talawas blog

Chuyên mục:

Hồ Chí Minh tại Đại hội Đảng 1951 – “Đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa”

28/09/2010 | 12:00 chiều | 55 Comments

Tác giả: Vũ Tường

Category: Tư liệu
Thẻ: >

Lời dẫn: Tư liệu hiếm dưới đây có lẽ chưa bao giờ được công bố. Đó là một bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ hai tại Việt Bắc vào tháng 3 năm 1951, do một phóng viên của tờ Học tập liên khu 4 ghi lại nguyên văn.[1] Tại Đại hội này, Đảng Lao động Việt Nam ra công khai sau 6 năm nấp dưới tên gọi “Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác”. Bài diễn văn thú vị này cho ta thấy Chủ tịch là một nhà cách mạng, một chính trị gia, và một nhà tuyên truyền lão luyện. Một nhà cách mạng có niềm tin ngây thơ nhưng sâu sắc rằng lý thuyết cách mạng của các “ông thầy” của mình có quyền lực vạn năng. Một chính trị gia qua thủ đoạn tâng bốc các “ông anh” (trong khán giả chắc chắn có sứ thần của các “ông anh” gửi đến. “Ông anh” Stalin lờ tịt các bức điện khẩn xin giúp đỡ của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1945. Mãi đến tháng 1 năm 1950 Chủ tịch phải lặn lội giữa mùa đông băng giá bí mật đến Mạc Tư Khoa và qua sự bảo lãnh của “ông anh” Mao Trạch Đông và có lẽ cả “ông anh” Thorez, thì “ông anh” Stalin mới tiếp đón và công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[2] Nhưng ở Đại hội, Chủ tịch vẫn phải khen nức nở chứ không có một lời oán hận). Và cuối cùng, Chủ tịch cho thấy mình là một nhà tuyên truyền lão luyện qua kỹ thuật động viên quần chúng song vẫn khéo léo biến tất cả công lao xương máu của quần chúng thành công lao của chủ thuyết của mình, và qua đó, công lao của mình và đảng mình (vì mình và đảng mình nhập khẩu chủ thuyết ấy từ Âu châu). Phản ứng của quần chúng ở cuối bài nói (hô to “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!”) cho thấy kỹ thuật dẫn dắt người nghe của Chủ tịch đã thành công.

Vũ Tường, Đại học Oregon

—–

HỌC TẬP — Nội san Đảng Bộ Liên Khu Bốn (Chỉ lưu hành Trong Nội Bộ)

Số 35, Năm thứ tư, Tháng 4 – 1951, trang 1-8

LỜI HỒ CHỦ-TỊCH TRONG ĐẠI HỘI TOÀN ĐẢNG

(Sau khi đồng chí Võ-nguyên-Giáp báo cáo xong vấn đề quân sự, Hồ-Chủ-tịch lên diễn đàn, giữa những tràng pháo tay). Hồ-Chủ-tịch nói.

Các đồng chí,

Vừa nghe báo cáo của đồng chí Giáp, các đồng chí thấy – và trước khi nghe cũng đã thấy – Quân đội ta từ chỗ yếu tiến đến chỗ mạnh, từ chỗ nhỏ tiến đến chỗ to, từ không thắng tiến đến thắng, từ thắng ít đến thắng nhiều, rồi từ thắng nhiều tiến đến thắng lợi hoàn toàn (Đại hội vỗ tay).

Đó là vì đâu? Là vì trong chính trị, cũng như trong mọi mặt công tác khác, Đảng ta có một chủ nghĩa cách mạng nhất, sáng suốt nhất, đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa:

(Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung 3 vị lãnh tụ: Marx, Engels, Lénine)

(Đại hội vỗ tay vang dậy)

Đó là nhờ chúng ta, toàn giai cấp lao động thế giới, toàn quân đội nhân dân thế giới có một ông Tổng tổng tư lệnh là ông kia kìa.

(Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí: STALINE)

(Đại hội vỗ tay dậy vang và cùng đứng dậy hô lớn)

(Đồng chí Staline muôn năm!)

Chắc ít người biết mà có lẽ cũng không ai ngờ. Ông ở cách xa đây mấy muôn dặm, mà ông theo rõi cuộc kháng chiến của ta, của Triều-tiên, của Mã-lai và cuộc đấu tranh của các nước Đông-nam Á. Ông cảm động khi nghe kể lại những cử chỉ chiến đấu anh dũng của một chiến sĩ Thổ khi giết giặc lập công như thế nào. Vì vậy có thể nói tuy ông ở xa nhưng tinh thần của ông và hiểu biết của ông ở với chúng ta. (Đại hội vỗ tay dài)

Chúng ta lại nhờ có ông anh này:

(Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí: MAO-TRẠCH-ĐÔNG) –

(Đại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn Đồng chí Mao-Trạch-Đông muôn năm!)

