng của chúng ta gây được ấn tượng tốt với lãnh đạo nước bạn nhờ cách bắt tay nồng nhiệt thắm thiết tình hữu nghị 16 chữ. Như tác giả Hoàng Ngọc nhận xét,

“tôi vừa thấy trên website Chính Phủ Việt Nam, Phó Thủ tướng VN ta đưa cả 2 tay ra bắt 1 bàn tay của Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo. Cứ như con bắt tay cha, em bắt tay anh, đầy tớ bắt tay ông chủ.”

Dưới sự lãnh đạo kiệt xuất của thủ tướng, phó thủ tướng và nhiều đồng chí khác vân vân, chúng ta lập kỳ tích “Mười năm “tích cực” biến sông Tô thành cống”, góp phần giúp “Hà Nội ta đẹp… khủng khiếp”.

Blogger Lê Thị Thanh Chung tổng kết bảng siêu thành tích này như sau,

“Một ngàn năm sau khi dời đô về Thăng Long, hậu duệ của tám triều Vua Lý cũng bị bọn yêu quái hoành hành tác oai tác quái. Đầu tư tiền của vào đâu là đổ bể ở đó. Đầu tư vào giáo dục thì ra bằng giả và hàng loạt video clip học sinh đánh nhau. Đầu tư vào văn hóa thì truyền hình chiếu rặt phim nước Lạ. Đầu tư giao thông thì cầu sập, đường lún, hầm đường bộ thành sông, cọc tiêu bằng bê tông cốt tre. Đầu tư thoát nước thì Thủy Tinh nghênh ngang, ngạo mạn trên đường phố. Đầu tư cho y tế thì thuốc nhập về quá đát, bệnh dịch hoành hành. Đầu tư cho nông dân thì lúa gạo mất giá. Đầu tư cho các ngành công nghiệp mũi nhọn thì thành… Vinashin.”

Bình luận

19 Comments (bài “Mừng đại lễ “nghìn năm lăng nhăng””)

  1. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Louis hỏi nghĩa hai câu sau đây, vì chưa thấy có hồi đáp, nên xin mạo muội trả lời:
    “Dạ nguyệt hoặc qua tiên thị hạc
    Hào lương tín lạc tử phi ngư”

    Câu trên có nghĩa: Dưới trăng khuya, nghi rằng ông tiên chính là con hạc bay qua.
    Chú thích trong sách bên dưới bài thơ Thăng Long hành đại ý như sau :
    ” Dạ nguyệt hoặc qua tiên thị hạc” mượn ý trong bài Hậu Xích bích ” của Tô Đông Pha (1037-1101) đời Tống. Ông Tô kể trong một đêm bơi thuyền trên sông Xích Bích uống rượu thưởng trăng, lúc nửa đêm có một con hạc lẻ từ hướng Đông bay lại, hướng ngang qua thuyền ông, vút lên một tiếng kêu dài. Lát sau, về nhà ngủ ông mộng thấy một đạo sĩ áo lông phơi phới, vái ông và hỏi: ” Đi chơi Xích Bích có vui không”. Tô Đông Pha chợt nhớ chuyện con hạc bay qua, liền nói:” Tôi biết rồi. Hồi khuya bay qua thuyền tôi và kêu đó, có phải là ông không?”. Đạo sĩ chỉ cười rồi biến mất.

    “Hào lương tín lạc tử phi ngư” có nghĩa “Trên cầu sông Hào tin rằng cá vui (dù) anh không phải là cá”. Mượn ý trong chương Thu Thuỷ trong cuốn Nam Hoa kinh của Trang tử. Chuyện kể một hôm Trang tử cùng Huệ tử dạo chơi trên cầu sông Hào, Trang tử bảo :” Ông xem đàn cá du kia bơi lội, đó là cái vui của cá”. Huệ tử bẻ:” Ông khôngphải là cá, làm sao biết được cá vui “. Trang tử đáp:” Ông không phải là tôi, làm sao biết được tôi không biết cái vui của cá ?”.

