Mừng đại lễ “nghìn năm lăng nhăng”
30/09/2010 | 12:19 sáng | 19 Comments
Category: Thời sự / Spectrum
Blogger Kami ca ngợi tài đức của đương kim thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng qua sáng kiến đúc tim hai dây cho tượng Thánh Gióng.
“Điều đáng tự hào hơn cả là với IQ and Idea của đồng chí Thủ tướng đã đập tan luận điệu xuyên tạc của bọn “phản động” trong nước cấu kết với các thế lực thù địch quốc tế, đã tung lên mạng các bài viết xuyên tạc, bịa đặt nhằm hạ uy tín của đồng chí Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Chúng cho rằng đồng chí Thủ tướng tốt nghiệp cử nhân Luật dỏm, bằng là hoàn toàn do người trong Ban Tổ chức Trung ương Đảng học thay và thi hộ. Điều đó dẫn tới các phát ngôn, các quyết định và các ý kiến chỉ đạo của đồng chí Thủ tướng luôn thiếu kiến thức sơ đẳng về luật pháp tối thiểu, nên hậi quả dẫn tới việc vi phạm pháp luật và vi phạm Hiến pháp của đất nước một cách phổ biến, thường xuyên và trầm trọng. Đó chính là nguyên nhân thời gian gần đây đồng chí Thủ tướng đã bị một số kẻ xấu đâm đơn kiện ra tòa án, nhưng rất may do đảng và nhà nước ta có tầm nhìn xa, trông rộng đã không tiếp nhận đơn thưa kiện của kẻ xấu mà ngược lại cho quần chúng tự phát ra tay răn đe, đập phát tường rào kiểu cắt tiết gà dọa khỉ…
Điều đáng mừng và đáng tự hào nhất của chúng ta hôm nay là, chỉ với cái bằng tốt nghiệp lớp 4 (thật) trong R, nhưng đồng chí Thủ tướng tỏ ra có một suy nghi phi thường xứng tầm siêu nhân khi nhắc “đồng chí” đại đức Thích Thanh Quyết và gợi ý cho họ về việc đúc trái tim của đức Thánh với hình dáng như thật, thậm chí còn có hai dây nối tượng trưng cho động mạch và tĩnh mạch của trái tim với mong muốn trái tim đức Thánh sẽ mãi đập nhịp cùng với truyền thống tinh thần tốt đẹp của dân tộc Việt.
Chúng ta vui mừng, tự hào vì trí tuệ, sáng kiến kiệt xuất của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bao nhiêu, bởi vì đó được ví như cái tát đích đáng thẳng vào mặt bọn phản động và các thế lực thù địch thường xuyên bôi nhọ hình ảnh đạo đức và trình độ của đồng chí Thủ tướng. Ý kiến của đồng chí đã chứng minh hùng hồn rằng việc đồng chí Nguyễn Tấn Dũng tốt nghiệp lớp 4 là bằng thật 100%, đó là điều không thể phủ nhận được.”
Về mặt đối ngoại, quyết tâm thể hiện IQ sánh tầm thủ tướng, phó thủ tướng của chúng ta gây được ấn tượng tốt với lãnh đạo nước bạn nhờ cách bắt tay nồng nhiệt thắm thiết tình hữu nghị 16 chữ. Như tác giả Hoàng Ngọc nhận xét,
“tôi vừa thấy trên website Chính Phủ Việt Nam, Phó Thủ tướng VN ta đưa cả 2 tay ra bắt 1 bàn tay của Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo. Cứ như con bắt tay cha, em bắt tay anh, đầy tớ bắt tay ông chủ.”
Dưới sự lãnh đạo kiệt xuất của thủ tướng, phó thủ tướng và nhiều đồng chí khác vân vân, chúng ta lập kỳ tích “Mười năm “tích cực” biến sông Tô thành cống”, góp phần giúp “Hà Nội ta đẹp… khủng khiếp”.