Ông Mao ở cách đây mấy nghìn dặm. Còn ông Staline thì xa những muôn dặm… Ông theo rõi từng bước cuộc chiến đấu cách mạng của chúng ta. Như lúc quân đội và nhân dân ta giải phóng biên giới, như lúc chúng ta mở chiến dịch Trung-du có thể đêm ông không ngủ mà chờ tin tức…

(Đại hội có tiếng tấm tắc)

… Có ông thầy, ông anh như thế nên quân đội ta, quân đội Việt-Mên-Lào, từ chỗ nhỏ đến chỗ lớn, từ chỗ yếu đến chỗ mạnh, từ không thắng đến thắng hoàn toàn.

Cũng vì chủ nghĩa quốc tế, cũng chủ nghĩa Marx – Engels – Lenine – Staline, mà đến ông anh kia

… (Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí Thorez và nói tiếp… là ông THOREZ …) (Đại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn: Đồng chí Thorez muôn năm! Muôn năm!)

… Ông lãnh đạo đảng Pháp, đảng đàn anh … vì do được đảng Pháp lãnh đạo, nhân dân lao động ở Pháp kiên quyết bảo vệ hòa bình thế giới, tranh đấu chống chiến tranh thuộc địa, ủng hộ cuộc kháng chiến của chúng ta, chống lại chiến tranh thực dân. Như hôm nọ, tôi đã nói về đồng chí Henri M…,[3] một sĩ quan trong hải quân của thực dân, mà đi phát truyền đơn ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt nam, khuyên thanh niên Pháp và bộ đội Pháp từ chối, phản đối không qua đánh Việt nam. Lại có những công nhân như Raymone Dieu, khi thực dân Pháp chở khí giới từ một ga xe lửa đến bến tàu để rồi đưa qua Việt nam. Cô Raymone nằm ngang ra giữa đường sắt để ngăn chuyến xe ấy. Và do cử chỉ cao xa này mà toàn dân xứ ấy kéo ra chặn cả đoàn xe lại.

(Đại hội vỗ tay hoan hô nhiệt liệt và hô lớn: Hoan hô tinh thần của Henri M… và Raymone Dieu!)

Đó là nhờ nhân dân lao động Pháp đã thấm nhuần tinh thần Marx – Engels –Lénine – Staline. Chẳng những nhân dân lao động Pháp có rất đông những người như thế, mà vừa rồi đây lại có tin hàng trăm người lãnh đạo công giáo – khai hội nghị chống chiến tranh thực dân ở Việt nam và ủng hộ cuộc kháng chiến của dân tộc Việt nam.

(Đại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn: Đảng cộng sản Pháp muôn năm! Muôn năm!)

Có thể nói cái tinh thần, cái chủ nghĩa của đồng chí Staline đã thấm nhuần vào dân công giáo và đấu tranh giành một phần nào “lời nói” của ông Pope.

(Đại hội vỗ tay, ngồi)

Vừa đây có một giám mục đứng ra kêu gọi con chiên đấu tranh cho hòa bình. Thì ra, tinh thần của đồng chí Staline đã đi vào địa bàn của giáo hoàng.

Đây là ở phương tây. Còn ở phương Đông thì như thế nào? Do chỗ đảng Trung Quốc đã thấm nhuần chủ nghĩa Marx – Lénine nên đã áp dụng chủ nghĩa Marx – Lénine thích hợp với hoàn cảnh Trung Quốc. Do chỗ đảng ta đã thấm nhuần chủ nghĩa Marx – Lénine, thấm nhuần tinh thần ấy lực lượng ấy, mà làm thấm nhuần đến cả quân đội ta, thấm nhuần đến nhân dân ta.

Nếu không thấm nhuần như thế, thì sao lại có bộ đội nhịn đói hơn 4 ngày, vẫn cứ bám lấy giặc mà đánh và đánh thắng giặc!

(Đại hội vỗ tay dài)

Thì sao có những cử chỉ oanh liệt như ở một trận đánh nọ có chiến sĩ bị thương ở tay nói với người bên cạnh “Cậu chặt tay cho mình cái” vì thấy cánh tay gãy vướng, chặt đi cho dễ đánh, thế rồi lại cứ xung phong? Nếu không thấm nhuần chủ nghĩa Marx – Lénine thì làm sao có được những cử chỉ oanh liệt như thế?

(Đại hội vỗ tay)

Nếu không có chủ nghĩa Marx – Lénine kinh qua đảng ta thấm nhuần đến nhân dân, thì sao có những chị em phụ nữ Mán, Thổ, Mèo ban ngày thì mưa ướt, đường trơn vẫn hăng hái đi tải đồ cho bộ đội, tối đến đường trơn, ở giữa rừng không có chỗ ngủ, phải dựa lưng vào nhau mà ngồi qua đêm, để sáng sớm lại vui vẻ đi vận tải đồ cho bộ đội?

Nếu không có tinh thần Marx – Lénine thấm nhuần qua Đảng ta đến dân ta, thì sao có những cử chỉ cảm động như thế? Đó là những vô danh anh hùng. Dân tộc ta là dân tộc anh hùng.