    Trước hai câu bàn trên trong bài thơ còn có :
    Thăng Long hành chép cho ai giữ
    Tờ mạc tần khai chữ ngọc thư

    Câu sau mượn ý trong bài thơ “Tiên tử tống Lưu Nguyễn xuất động” của Tào Đường đời Đường. Đây là lời tiên nữ dặn dò Lưu Nguyễn sau khi mời hai người uống rượu và trao cho một tờ thư phong kín:
    Vân dịch ký quy tu cưỡng ẩm
    Ngọc thư vô sự mạc tần khai
    (Vân dịch đã về nên gượng uống
    Ngọc thư không chuyện chớ thường coi)

    Tôi nghĩ nhà thơ Đông Hồ rất thường mượn ý thơ cổ, và nhất là ở đây khi viết Thăng Long hành ngoài tỏ bày cảm hoài của mình, ông còn muốn chia sẻ tâm sự riêng với các bạn thơ văn xứ Bắc thời đó. Mà nói chuyện với người Hà Nội tất phải nói “chữ”, chứ không thì vô vị lắm.
    Trước 1945, Đông Hồ đã (ít ra) một lần ra chơi Hà Nội, và ông biết sau lần này(khoàng năm 1954) sẽ không còn cơ hội nào nữa. Nếu sống đến sau 1975, chắc Đông Hồ sẽ làm bài thơ tái đáo Thăng Long, và có lẽ lại mượn hai câu thơ của Tào Đường để kết :

    Đào hoa, lưu thuỷ y nhiên tại
    Bất kiến đương thời khuyến tửu nhân
    (Hoa đào, dòng nước còn nguyên vẹn
    Chuốc rượu đâu người thuở tiễn đưa)

    Thật sự, Đông Hồ bị “ám ảnh” nhiều bởi chuyện thơ Lưu Nguyễn lạc Thiên Thai, và Thăng Long ở ông mang cái đẹp của huyền thoại đó.

  2. vantruong viết:

    Thử nhanh nhẩu một lần nữa, mời bạn Louis xem bài (có giải thích) tại đây:
    http://nguyenxuandien.blogspot.com/2010/09/cung-oc-nhung-chu-han-o-en-ngoc-son.html
    Xin chép lại khúc đó giải nghĩa ở đó:
    Dạ nguyệt hoặc qua tiên thị hạc
    Hào lương tín lạc tử phi ngư.

    Đêm trăng, hoặc bay qua, hạc ấy là tiên
    Cầu hào, bao thỏa thích, anh không phải cá.
    Trân trọng.

  3. Anh Dũng viết:

    Nhiều vị cay cú chính quyền Việt Nam quá nên mất khôn rồi.

    Có thể Hà Nội chưa đẹp, chưa phát triển nhưng ít ra nó cũng tốt hơn gấp bội cái “thời đồ đá” mà những người bạn năm xưa của chính quyền VNCH, của những “thuyền nhân” đã quyết tâm đưa Hà Nội nói riêng và miền Bắc Việt Nam nói chung trở về đó.

  4. Louis viết:

    Đọc phản hồi của bác Phùng Tường Vân với bài thơ Hội Tây của Nguyễn Khuyến đã thấy ngán ngẩm rồi, tôi lần theo cái link độc giả Khiêm cho http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/10/3BA211C4/ mà vào Vnexpress xem hình mới “bật ngửa”… có thằng địch “giả dạng thường dân” đi trẩy hội để làm điều xằng bậy, tên này là 1 tên ấu dâm, VnExpress phải lập tức báo với công an ngay để đưa nó đi học tập cải tạo, ai đời giữa thủ đô nghìn năm văn hiến mà nó dám bày trò trơ trẽn như thế?