Blogger Lê Thị Thanh Chung tổng kết bảng siêu thành tích này như sau,
“Một ngàn năm sau khi dời đô về Thăng Long, hậu duệ của tám triều Vua Lý cũng bị bọn yêu quái hoành hành tác oai tác quái. Đầu tư tiền của vào đâu là đổ bể ở đó. Đầu tư vào giáo dục thì ra bằng giả và hàng loạt video clip học sinh đánh nhau. Đầu tư vào văn hóa thì truyền hình chiếu rặt phim nước Lạ. Đầu tư giao thông thì cầu sập, đường lún, hầm đường bộ thành sông, cọc tiêu bằng bê tông cốt tre. Đầu tư thoát nước thì Thủy Tinh nghênh ngang, ngạo mạn trên đường phố. Đầu tư cho y tế thì thuốc nhập về quá đát, bệnh dịch hoành hành. Đầu tư cho nông dân thì lúa gạo mất giá. Đầu tư cho các ngành công nghiệp mũi nhọn thì thành… Vinashin.”
Ông Louis hỏi nghĩa hai câu sau đây, vì chưa thấy có hồi đáp, nên xin mạo muội trả lời:
“Dạ nguyệt hoặc qua tiên thị hạc
Hào lương tín lạc tử phi ngư”
Câu trên có nghĩa: Dưới trăng khuya, nghi rằng ông tiên chính là con hạc bay qua.
Chú thích trong sách bên dưới bài thơ Thăng Long hành đại ý như sau :
” Dạ nguyệt hoặc qua tiên thị hạc” mượn ý trong bài Hậu Xích bích ” của Tô Đông Pha (1037-1101) đời Tống. Ông Tô kể trong một đêm bơi thuyền trên sông Xích Bích uống rượu thưởng trăng, lúc nửa đêm có một con hạc lẻ từ hướng Đông bay lại, hướng ngang qua thuyền ông, vút lên một tiếng kêu dài. Lát sau, về nhà ngủ ông mộng thấy một đạo sĩ áo lông phơi phới, vái ông và hỏi: ” Đi chơi Xích Bích có vui không”. Tô Đông Pha chợt nhớ chuyện con hạc bay qua, liền nói:” Tôi biết rồi. Hồi khuya bay qua thuyền tôi và kêu đó, có phải là ông không?”. Đạo sĩ chỉ cười rồi biến mất.
“Hào lương tín lạc tử phi ngư” có nghĩa “Trên cầu sông Hào tin rằng cá vui (dù) anh không phải là cá”. Mượn ý trong chương Thu Thuỷ trong cuốn Nam Hoa kinh của Trang tử. Chuyện kể một hôm Trang tử cùng Huệ tử dạo chơi trên cầu sông Hào, Trang tử bảo :” Ông xem đàn cá du kia bơi lội, đó là cái vui của cá”. Huệ tử bẻ:” Ông khôngphải là cá, làm sao biết được cá vui “. Trang tử đáp:” Ông không phải là tôi, làm sao biết được tôi không biết cái vui của cá ?”.
Trước hai câu bàn trên trong bài thơ còn có :
Thăng Long hành chép cho ai giữ
Tờ mạc tần khai chữ ngọc thư
Câu sau mượn ý trong bài thơ “Tiên tử tống Lưu Nguyễn xuất động” của Tào Đường đời Đường. Đây là lời tiên nữ dặn dò Lưu Nguyễn sau khi mời hai người uống rượu và trao cho một tờ thư phong kín:
Vân dịch ký quy tu cưỡng ẩm
Ngọc thư vô sự mạc tần khai
(Vân dịch đã về nên gượng uống
Ngọc thư không chuyện chớ thường coi)
Tôi nghĩ nhà thơ Đông Hồ rất thường mượn ý thơ cổ, và nhất là ở đây khi viết Thăng Long hành ngoài tỏ bày cảm hoài của mình, ông còn muốn chia sẻ tâm sự riêng với các bạn thơ văn xứ Bắc thời đó. Mà nói chuyện với người Hà Nội tất phải nói “chữ”, chứ không thì vô vị lắm.