(Đại hội vỗ tay vang dậy)

Chẳng những đồng bào ở ngoài, mà ngay đồng bào trong vùng tạm bị chiếm cũng hết sức ủng hộ ta. Tôi vừa nhận được bức thư của một bà ở ngoại thành, một bà hơn năm mươi tuổi, đây tôi đọc để dẫn chứng – (Còn nhiều bức thư khác nữa, nhưng bức thư này vừa tiếp được, tiện đây đưa ra đọc) – Bà có một đứa con chín tuổi, bà nói sự độc ác của bọn giặc Pháp, sự cực khổ của đồng bào trong vùng tạm bị chiếm. Bà viết: “Tôi già sống trong hoàn rất cực khổ, thế nhưng mà tôi luôn luôn mong mỏi, tin tưởng bộ đội ta sẽ tổng phản công để đuổi lũ giặc Tây hung ác, đưa dân chúng đến cảnh tượng hòa bình.”

Có một cháu bé 16 tuổi cũng viết thư như thế, kể nỗi khổ cực: “Cháu luôn luôn nhớ Bác, luôn luôn nhớ chính phủ. Dầu cực khổ mấy, lúc nào cháu cũng cố gắng học tập, nghe theo như lời Bác dạy, một lòng trung thành với chính phủ. Cháu cố gắng học tập, để xứng đáng là một đứa cháu của Bác và sau này trở thành người dân xứng đáng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.”

(Đại hội vỗ tay dài)

Thế là do chủ nghĩa Marx – Lénine đã thấm nhuần qua đảng ta, qua dân ta, nên chúng ta nhất định sẽ thắng lợi.

(Đại hội vỗ tay rất lâu)

Bây giờ tôi qua điểm khác. Nói đến quân đội ta, quân đội anh dũng Việt-Mên-Lào, chúng ta phải nhớ đến đoạn đầu, những người đầu. Trước hết nhớ đến những chiến sĩ Nam bộ lấy gậy tầm vông đập vào đầu thực dân Pháp.

(Đại hội vỗ tay lớn)

Đây tôi cũng sung sướng giới thiệu với các đồng chí một du kích viên đầu tiên, khi mới tổ chức đội du kích đầu tiên, chỉ có 12 người: 10 nam 2 nữ. Trong những đồng chí ấy thì đây có Lê quảng Ba (Hồ Chủ tịch nhìn quanh đại hội, và hỏi Lê quảng Ba đâu? Đứng lên nào)

(Đồng chí Lê quảng Ba đứng dậy. Cả đại hội hướng về phía đồng chí ấy, vỗ tay hoan hô vang dậy)

Và tôi giới thiệu một tư lệnh viên đầu tiên trong thời kỳ du kích Bắc sơn – Chắc các cô, các chú cũng đã biết cả – là chú này … (Hồ Chủ tịch ngoảnh về phía chủ tịch đoàn và chỉ đồng chí Chu văn Tấn hiện đang làm chủ tịch buổi họp) – chú Chu văn Tấn! (Đồng chí Tấn đứng dậy. Đại hội vỗ tay hoan hô vang dậy).

Từ 12 người ấy mà tiến lên, rồi dần dần thành đội tuyên truyền xung phong, rồi đổi ra là Nam tiến, đổi là Giải phóng quân, đổi ra là Vệ quốc đoàn. Người tổng chỉ huy đầu tiên đội Nam tiến là

… (Hồ Chủ tịch chỉ đồng chí Võ nguyên Giáp ngồi ở hàng ghế đầu và nói mạnh rằng: Võ nguyên Giáp đây này! (Đồng chí Giáp đứng dậy. Đại hội vỗ tay hoan hô vang dậy.) Còn những chiến sĩ gậy tầm vông nam bộ ở đây có nhiều!

Từ chú du kích viên, rồi đến chú tư lệnh, rồi đến chú Tổng chỉ huy đầu tiên, đều là con của Đảng cả.

(Đại hội vỗ tay rất mạnh, rất dài.)

Hồi bấy giờ từ 12 đội viên du kích đầu tiên mà bây giờ ta có – có thể nói, Một triệu hai, tính cả dân quân, bộ đội địa phương, bộ đội chính quy. Từ 12 “vawis” (?)[4] (Đại hội cười) bây giờ sinh nở ra một triệu hai trăm ngàn vắt … (Hồ chủ tịch vừa nói vừa gõ tay lên bàn).

(Đại hội vỗ tay vang dậy.) (Giữa những tràng vỗ tay tiếng nói của Hồ Chủ tịch nổi bật lên …)

Đấy chính là nhờ chủ nghĩa Marx – Lénine.

(Đại hội càng vỗ tay nhiệt liệt.)

Bây giờ tôi qua điểm thứ ba.