    Nhìn tấm ảnh thứ 7 từ trên xuống dưới, quý vị sẽ thấy bàn tay trái của tên này đặt vào 1 nơi rất “chiến lược”, có cả 1 ngón giữa luồn vào trong áo của cô bé mà nét mặt không hơn 13, 14 tuổi. Cô bé này là ai? liên hệ như thế nào với tên đàn ông đứng phía sau? em, cháu hay con? hay là 1 đứa bé dự hội ham vui… lo mải mê nhìn cảnh mà bị tên này lợi dụng? Ở Mỹ nếu thật sự cô bé này dưới 14 tuổi thì tên dê xồm kia sẽ bị truy tố ngay………nếu hắn không theo đạo Mormon.

    Đúng là ” a picture’s worth a thousand words”

  5. Louis viết:

    @Bác Phùng,
    Cảm ơn bác đã đưa bài thơ đẹp như hoa như gấm của nhà thơ Đông Hồ lên mạng Talawas. Cháu đọc thơ cũng nhiều nhưng chưa bao giờ được hân hạnh đọc bài này, đọc xong mà tâm hồn thấy lâng lâng. Chỉ tiếc là chương trình Việt văn hiện tại trong nước không có bài này cho học sinh, sinh viên học ( hoặc có mà cháu không biết)….thanh niên bắt buộc phải học bài thơ bưng bô “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?” của Chế Lan Viên, bài thơ được những nhà giáo dục trong nước xem như là 1 trong những bài thơ hay nhất của thơ Việt Nam thế kỷ 20……vì nó ngợi ca đảng.

    Cháu dốt Hán văn nên đành nhờ bác giải thích nghĩa 2 câu cuối:
    “Dạ nguyệt hoặc qua tiên thị hạc
    Hào lương tín lạc tử phi ngư”
    Xin bác vui lòng. Kính.

  6. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Phùng Tường Vân thấy và sửa dùm hai chữ trong bài Thăng Long hành tôi chép từ sách đang sẵn bên cạnh là rất tốt.
    Thật ra, khi gõ vội vài câu tôi chỉ muốn giới thiệu bài thơ đó, và nếu ai thấy hứng thú thì tìm đọc thêm. Thí dụ tại: http://donga01.blogspot.com/2010/09/thang-long-hanh.html
    tôi vừa mới Google thấy (post từ hôm 25-9 mà tôi không biết). Thì ra có nhiều người đọc, chưa quên bài thơ này, hay nhân dịp này có ý tìm đọc.
    Xét kỹ người Hà Nội nên cho là thú vị nếu không cảm thấy tự hào về bài thơ này. Những người không sinh trưởng ở Hà Nội như Trịnh Công Sơn viết về mùa thu Hà Nội tôi nghe hay hơn nhiều tác giả khác (gốc HN). Người vốn ở Hà Tiên như Đông Hồ mà làm thơ về Hà Nội mà hay như thế không cần phải nói gì thêm.

    Đúng là ” Cầu Thê Húc thẹn son xưa nhạt” mới có nghĩa và đối chỉnh với “Đình Trấn Ba khoe phấn mới tô”. Nhưng tình cờ hai câu thơ trên nói lên hai cung cách tương phản của Hà Nội bây giờ.

  7. Phùng Tường Vân viết:

    Vào link mà độc giả Khiêm chỉ cho dưới đây
    http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/10/3BA211C4/
    thú thật là dù rất không muốn trở lại “xới” này, tôi cũng phải đau lòng mà đồng ý với ông (?) rằng đem cái biến cố rực rỡ ấy của non sông xưa, biến nó thành một “gánh tuồng địa phương lên tỉnh dự thi hội diễn tuồng tích lịch sử” như thế thì tôi nghĩ cái não trạng của lớp người cầm quyền Việt Nam hiện nay, nó là thứ não trạng gì đâu chứ nhất quyết không còn là não trạng của con người nữa rồi !