Trước 1945, Đông Hồ đã (ít ra) một lần ra chơi Hà Nội, và ông biết sau lần này(khoàng năm 1954) sẽ không còn cơ hội nào nữa. Nếu sống đến sau 1975, chắc Đông Hồ sẽ làm bài thơ tái đáo Thăng Long, và có lẽ lại mượn hai câu thơ của Tào Đường để kết :
Đào hoa, lưu thuỷ y nhiên tại
Bất kiến đương thời khuyến tửu nhân
(Hoa đào, dòng nước còn nguyên vẹn
Chuốc rượu đâu người thuở tiễn đưa)
Thật sự, Đông Hồ bị “ám ảnh” nhiều bởi chuyện thơ Lưu Nguyễn lạc Thiên Thai, và Thăng Long ở ông mang cái đẹp của huyền thoại đó.
Thử nhanh nhẩu một lần nữa, mời bạn Louis xem bài (có giải thích) tại đây:
http://nguyenxuandien.blogspot.com/2010/09/cung-oc-nhung-chu-han-o-en-ngoc-son.html
Xin chép lại khúc đó giải nghĩa ở đó:
Dạ nguyệt hoặc qua tiên thị hạc
Hào lương tín lạc tử phi ngư.
Đêm trăng, hoặc bay qua, hạc ấy là tiên
Cầu hào, bao thỏa thích, anh không phải cá.
Trân trọng.
Nhiều vị cay cú chính quyền Việt Nam quá nên mất khôn rồi.
Có thể Hà Nội chưa đẹp, chưa phát triển nhưng ít ra nó cũng tốt hơn gấp bội cái “thời đồ đá” mà những người bạn năm xưa của chính quyền VNCH, của những “thuyền nhân” đã quyết tâm đưa Hà Nội nói riêng và miền Bắc Việt Nam nói chung trở về đó.
Đọc phản hồi của bác Phùng Tường Vân với bài thơ Hội Tây của Nguyễn Khuyến đã thấy ngán ngẩm rồi, tôi lần theo cái link độc giả Khiêm cho http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/10/3BA211C4/ mà vào Vnexpress xem hình mới “bật ngửa”… có thằng địch “giả dạng thường dân” đi trẩy hội để làm điều xằng bậy, tên này là 1 tên ấu dâm, VnExpress phải lập tức báo với công an ngay để đưa nó đi học tập cải tạo, ai đời giữa thủ đô nghìn năm văn hiến mà nó dám bày trò trơ trẽn như thế?
Nhìn tấm ảnh thứ 7 từ trên xuống dưới, quý vị sẽ thấy bàn tay trái của tên này đặt vào 1 nơi rất “chiến lược”, có cả 1 ngón giữa luồn vào trong áo của cô bé mà nét mặt không hơn 13, 14 tuổi. Cô bé này là ai? liên hệ như thế nào với tên đàn ông đứng phía sau? em, cháu hay con? hay là 1 đứa bé dự hội ham vui… lo mải mê nhìn cảnh mà bị tên này lợi dụng? Ở Mỹ nếu thật sự cô bé này dưới 14 tuổi thì tên dê xồm kia sẽ bị truy tố ngay………nếu hắn không theo đạo Mormon.
Đúng là ” a picture’s worth a thousand words”
@Bác Phùng,
Cảm ơn bác đã đưa bài thơ đẹp như hoa như gấm của nhà thơ Đông Hồ lên mạng Talawas. Cháu đọc thơ cũng nhiều nhưng chưa bao giờ được hân hạnh đọc bài này, đọc xong mà tâm hồn thấy lâng lâng. Chỉ tiếc là chương trình Việt văn hiện tại trong nước không có bài này cho học sinh, sinh viên học ( hoặc có mà cháu không biết)….thanh niên bắt buộc phải học bài thơ bưng bô “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?” của Chế Lan Viên, bài thơ được những nhà giáo dục trong nước xem như là 1 trong những bài thơ hay nhất của thơ Việt Nam thế kỷ 20……vì nó ngợi ca đảng.
Cháu dốt Hán văn nên đành nhờ bác giải thích nghĩa 2 câu cuối:
“Dạ nguyệt hoặc qua tiên thị hạc
Hào lương tín lạc tử phi ngư”
Xin bác vui lòng. Kính.
Ông Phùng Tường Vân thấy và sửa dùm hai chữ trong bài Thăng Long hành tôi chép từ sách đang sẵn bên cạnh là rất tốt.