Đảng ta, – Nhiêm vụ Đảng ta cũng như nhiệm vụ các đảng đàn anh ta, Đảng Bolchévik, Đảng cộng sản Trung hoa, trong lúc chiến đấu bằng chính trị đã đều chiến đấu bằng quân sự. Như trước kia, trong đại chiến thứ hai – không nói đến thời kỳ cách mạng ở Xô-liên, cũng kháng chiến, kiến quốc như mới đây ở Trung quốc, là đánh Tưởng mà Tưởng do Mỹ giật mũi — , là kháng chiến chống đế quốc Mỹ, mà cũng là vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Các Đảng đàn anh ta đề ra kháng chiến đệ nhất, thắng lợi đệ nhất. Ta cũng đề ra kháng chiến đệ nhất, thắng lợi đệ nhất, vì kháng chiến thắng lợi thì các việc khác giải quyết mới dễ dàng. Thế nên, chúng ta nói, kháng chiến trên hết, thắng lợi trước hết.

Muốn kháng chiến trên hết, thắng lợi trước hết, chúng ta phải học kinh nghiệm của các Đảng anh em ta. Như chú Hai vừa kể, có lần bên Xô-liên, đảng Bolchévik động viên đến 1/5 số đảng viên, nhưng chú nói còn ít đấy chứ có chỗ động viên đến 50% lúc chiến đấu gay go. Đảng Cộng sản Trung hoa cũng động viên hầu hết các đảng viên vào bộ đội, lúc lên đường vạn lý trường chinh. Đảng ta có bảy, tám mươi vạn. Rồi đây trung ương mới sẽ có chỉ thị về việc này, – Ít ra cũng phải động viên một vạn Đảng viên. Không kể số đảng viên hiện đã ở trong quân đội trực tiếp vào công việc kháng chiến.

(Đại hội vỗ tay, hoan hô nhiều lắm)

Với chủ nghĩa như thế, với Ông thày, Ông anh như thế, với lòng trung thành và kiên quyết của nhân dân ta, của Đảng ta, nhất định chúng ta thắng lợi.

(Hồ Chủ-tịch bước xuống diễn đàn. Đại hội đứng dậy vỗ tay vang dậy và hô lớn nhiều lần: Hồ Chí Minh Muôn năm! Muôn năm!)

Bản điện tử © 2010 Vũ Tường

Bản điện tử © 2010 talawas


[1] Chúng tôi cũng đánh máy đúng theo nguyên bản, kể cả những chữ in đậm và chữ cái.

[2] Xem Ilya Gaiduk, Confronting Vietnam: Soviet Policy toward the Indochina Conflict, 1954-1963 (Washington, DC: Woodrow Wilson Center, 2003).

[3] Bản chụp tên bị nhòe.

[4] Bản chụp mờ, không nhận ra chữ gì.

Bình luận

55 Comments (bài “Hồ Chí Minh tại Đại hội Đảng 1951 – “Đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa””)

  1. Tôi vừa tìm được trong phòng làm việc một số tạp chí Bách Khoa ra ngày 15 tháng 4 năm 1971 cũng in tựa đề với chữ Bach [không có dấu sắc]. Tôi đã scan bìa tạp chí này và đăng trên blog litviet của tôi, vì không đăng được trong mục ý kiến ở đây. Các bác ghé qua xem.
    http://litviet.com/

  2. @bác Trần Văn Tích

    Dĩ nhiên tôi hiểu mục đích của bác trong việc muốn làm tăng thêm độ khả tín của tài liệu. Có điều tôi nghĩ những yêu cầu cụ thể của bác nó không thật sự cần thiết. Ở đây có hai điều nên phân biệt. Thật ra bác thắc mắc về độ chính xác của việc sao chép tài liệu từ bản in sang bản điện tử trên talawas của Vũ Tường, hay thắc mắc về độ khả tín của nội dung tài liệu?

    1. Nếu thắc mắc nằm ở vấn đề sao chép, hay nói cụ thể là việc đánh máy có chính xác không, chuyện này có thể dễ dàng giải quyết bằng cách chụp lại những trang tài liệu rồi đưa lên đây. Anh Vũ Tường vừa cho tôi biết sẽ làm chuyện này. Có lẽ cũng hơi mất thời gian, các bác thư thả cho.

    2. Thắc mắc về nội dung và nguồn gốc của ấn bản in. Đây là thắc mắc chính đáng. Nhưng vấn đề này không thể giải quyết đơn giản bằng call number hay đóng dấu. Việc đóng dấu như bác nêu ra trong trường hợp ông Nguyễn Thế Anh cũng chỉ là một xác nhận rằng ông Nguyễn Thế Anh đã sao y bản chính, chứ không xác nhận độ khả tín của bản chính. Ở Mỹ cũng có những người đuợc pháp luật ủy quyền làm công việc đóng dấu tương tự: notary public. Công việc của những người này là xác nhận chữ ký, tuyên thệ, cùng lắm là xác nhận “sao y bản chính”, chứ không xác nhận độ khả tín của nội dung văn bản. Chuyện đó người đi xin con dấu sẽ tự chịu trách nhiệm trước pháp luật, với chữ ký và tuyên thệ trước mặt người notary public.