  8. Phùng Tường Vân viết:

    Ông Nguyễn Hòa chỉ mới trích đăng một đọan bài Thăng Long Hành của Đông Hồ nhưng tôi đã thấy có những chữ sai quan trọng, chẳng hạn câu “Cầu Thê Húc thẹn son xưa nhạt” thành “Gió cầu Thê Húc son xưa nhạt” khiến câu thơ trở nên vô nghĩa, câu “Nước mát Nghi Hà gió Vũ Vu” điển cố rất hay, in sai thành “Nước mắt Nghi Hà…” chẳng còn nghĩa gì cả. Chính vì quan tâm ấy, tôi xin được post lại toàn bài hành giá trị ấy để tránh thêm nạn “ba lần sao thành bẩy bản” :

    Thăng Long Hành

    Bão táp tơi bời trời cố quốc
    Gió mưa ủ rũ đất danh đô
    Tiêu điều cỏ lấp hoa Long Đỗ
    Lạnh lẽo trăng soi nước Kiếm hồ
    Bút tháp viết trời xanh chữ hận
    Nghiên đài tràn mực đậm màu thu
    Cầu Thê Húc thẹn son xưa nhạt
    Đình Trấn Ba khoe phấn mới tô
    Tháp đảo chơ vơ rùa nhớ kiếm
    Tượng vườn chót vót đá mong vua
    Báo Thiên rêu phủ hoang sơ tháp
    Núi Ngọc cây quanh ẩn ước chùa

    Lãng Bạc sóng xao hờn oán cũ
    Hành cung hương tỏa nhớ thương xưa
    Cá tươi Ngô Thủy sen Tây Trúc
    Nước mát Nghi Hà gió Vũ Vu
    Rồng phượng gấm giong buồm ngự đỉnh
    Ngựa xe bụi ngát lối hoa cù
    Hưng vong triều đại tan làn khói
    Kim cổ tang thương lạnh kiếp tro
    Trúc Bạch một tòa đồng Trấn Vũ
    Đồng Nhân hai tượng đá anh thư.
    Chiến công dấu kín thành Lầu Bắc
    Chính khí còn cao dấu Cột Cờ

    Sư biểu muôn đời nền tịch mịch
    Cung tường trăm ngọn nửa hoang vu
    Cương lồng chinh mã què chân hạc
    Củi thổi quân lương chẻ chữ thờ
    Khoa bảng bia còn hàng chữ đá
    Khuê Văn gác sót bóng sao thưa
    Thái Hà núi dựng đền Trung Liệt
    Nước mất thành tan sống cũng thừa
    Vạch ruột thề lòng trung đạo nghĩa
    Nghiến răng nát lưỡi hận gian cừu

    Cờ đào áo vải non Tây phất
    Mà Đống Đa trông thấp thoáng gò
    Ngùn ngụt Đồng Quang đằng sát khí
    Đâu đây binh giáp tiếng reo hò
    Đống xương vô định cao trăm thước
    Giàu khó hiền ngu đắp một mồ
    Lác đác lá vàng gieo cỏ áy
    Oan hồn than khóc gió vi vu
    Ai xây đế bá trên đài máu
    Ai tưới vinh quang nước lệ châu

    Mùi đạo thâm trầm hương húng Láng
    Quân vương triều Lý thánh sư Từ
    Bác nhường cho cháu ngôi thiên hạ
    Phật hóa làm vua nẻo giác đồ

    Đá sắp hai hòn chồng khắng khít
    Chùa xây một cột đứng chơ vơ
    Lên chơi ai cũng lom khom cúi
    Chẳng khéo tu mà chẳng vụng tu

    Đồng chảy muôn cân lò Ngũ Xã
    Nung khuông đào chú đúc hư vô
    Di Đà tượng nở cười viên mãn
    Tay khéo Thần Quang quả phúc vo