Thật ra, khi gõ vội vài câu tôi chỉ muốn giới thiệu bài thơ đó, và nếu ai thấy hứng thú thì tìm đọc thêm. Thí dụ tại: http://donga01.blogspot.com/2010/09/thang-long-hanh.html
tôi vừa mới Google thấy (post từ hôm 25-9 mà tôi không biết). Thì ra có nhiều người đọc, chưa quên bài thơ này, hay nhân dịp này có ý tìm đọc.
Xét kỹ người Hà Nội nên cho là thú vị nếu không cảm thấy tự hào về bài thơ này. Những người không sinh trưởng ở Hà Nội như Trịnh Công Sơn viết về mùa thu Hà Nội tôi nghe hay hơn nhiều tác giả khác (gốc HN). Người vốn ở Hà Tiên như Đông Hồ mà làm thơ về Hà Nội mà hay như thế không cần phải nói gì thêm.
Đúng là ” Cầu Thê Húc thẹn son xưa nhạt” mới có nghĩa và đối chỉnh với “Đình Trấn Ba khoe phấn mới tô”. Nhưng tình cờ hai câu thơ trên nói lên hai cung cách tương phản của Hà Nội bây giờ.
Vào link mà độc giả Khiêm chỉ cho dưới đây
http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/10/3BA211C4/
thú thật là dù rất không muốn trở lại “xới” này, tôi cũng phải đau lòng mà đồng ý với ông (?) rằng đem cái biến cố rực rỡ ấy của non sông xưa, biến nó thành một “gánh tuồng địa phương lên tỉnh dự thi hội diễn tuồng tích lịch sử” như thế thì tôi nghĩ cái não trạng của lớp người cầm quyền Việt Nam hiện nay, nó là thứ não trạng gì đâu chứ nhất quyết không còn là não trạng của con người nữa rồi !
Ông Nguyễn Hòa chỉ mới trích đăng một đọan bài Thăng Long Hành của Đông Hồ nhưng tôi đã thấy có những chữ sai quan trọng, chẳng hạn câu “Cầu Thê Húc thẹn son xưa nhạt” thành “Gió cầu Thê Húc son xưa nhạt” khiến câu thơ trở nên vô nghĩa, câu “Nước mát Nghi Hà gió Vũ Vu” điển cố rất hay, in sai thành “Nước mắt Nghi Hà…” chẳng còn nghĩa gì cả. Chính vì quan tâm ấy, tôi xin được post lại toàn bài hành giá trị ấy để tránh thêm nạn “ba lần sao thành bẩy bản” :
Thăng Long Hành
Bão táp tơi bời trời cố quốc
Gió mưa ủ rũ đất danh đô
Tiêu điều cỏ lấp hoa Long Đỗ
Lạnh lẽo trăng soi nước Kiếm hồ
Bút tháp viết trời xanh chữ hận
Nghiên đài tràn mực đậm màu thu
Cầu Thê Húc thẹn son xưa nhạt
Đình Trấn Ba khoe phấn mới tô
Tháp đảo chơ vơ rùa nhớ kiếm
Tượng vườn chót vót đá mong vua
Báo Thiên rêu phủ hoang sơ tháp
Núi Ngọc cây quanh ẩn ước chùa
Lãng Bạc sóng xao hờn oán cũ
Hành cung hương tỏa nhớ thương xưa
Cá tươi Ngô Thủy sen Tây Trúc
Nước mát Nghi Hà gió Vũ Vu
Rồng phượng gấm giong buồm ngự đỉnh
Ngựa xe bụi ngát lối hoa cù
Hưng vong triều đại tan làn khói
Kim cổ tang thương lạnh kiếp tro
Trúc Bạch một tòa đồng Trấn Vũ
Đồng Nhân hai tượng đá anh thư.