    Về độ khả tín của nội dung tài liệu trong trường hợp này, có vài độc giả đã nêu lên, và có nhiều người đã và đang trả lời với những lý lẽ thuyết phục. Nếu cần, đó là hướng chúng ta nên thảo luận. Thắc mắc bác Trần Văn Tích nêu lên về số trang có thể được giải quyết khi xem bản chụp lại tài liệu nay mai. Về tựa đề Hoc Tap không có dấu, tôi thấy rất thú vị. Tôi nhớ thời học tiểu học ở Việt Nam, có khi tôi cũng viết tựa đề những bản nhạc chép tay không dấu như vậy, như một kiểu trang trí. Không biết đây có phải là lý do trong trường hợp này? Có ai có kinh nghiệm tương tự hoặc đã thấy những tựa đề viết không dấu như trên? Tài liệu này ra đời năm 1951, trong hoàn cảnh kháng chiến thiếu thốn, nên những vụng về trong kỹ thuật xuất bản chắc chắn không tránh khỏi. Và điều đó càng chứng tỏ đây là một tài liệu thật.

    Với những thông tin mà chúng ta có được đến thời điểm này, tôi tin đây là tài liệu có nguồn gốc đúng như nó được ghi trên bìa ấn phẩm. Tôi sẽ rất vui lòng học hỏi nếu ai đó chứng minh ngược lại.

    @ông Lê Thượng
    Ông muốn tranh luận thì nên viết rõ ý mình, một cách cụ thể. Đây không phải là lần đầu ông có thái độ vừa đâm thọc vừa thậm thụt như vậy với tôi. Mong ông tự trọng.

  3. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Trần Văn Tích có thể đặt ra một số nghi vấn, và thực sự ông nghi ngờ hay giả định nhiều điều. Nhưng ngoài chuyện xét hình thức tờ Học Tập (tôi tin khi in chữ là “Hoc Tap” họ muốn nói “Học Tập”, và hy vọng không có nghi ngờ chỗ này), chúng ta hãy xét tới nội dung bài viết ở đây, để thử tìm ra nếu có chỗ sai sót, thêm thắt hay bịa đặt (với dụng ý riêng), cho là không đúng với lời người nói, nhất là với sự việc, thời sự, nhân vật trong nước và thế giới được nhắc tới.

    Trước hết, phóng viên ở liên khu 4 này phải là người có Tây học, một trí thức thành thị cũng nên, mới viết là Marx, Lénine, Staline, Bolchévik… theo thói quen hay cách viết trên báo chí thời đó (thay vì Mac, Lê-nin…, như sau này). Tôi còn để ý thấy ông Vũ Tường trong lời giới thiệu viết là Stalin, theo cách viết của Mỹ, trong khi ở bài viết đánh máy lại vẫn giữ là Staline, theo tiếng Pháp. Là người có Tây học, và tạm gọi là trí thức, chưa thấy là đảng viên cốt cán hay nhuần nhuyễn, nên phóng viên này có thể viết bài phản ánh trung thực buổi họp, ghi lại gần đúng những gì ông Hồ Chí Minh nóí hôm đó.

    Tôi kiểm nhận lại theo hiểu biết của mình, và thấy những điều “Hồ Chủ tịch” nói sau đây đều đúng sự thật, và do đó những phần khác cũng tin được phóng viên ghi nhận đúng.

    Ông Mao ở cách đây mấy nghìn dặm. Còn ông Staline thì xa những muôn dặm… Ông theo rõi từng bước cuộc chiến đấu cách mạng của chúng ta. Như lúc quân đội và nhân dân ta giải phóng biên giới, như lúc chúng ta mở chiến dịch Trung-du có thể đêm ông không ngủ mà chờ tin tức…

    Cũng vì chủ nghĩa quốc tế, cũng chủ nghĩa Marx – Engels – Lenine – Staline, mà đến ông anh kia …(Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí Thorez và nói tiếp… là ông THOREZ…) Ông lãnh đạo đảng Pháp, đảng đàn anh… vì do được đảng Pháp lãnh đạo, nhân dân lao động ở Pháp kiên quyết bảo vệ hòa bình thế giới, tranh đấu chống chiến tranh thuộc địa, ủng hộ cuộc kháng chiến của chúng ta, chống lại chiến tranh thực dân

    Ghi chú thêm về ông Thorez: Tức Maurice Thorez (1900- 1964), chủ tịch Đảng Cộng sản Pháp từ năm 1930, và là Phó Thủ tướng Pháp từ năm 1946 đến 1947, có thể được ông Hồ hy vọng sẽ giúp đỡ kháng chiến chống Pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra công khai lúc đó.