    Tìm hỏi Hà Đông mười cảnh thắng
    Một dòng sông Nhuệ nước nông sờ
    Chợ vui mậu quý phiên đông đúc
    Dịp cũ hồng kiều bước ngẩn ngơ
    Mây rợp ngàn thông kỳ ỷ khuất
    Đạo nhân hái thuốc mãi bao giờ
    Người gầy há phải vì không thịt
    Đời tục riêng yêu khóm trúc bờ
    Má đỏ răng đen cô gái Việt
    Chia ngon giải ngọt nhớ lòng dưa
    Nam Minh một vỗ chim tung cánh
    Lầu Hạc nghìn năm mây phất phơ

    Chiếu rượu say sầu thơ bạn gái
    Cửa thuyền thêm cám cảnh làng nho
    Mày ngài má phấn khôn qua số
    Ngòi thỏ nghiên son dễ cuối mùa
    Lão phố vẫn còn hương vãn tiết
    Danh hoa thường phải nở trong mưa

    Dòng Tương lai láng từ thu ấy
    Dào dạt thu này lệ chửa khô
    Cựu thức tân tri nhường bỡ ngỡ
    Tà dương hảo cảnh khéo thờ ơ
    Ôm đàn lắng khúc Nam Huân cũ
    Lặng lẽ tay người lựa mối tơ
    Tình trước không hòa hai giọt lệ
    Duyên sau may hợp một dòng thơ

    Gương hồ vắng bóng soi dương liễu
    Ngùi ngậm ngâm từ Lê Bích Ngô
    Ánh thép loáng hồng gươm tráng sĩ
    Áo cừu rũ trắng bụi biên khu
    Lông hồng non Thái bên khinh trọng
    Chim Việt cành Nam gió ngựa Hồ
    Đầu bạc đang reo hò tuyệt tái
    Tuổi xanh chi đã khóc cùng đồ

    Hoa cài động Bích hoa thơm mãi
    Nước xuống nguồn Đào nước chảy mau
    Hồng nhạn về nam trời trở rét
    Trùng lai họa có đợi xuân sau

    Nghìn năm văn vật nghìn hoa lệ
    Nùng Nhị từ xưa những hẹn hò
    Cho kẻ qua rồi càng quyến luyến
    Cho người chưa đến cứ mong chờ
    Ai quen thuộc nghĩ không li cách
    Ai lạ lùng không nghĩ hững hờ

    Phúc Xá bãi phơi niềm ý biệt
    Long Biên cầu nối đoạn tình xưa
    Gia Lâm mấy dặm tình trường đoản
    Ngọn cỏ dầm sương nặng khứ lưu
    Hoa cúc để gầy thu đất Bắc
    Tháng ngày vương một mối tương tư

    Thăng Long hành chép cho ai giữ
    Tờ mạc tần khai chữ ngọc thư
    Dạ nguyệt hoặc qua tiên thị hạc
    Hào lương tín lạc tử phi ngư

    Đông Hồ

  9. Khiêm viết:

    Mời quý vị thưởng thức thêm một vở tuồng hoành tráng:

    http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/10/3BA211C4/

    Tốn đến năm tỷ Đô mà nhếch nhác như vầy thì đúng là có những điều khủng khiếp đang xảy ra trên đất nước này.

  10. Hoà Nguyễn viết:

    Trước năm 1955, nhà thơ Đông Hồ từ Sài Gòn ra thăm Hà Nội (không phải lần đầu). Khi về, ông có giới thiệu bài thơ “Thăng Long hành” làm trong dịp này tại câu lạc bộ văn nghệ Sài Gòn ngày 27-8-1955 (lúc đó đất nước đã chia đôi. Hình ảnh Hà Nội được ông mô tả thật buốn, nhưng rất cổ kính với nhiều địa danh âm vọng tiếng nói của lịch sử, văn chương. Ông nhận đó là cách nhìn riêng của ông đối với “cố đô”, mà theo lời ông “Thăng Long không những là kinh đô của chính trị, là trọng tâm của lịch sử, mà Thăng Long cũng là kinh đô của chữ nghĩa, là trọng tâm của văn hóa Việt Nam”. Ông dẫn chứng nhiều nhà thơ trước ông cũng đã có cái nhìn Thăng Long hay Hà Nội rất riêng của họ, như Nguyễn Du từng viết :

    Thiên niên cự thất thành quan đạo
    Nhất phiến tân thành một cố cung

    Ngày nay “tân thành” Hà Nội rực rỡ sắc màu chắc hẳn che mờ vẻ đẹp như huyền thoại của Thăng Long xưa.