Chiến công dấu kín thành Lầu Bắc
Chính khí còn cao dấu Cột Cờ
Sư biểu muôn đời nền tịch mịch
Cung tường trăm ngọn nửa hoang vu
Cương lồng chinh mã què chân hạc
Củi thổi quân lương chẻ chữ thờ
Khoa bảng bia còn hàng chữ đá
Khuê Văn gác sót bóng sao thưa
Thái Hà núi dựng đền Trung Liệt
Nước mất thành tan sống cũng thừa
Vạch ruột thề lòng trung đạo nghĩa
Nghiến răng nát lưỡi hận gian cừu
Cờ đào áo vải non Tây phất
Mà Đống Đa trông thấp thoáng gò
Ngùn ngụt Đồng Quang đằng sát khí
Đâu đây binh giáp tiếng reo hò
Đống xương vô định cao trăm thước
Giàu khó hiền ngu đắp một mồ
Lác đác lá vàng gieo cỏ áy
Oan hồn than khóc gió vi vu
Ai xây đế bá trên đài máu
Ai tưới vinh quang nước lệ châu
Mùi đạo thâm trầm hương húng Láng
Quân vương triều Lý thánh sư Từ
Bác nhường cho cháu ngôi thiên hạ
Phật hóa làm vua nẻo giác đồ
Đá sắp hai hòn chồng khắng khít
Chùa xây một cột đứng chơ vơ
Lên chơi ai cũng lom khom cúi
Chẳng khéo tu mà chẳng vụng tu
Đồng chảy muôn cân lò Ngũ Xã
Nung khuông đào chú đúc hư vô
Di Đà tượng nở cười viên mãn
Tay khéo Thần Quang quả phúc vo
Tìm hỏi Hà Đông mười cảnh thắng
Một dòng sông Nhuệ nước nông sờ
Chợ vui mậu quý phiên đông đúc
Dịp cũ hồng kiều bước ngẩn ngơ
Mây rợp ngàn thông kỳ ỷ khuất
Đạo nhân hái thuốc mãi bao giờ
Người gầy há phải vì không thịt
Đời tục riêng yêu khóm trúc bờ
Má đỏ răng đen cô gái Việt
Chia ngon giải ngọt nhớ lòng dưa
Nam Minh một vỗ chim tung cánh
Lầu Hạc nghìn năm mây phất phơ
Chiếu rượu say sầu thơ bạn gái
Cửa thuyền thêm cám cảnh làng nho
Mày ngài má phấn khôn qua số
Ngòi thỏ nghiên son dễ cuối mùa
Lão phố vẫn còn hương vãn tiết
Danh hoa thường phải nở trong mưa
Dòng Tương lai láng từ thu ấy
Dào dạt thu này lệ chửa khô
Cựu thức tân tri nhường bỡ ngỡ
Tà dương hảo cảnh khéo thờ ơ
Ôm đàn lắng khúc Nam Huân cũ
Lặng lẽ tay người lựa mối tơ
Tình trước không hòa hai giọt lệ
Duyên sau may hợp một dòng thơ
Gương hồ vắng bóng soi dương liễu
Ngùi ngậm ngâm từ Lê Bích Ngô
Ánh thép loáng hồng gươm tráng sĩ
Áo cừu rũ trắng bụi biên khu
Lông hồng non Thái bên khinh trọng
Chim Việt cành Nam gió ngựa Hồ
Đầu bạc đang reo hò tuyệt tái
Tuổi xanh chi đã khóc cùng đồ
Hoa cài động Bích hoa thơm mãi
Nước xuống nguồn Đào nước chảy mau
Hồng nhạn về nam trời trở rét
Trùng lai họa có đợi xuân sau
Nghìn năm văn vật nghìn hoa lệ
Nùng Nhị từ xưa những hẹn hò
Cho kẻ qua rồi càng quyến luyến
Cho người chưa đến cứ mong chờ
Ai quen thuộc nghĩ không li cách
Ai lạ lùng không nghĩ hững hờ
Phúc Xá bãi phơi niềm ý biệt
Long Biên cầu nối đoạn tình xưa
Gia Lâm mấy dặm tình trường đoản
Ngọn cỏ dầm sương nặng khứ lưu
Hoa cúc để gầy thu đất Bắc
Tháng ngày vương một mối tương tư
Thăng Long hành chép cho ai giữ
Tờ mạc tần khai chữ ngọc thư
Dạ nguyệt hoặc qua tiên thị hạc
Hào lương tín lạc tử phi ngư
Đông Hồ
Mời quý vị thưởng thức thêm một vở tuồng hoành tráng:
http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/10/3BA211C4/
Tốn đến năm tỷ Đô mà nhếch nhác như vầy thì đúng là có những điều khủng khiếp đang xảy ra trên đất nước này.