    Từ 12 người ấy mà tiến lên, rồi dần dần thành đội tuyên truyền xung phong, rồi đổi ra là Nam tiến, đổi là Giải phóng quân, đổi ra là Vệ quốc đoàn. Người tổng chỉ huy đầu tiên đội Nam tiến là Võ nguyên Giáp đây này! (Đồng chí Giáp đứng dậy. Đại hội vỗ tay hoan hô vang dậy.) Còn những chiến sĩ gậy tầm vông nam bộ ở đây có nhiều!
    Từ chú du kích viên, rồi đến chú tư lệnh, rồi đến chú Tổng chỉ huy đầu tiên, đều là con của Đảng cả.

  4. talawas blog viết:

    Thưa ông Trần Văn Tích,

    Ngoài 2 tài liệu giới thiệu trên talawas ngày 11.9 và ngày 28.9, tiến sĩ Vũ Tường còn có một bài viết khác “Đọc Việt Nam 1946: Chiến tranh đã bắt đầu ra sao” – http://ta-la-was.blogspot.com/2010/08/vu-tuong-oc-viet-nam-1946-chien-tranh.html. Ông cũng là cộng tác viên đã viết lời giới thiệu Tạp chí talawas số Mùa Thu 2009 chuyên đề về chủ nghĩa dân tộc (http://www.tapchitalawas.org/pdf/talawas_tapchi_muathu_2009.pdf; Xem: “Lời dẫn – Từ giải phóng đến giải giáp, giải độc và giải hoà: Phong trào dân tộc mới ở châu Á” và bài “Ngày nay, Cách mạng Đông Dương phải ‘hiện nguyên hình’: Bước ngoặt dẫn đến đấu tranh giai cấp và nội chiến Việt Nam vào năm 1948-59” do Nguyễn Việt dịch).

    Ngoài ra, trong talawas bộ cũ, Tiến sĩ Vũ Tường có trả lời phỏng vấn của Phạm Thị Hoài: “Chính phủ Việt Nam không nên giấu giếm thông tin về quan hệ Việt – Trung” – http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=11718&rb=0206, và là đồng dịch giả trích đoạn tiểu thuyết Đất của loài người của Pramoedya Ananta Toer- http://www.talachu.org/tacphamdich.php?bai=160
    Trân trọng,
    talawas

  5. Trần Văn Tích viết:

    Kính thưa ông Phan Nhiên Hạo,

    Trước khi đọc phản hồi của ông, tôi có hai khía cạnh ngờ vực liên quan đến bài Hồ Chí Minh tại Đại hội Đảng năm 1951 của tác giả Vũ Tường.

    Khía cạnh thứ nhất: tôi biết quá ít về ông Vũ Tường. Ông không phải là blogger của talawas và ông chỉ mới xuất hiện trên talawas có hai lần, lần thứ nhất ngày 11.09.2010 và lần thứ hai ngày 28.09.2010. Nay được ông xác nhận ông biết rõ ông Vũ Tường nên tôi không còn băn khoăn nữa vì tôi hoàn toàn tin ông.

    Chỉ còn lại khía cạnh thứ hai: nỗi ngờ về tính đích thật, tính xác thực của tài liệu. Ông Vũ Tường cho công bố bản chụp trang bìa số báo liên hệ trên talawas chắc cũng nhằm chứng minh tính đích thật, tính xác thực này. Và vì tin ông, qua đó tin ông Vũ Tường, nên tôi cũng hoàn toàn tin rằng ông Vũ Tường hiện có số tạp chí Học Tập lưu hành nội bộ liên hệ. Tuy nhiên như thế chưa đủ, theo tôi nghĩ.

    Thời Pháp thuộc, Trường Viễn đông Bác cổ chủ trương thu mua sách cổ chữ Hán trong dân chúng. Một người nào đó đã táo bạo thay đổi chút ít nội dung cùng bài tựa cuốn Hội đồ Lĩnh Nam dật sử của một tác giả Trung Hoa có biệt hiệu là Tây Viên lão nhân nhằm biến tài liệu thành sách Lĩnh Nam dật sử của Ma Văn Cao, nguyên thủy chữ Mường và do Trần Nhật Duật dịch sang chữ nho! Bài “Văn tế cá sấu” tương truyền là của Nguyễn Thuyên (tức Hàn Thuyên) là một bản văn mạo hoá mà tác giả đích thực là phó bảng Nguyễn Can Mộng! Gần chúng ta hơn có câu chuyện nhật ký Hitler bị giả mạo. Còn gần hơn nữa có cuốn sách của một ông đại sứ Pháp viết về những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà. Biết đâu ngày nay ông Vũ Tường đã chẳng mua phải một bản in giả tạp chí Hoc Tap khi ông về nước sục sạo tìm tài liệu giá trị về văn học, lịch sử nước nhà? (Tôi cố ý ghi hai chữ Hoc Tap không có dấu, theo đúng cách ghi trên trang bìa đuợc ông Vũ Tường đưa lên talawas). Tôi còn để ý đến chi tiết sau: theo “Trong số này” thì chúng ta có: “- Những bài và chỉ thị về việc Đảng ra công khai” rồi kế đến là “- Lời Hồ Chủ tịch trong Đại hội toàn Đảng”. Nhưng theo ghi chú của ông Vũ Tường thì bài nói của ông Hồ được đăng từ trang 1 đến trang 8. Tôi thấy có hai chi tiết hơi bất thường: một, nếu bài nói được đăng từ trang 1 thì tiểu mục “Những bài và chỉ thị về việc Đảng ra công khai” phải đăng sau bài nói chuyện, như vậy không phù hợp với “Mục lục”; hai, dung lượng của bài nói chuyện theo như sao chép của ông Vũ Tường có đủ độ dài để đăng trên tám trang giấy không?