    Xin trích một đoạn trong bài thơ sau đây của Đông Hồ.

    Thăng Long hành

    Bão táp tơi bời trời cố quốc
    Gió mưa ủ rũ đất danh đô
    Tiêu điều cỏ lấp hoa Long Đỗ
    Lạnh lẽo trăng soi nước Kiếm Hồ
    Bút tháp viết xanh trời chữ hận
    Nghiên đài tràn mực đậm màu thu

    Gió cầu Thê Húc son xưa nhạt
    Đình Trấn Ba khoe phấn mới tô
    Tháp đảo chơ vơ rùa nhớ kiếm
    Tượng vườn chót vót đá mong vua
    Báo Thiên rêu phủ hoang sơ tháp
    Núi Ngọc cây quanh ẩn ước chùa
    Lãng Bạc sóng xao hờn oán cũ
    Hành cung hương toả nhớ thương xưa
    Cá tươi Ngô thuỷ sen Tây trúc
    Nước mắt Nghi hà gíó Vũ vu
    Rồng phượng gấm giong buồm ngự đỉnh
    Ngựa xe bụi ngát lối hoa cù
    Hưng vong triều đại tan làn khói
    Kim cổ tang thương lạnh kiếp tro
    Trúc Bạch một toà đồng Trấn Vũ
    Đồng nhân hai tượng đá anh thư

    ……..

  11. Phùng Tường Vân viết:

    “Sáng nay được xem đọan phim khai mạc nghìn năm Thăng Long tải lên youtube ở đây tôi lại thấy họ “hậu hiện đại hóa” tác phẩm “Le dictateur” của ông Charlot một lần nữa”
    (vantruong)

    Nhân bạn nhắc dến những trò vui của ngày “Hội Tầu” à quên “Ngày Hội Tây” chứ, như “leo cột mỡ”, “liếm chảo”, “đập niêu”…ấy, tôi xin phép được post lại nguyên văn bài thơ HỘI TÂY bất hủ của Nguyễn Khuyến sau đây :

    Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo
    Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
    Bà quan tênh nghếch xem bơi trải,
    Thằng bé lom khom nghé hát chèo.
    Cậy sức cây đu nhiều chị nhún,
    Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.
    Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
    Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu!

    những trò dâu bể thì xưa, nay tuy có khác nhau, nhưng cái cảm nghĩ trong hai câu kết ấy của bài thơ, nhìn những cảnh đang diễn ra trong “hội mới” xem ra vẫn còn “tươi rói” niềm đau chung của dân tộc.

    Vũ Hoàng Chương, khi nhớ về Thăng Long, Thăng Long của một thời “Sáng mùng 5 Tết Quang Trung áo bào còn sẫm màu khói súng, tiến vào Thăng Long” có mấy câu thơ sau :

    Anh có nghe chăng tự Kiếm Hồ
    Vọng về trong những nếp vi-lô
    Nghe như có tiếng muôn trùng sóng
    Đòi trả huy hoàng cho cố đô

  12. Phùng Tường Vân viết:

    Sáng nay có một ông bạn mách cho biết là tên Ducouroy (chớ không phải Ducouroi) không phải là Thống Sứ Bắc Kỳ mà y là một Đại Tá Quân Đội Thuộc Địa được nhà nước “Đại Pháp” trao cho trách nhiệm phát động phong trào thể thao “ru ngủ” ấy, phong trào này được gọi là “Khỏe để Phụng Sự”

    Vậy xin được nói lại cho chính xác hơn.