Trước năm 1955, nhà thơ Đông Hồ từ Sài Gòn ra thăm Hà Nội (không phải lần đầu). Khi về, ông có giới thiệu bài thơ “Thăng Long hành” làm trong dịp này tại câu lạc bộ văn nghệ Sài Gòn ngày 27-8-1955 (lúc đó đất nước đã chia đôi. Hình ảnh Hà Nội được ông mô tả thật buốn, nhưng rất cổ kính với nhiều địa danh âm vọng tiếng nói của lịch sử, văn chương. Ông nhận đó là cách nhìn riêng của ông đối với “cố đô”, mà theo lời ông “Thăng Long không những là kinh đô của chính trị, là trọng tâm của lịch sử, mà Thăng Long cũng là kinh đô của chữ nghĩa, là trọng tâm của văn hóa Việt Nam”. Ông dẫn chứng nhiều nhà thơ trước ông cũng đã có cái nhìn Thăng Long hay Hà Nội rất riêng của họ, như Nguyễn Du từng viết :
Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một cố cung
Ngày nay “tân thành” Hà Nội rực rỡ sắc màu chắc hẳn che mờ vẻ đẹp như huyền thoại của Thăng Long xưa.
Xin trích một đoạn trong bài thơ sau đây của Đông Hồ.
Thăng Long hành
Bão táp tơi bời trời cố quốc
Gió mưa ủ rũ đất danh đô
Tiêu điều cỏ lấp hoa Long Đỗ
Lạnh lẽo trăng soi nước Kiếm Hồ
Bút tháp viết xanh trời chữ hận
Nghiên đài tràn mực đậm màu thu
Gió cầu Thê Húc son xưa nhạt
Đình Trấn Ba khoe phấn mới tô
Tháp đảo chơ vơ rùa nhớ kiếm
Tượng vườn chót vót đá mong vua
Báo Thiên rêu phủ hoang sơ tháp
Núi Ngọc cây quanh ẩn ước chùa
Lãng Bạc sóng xao hờn oán cũ
Hành cung hương toả nhớ thương xưa
Cá tươi Ngô thuỷ sen Tây trúc
Nước mắt Nghi hà gíó Vũ vu
Rồng phượng gấm giong buồm ngự đỉnh
Ngựa xe bụi ngát lối hoa cù
Hưng vong triều đại tan làn khói
Kim cổ tang thương lạnh kiếp tro
Trúc Bạch một toà đồng Trấn Vũ
Đồng nhân hai tượng đá anh thư
……..
“Sáng nay được xem đọan phim khai mạc nghìn năm Thăng Long tải lên youtube ở đây tôi lại thấy họ “hậu hiện đại hóa” tác phẩm “Le dictateur” của ông Charlot một lần nữa”
(vantruong)
Nhân bạn nhắc dến những trò vui của ngày “Hội Tầu” à quên “Ngày Hội Tây” chứ, như “leo cột mỡ”, “liếm chảo”, “đập niêu”…ấy, tôi xin phép được post lại nguyên văn bài thơ HỘI TÂY bất hủ của Nguyễn Khuyến sau đây :
Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
Bà quan tênh nghếch xem bơi trải,
Thằng bé lom khom nghé hát chèo.
Cậy sức cây đu nhiều chị nhún,
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu!
những trò dâu bể thì xưa, nay tuy có khác nhau, nhưng cái cảm nghĩ trong hai câu kết ấy của bài thơ, nhìn những cảnh đang diễn ra trong “hội mới” xem ra vẫn còn “tươi rói” niềm đau chung của dân tộc.
Vũ Hoàng Chương, khi nhớ về Thăng Long, Thăng Long của một thời “Sáng mùng 5 Tết Quang Trung áo bào còn sẫm màu khói súng, tiến vào Thăng Long” có mấy câu thơ sau :
Anh có nghe chăng tự Kiếm Hồ
Vọng về trong những nếp vi-lô
Nghe như có tiếng muôn trùng sóng
Đòi trả huy hoàng cho cố đô
Sáng nay có một ông bạn mách cho biết là tên Ducouroy (chớ không phải Ducouroi) không phải là Thống Sứ Bắc Kỳ mà y là một Đại Tá Quân Đội Thuộc Địa được nhà nước “Đại Pháp” trao cho trách nhiệm phát động phong trào thể thao “ru ngủ” ấy, phong trào này được gọi là “Khỏe để Phụng Sự”
Vậy xin được nói lại cho chính xác hơn.