    Sự ngờ vực mà tôi vừa trình bày không hề có tính cách xúc phạm ông Vũ Tường. Tôi chỉ mong muốn có thêm dữ kiện để tài liệu do ông Tường giới thiệu cùng bạn đọc talawas thêm giá trị vì đó là một tài liệu rất hiếm, rất quí. Chỉ vì chút lòng mong muốn như thế nên tôi mới thỉnh cầu ông Vũ Tường vui lòng cho biết thêm một số điều, như nơi lưu trữ tài liệu, số “đăng bộ” và, nếu được, thì thị thực tính đích xác của tài liệu. Tôi suy đoán ông Vũ Tường đã tìm ra tài liệu trong một thư viện công cộng nào đó, không bắt buộc phải là thư viện Oregon, chẳng hạn Thư viện Quốc gia Pháp (khu Đông phương học), thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, Thư viện Anh quốc v.v… Và nếu thư viện hiện đang lưu giữ tờ Hoc Tap chúng ta đề cập còn đóng cả nhật ấn ngày “nhập viện” của tài liệu thì văn kiện lưu trữ càng có thêm giá trị thư tịch học. Tôi xin ông Vũ Tường vui lòng ghi “số đăng bộ” – tức call number, như ông đã chỉ dẫn – của tài liệu cũng nhằm cùng mục đích: tính hiện hữu của tài liệu sẽ hiển nhiên nếu có call number để vạn nhất nếu như có người ở gần thư viện được nói đến thì đương sự có thể tận mắt đọc tài liệu, nếu muốn. Đương nhiên các suy luận này chỉ đáng được nêu ra khi số báo Hoc Tap liên hệ không thuộc tủ sách cá nhân của ông Vũ Tường.

    Bây giờ xin phép chuyển qua chuyện “đóng dấu”. Khi cho công bố đơn viết tay của người thanh niên Nguyễn Tất Thành gửi Tổng Thống và Tổng Trưởng Bộ Thuộc địa Pháp đề ngày 15 Septembre 1911 do mình tìm ra trong văn khố Pháp, ông Nguyễn Thế Anh đã tiến hành thủ tục xin thị thực tính xác thực của văn bản. Phần này ghi nguyên văn như sau: “A.N. Pour copie conforme à l’original conservé à la Section Outre-Mer. Le Conservateur en Chef de la Section Outre-Mer. – 2 Fev. 1983”. Cạnh những dòng chữ này có chữ ký của giới chức hữu quyền cùng con dấu tròn. Tôi không biết gì về thủ tục chứng nhận sao y bản chánh ở Hoa Kỳ nhưng tôi biết rằng thời quốc gia, thời cộng sản, chúng ta có thủ tục đó. Và ở nước Đức hiện nay cũng có thủ tục đó. Do suy nghĩ như vậy nên tôi mới mạo muội kính xin ông Vũ Tường vui lòng bỏ chút thì giờ và tiền bạc để xin chứng “copie conforme”. Qua phản hồi của ông, tôi được ông cho biết ông sẵn sàng làm công việc này. Với tất cả lòng kính trọng và ngưỡng mộ đối với ông, tôi xin ghi nhận thái độ nhận trách nhiệm của ông, qua đó, tính khả tín của tài liệu Hoc Tap tăng thêm nhiều. Nhưng dẫu vậy, tôi vẫn chưa hết ngờ vực bởi như đã nói, (1) tờ tạp chí Hoc Tap được ông Vũ Tường giới thiệu có thể là của giả bên cạnh bằng giả, thi dởm; (2) tại sao lại có chút chút dường như không theo lẽ thường về khía cạnh ấn loát trình bày tài liệu như đã nêu ra trước đây.

    Nếu vì những suy nghĩ vừa trình bày mà ông cho là tôi lẩm cẩm thì tôi xin vui lòng ghi nhận tính từ được ông ban cho.

    Trân trọng kính chào và rất mong có dịp tiếp tục đọc những bài viết và/hoặc phản hồi bổ ích, hấp dẫn của ông. Kính xin ông nhận cho lời cám ơn của tôi vì ông đã bỏ thì giờ cùng tôi trao đổi.