  13. vantruong viết:

    Nối đuôi những dòng kỷ niệm của bác Phùng Tường Vân tôi xin được lùa theo vào đây những ký ức từ thuở nhỏ trong giờ học lịch sử Việt Nam hồi đó. Tôi còn nhớ thầy tôi có kể những chuyện của Tây thực dân tổ chức nhân lễ 14 Juillet như trèo cột mỡ, đua xe đạp v.v. để ngu dân và đánh lạc hướng tinh thần yêu nước bài thực dân Pháp thuở đó.
    Và tôi nhớ cũng không lầm vì đã thấy ở đây: http://chimviet.free.fr/quehuong/nguyendu/nddg067.htm , cũng có người tả cảnh như vậy thật.
    Xin trích Hoàng Đạo Thuý (Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội, Hội Văn Nghệ Hà Nội, 1971, tr. 83) cho biết một điều mới lạ hơn:
    “Mỗi năm, ngày 14 tháng 7 nó (chính quyền bảo hộ Pháp) mở hội “chính trung” để vui chơi, bày ra những trò nhục nhã. Nào, đào nhiều hố trong một khoảng đất, thả dê vào, rồi bịt mắt người ta cho vào đuổi, đó là trò “bịt mắt bắt dê”. Trò “liếm chảo” nó để đồng hào vào lòng chảo đầy nhọ nồi, ai liếm được hào thì lấy. Trò “leo cột mỡ”, trò “chọc nồi”.”

    Sáng nay được xem đoạn phim khai mạc 1000 năm Thăng Long tải lên youtube ở đây tôi lại thấy họ “hậu hiện đại đạo” tác phẩm “Le Dictateur” của ông Charlot một lần nữa.

  14. Phùng Tường Vân viết:

    Đốt Lò Hương Cũ

    Tôi không nhớ rõ lắm vì lúc ấy chắc là còn ẵm ngửa, là có một thời ở Bắc Kỳ một viên Thống sứ (Résidence Supérieur du Tonkin) tên Ducouroir (?) phát động một phong trào thể thao rất rầm rộ, có cuộc đua xe đạp vòng quanh Đông dương, các vị gia trưởng trong nhà lúc ấy, có một vị là cộng sản gộc lấy bà cô tôi, cho biết là chúng muốn làm lạc hướng phong trào ái quốc chống thực dân Pháp lúc ấy đang lên cao, nhất là trong đám học sinh thành thị, sau những vụ Nguyễn Thái Học cùng 12 liệt sĩ đồng chí Việt Nam Quốc Dân Đảng của ông, vụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh v..v…
    Ngày nay về cái Lễ Hội nghìn năm tổ sư lăng nhăng này, có một vài vị vào hàng thúc phụ của tôi còn sống ở Hà Nội có cho biết đại khái là “thì đấy, nó cũng một duộc cái thời anh “Ducouroir” chứ khác gì đâu, bầy ra đủ thứ trò “con nỡm” vừa dụ lớp trẻ ham chơi, “Hoàng Sa, Bốc Xít, Vinashin…” ở Hà Thành cả tháng nay là dịu đi thấy rõ, rồi cha con chúng lại thêm một dịp mà “tiền thầy bỏ túi, củ tỏi giắt lưng” mà mặc sức lùng sục, trong ngoài kết hợp dìu dặt lóp lang lắm, bọn Ưng Khuyển đi “phá mạng”, hoành hành như chỗ không người lại còn thổi bùa dư luận, các ông có người mà lại còn rỗi hơi đi đọ miệng với cái thú chỉ đáng “người nhà” mình ấy, là mắc mưu sâu của chúng nặng rồi đấy !

  15. […] MỪNG ĐẠI LỄ “NGHÌN NĂM LĂNG NHĂNG” Bởi ngoclinhvugia Mừng đại lễ “nghìn năm lăng nhăng” […]

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>