Nối đuôi những dòng kỷ niệm của bác Phùng Tường Vân tôi xin được lùa theo vào đây những ký ức từ thuở nhỏ trong giờ học lịch sử Việt Nam hồi đó. Tôi còn nhớ thầy tôi có kể những chuyện của Tây thực dân tổ chức nhân lễ 14 Juillet như trèo cột mỡ, đua xe đạp v.v. để ngu dân và đánh lạc hướng tinh thần yêu nước bài thực dân Pháp thuở đó.
Và tôi nhớ cũng không lầm vì đã thấy ở đây: http://chimviet.free.fr/quehuong/nguyendu/nddg067.htm , cũng có người tả cảnh như vậy thật.
Xin trích Hoàng Đạo Thuý (Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội, Hội Văn Nghệ Hà Nội, 1971, tr. 83) cho biết một điều mới lạ hơn:
“Mỗi năm, ngày 14 tháng 7 nó (chính quyền bảo hộ Pháp) mở hội “chính trung” để vui chơi, bày ra những trò nhục nhã. Nào, đào nhiều hố trong một khoảng đất, thả dê vào, rồi bịt mắt người ta cho vào đuổi, đó là trò “bịt mắt bắt dê”. Trò “liếm chảo” nó để đồng hào vào lòng chảo đầy nhọ nồi, ai liếm được hào thì lấy. Trò “leo cột mỡ”, trò “chọc nồi”.”
Sáng nay được xem đoạn phim khai mạc 1000 năm Thăng Long tải lên youtube ở đây tôi lại thấy họ “hậu hiện đại đạo” tác phẩm “Le Dictateur” của ông Charlot một lần nữa.
Đốt Lò Hương Cũ
Tôi không nhớ rõ lắm vì lúc ấy chắc là còn ẵm ngửa, là có một thời ở Bắc Kỳ một viên Thống sứ (Résidence Supérieur du Tonkin) tên Ducouroir (?) phát động một phong trào thể thao rất rầm rộ, có cuộc đua xe đạp vòng quanh Đông dương, các vị gia trưởng trong nhà lúc ấy, có một vị là cộng sản gộc lấy bà cô tôi, cho biết là chúng muốn làm lạc hướng phong trào ái quốc chống thực dân Pháp lúc ấy đang lên cao, nhất là trong đám học sinh thành thị, sau những vụ Nguyễn Thái Học cùng 12 liệt sĩ đồng chí Việt Nam Quốc Dân Đảng của ông, vụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh v..v…
Ngày nay về cái Lễ Hội nghìn năm tổ sư lăng nhăng này, có một vài vị vào hàng thúc phụ của tôi còn sống ở Hà Nội có cho biết đại khái là “thì đấy, nó cũng một duộc cái thời anh “Ducouroir” chứ khác gì đâu, bầy ra đủ thứ trò “con nỡm” vừa dụ lớp trẻ ham chơi, “Hoàng Sa, Bốc Xít, Vinashin…” ở Hà Thành cả tháng nay là dịu đi thấy rõ, rồi cha con chúng lại thêm một dịp mà “tiền thầy bỏ túi, củ tỏi giắt lưng” mà mặc sức lùng sục, trong ngoài kết hợp dìu dặt lóp lang lắm, bọn Ưng Khuyển đi “phá mạng”, hoành hành như chỗ không người lại còn thổi bùa dư luận, các ông có người mà lại còn rỗi hơi đi đọ miệng với cái thú chỉ đáng “người nhà” mình ấy, là mắc mưu sâu của chúng nặng rồi đấy !
[…] MỪNG ĐẠI LỄ “NGHÌN NĂM LĂNG NHĂNG” Bởi ngoclinhvugia Mừng đại lễ “nghìn năm lăng nhăng” […]