  6. Đinh Từ Thức viết:

    “Có thể nói cái tinh thần, cái chủ nghĩa của đồng chí Staline đã thấm nhuần vào dân công giáo và đấu tranh giành một phần nào “lời nói” của ông Pope.

    (Đại hội vỗ tay, ngồi)

    Vừa đây có một giám mục đứng ra kêu gọi con chiên đấu tranh cho hòa bình. Thì ra, tinh thần của đồng chí Staline đã đi vào địa bàn của giáo hoàng.”

    Những sự kiện trên đây có thể coi là có thật, tuy không hoàn toàn thật, căn cứ vào thời sự lúc bấy giở.

    Ông Hồ nói vào tháng Ba 1951. Năm 1950 là Năm Thánh của Giáo hội Công giáo (25 năm một lần). Ngày 2 tháng 9, 1950, Giáo Hoàng Piô XII ban hành Sứ điệp (Encyclical) “Humani generis” (Về nhân loại), trong đó có lên án những luận điệu tuyên truyền của Cộng sản.

    Vào thời Đệ nhị Thế chiến, nhiều linh mục và tu sĩ bị bắt buộc làm việc trong các xí nghiệp của Quốc Xã, có dịp gần gũi và thông cảm với cuộc sống khổ cực của thợ thuyền. Sau chiến tranh, phong trào “linh mục thợ” bành trướng mạnh ở Pháp. Linh mục và tu sĩ chủ trương sống chung, và làm việc chung với thợ thuyền, để chia sẻ, truyền đạo, cũng như giúp họ giữ đạo.

    Nhưng sợ bị ảnh hường xấu do cộng sản tuyên truyền, cũng như khó giữ được nếp sống tu trỉ, Giáo Hoàng Piô XII ra lệnh cấm phong trào này vào năm 1950, khiến có những giám mục và linh mục bất bình.

  7. Tôi đang ngồi tại một quán café, không có cuốn từ điển nào để tra cứu, nhưng nếu tôi nhớ không lầm thì trong tiếng Pháp có cả hai chữ “le Pape” và “le Pope” để chỉ vị giáo chủ đạo thiên chúa.

    Thông thường, “le Pape” chỉ giáo chủ đạo thiên chúa La-mã, còn “le Pope” chỉ giáo chủ đạo thiên chúa Cơ-đốc.

    Lướt qua google, tôi thấy có một bức tranh tên là “Napoléon et le Pope” do họa sĩ J.F. Laraud vẽ năm 1912, có đăng ký tác quyền tại Copyright Office của Library of Congress và được ghi vào cuốn Catalog of Copyright Entries của Library of Congress, Part 4, New series, Volumes 7, trang 490.

    Tôi cũng thấy một cuốn sách tên là Le Pope est Mort của Stuart Kaminsky, dày 254 trang (Editions du Masque, 1995), có quảng cáo trên Amazon của Pháp, ở link này:
    http://www.amazon.fr/pope-est-mort-Stuart-Kaminsky/dp/2702424171

    Một cuốn phim hoạt họa tiếng Pháp tên là Pope Alexis của Michel Roudakoff được giới thiệu ở link này:
    http://www.fangpo1.com/images_index/pope_index/pope_al.htm

    Trên báo Magazine Littéraire n°372 cũng có một bài báo tên là “Le pope est mare!”, ở link này:
    http://www.magazine-litteraire.com/content/recherche/article?id=2901

  8. Lê Thượng viết:

    @Phan Nhiên Hạo
    “Tài liệu trên có bản chụp hình bìa của ấn bản với đầy đủ thông tin về nơi xuất bản, ngày tháng. Theo tôi như vậy là đủ. Nó không phải là một bức thư rời nhặt được đâu đó để cần xác minh thêm về nguồn gốc.”

    Viết ra được câu nầy mà cũng làm luận án như ai!

  9. Nguyễn Đăng Thường viết:

    PAPE & POPE

    Pháp-Việt Tân Tự điển minh họa / Nouveau dictionnaire Francais-Vietnamien của Thanh Nghị (nxb SUDASIE) ghi:

    trang 1098: PAPE n. m. Giáo hoàng.

    trang 1175: POPE n. m. Giáo trưởng của giáo-hội Nga.

    The Concise Oxford Dictionary ghi:

    trang 797: pope n. parish priest of Orthodox Church in Russia

    Có một nhà thơ / triết gia Anh tên Alexander Pope (1688-1744).

  10. VanLang viết:

    @Thưa tất cả các bác,

    Quả là tôi không biết tiếng Pháp. Nay đã có bác Trần Văn Tích và Vantruong tra cứu giùm, xin cám ơn.

    Về cung cách ăn nói bình dân (nhiều lúc thái quá) của ông Hồ thì tôi không lạ. Tôi đã tận mắt thấy một bài báo trong nước về kỷ niệm được gặp Bác của một nữ dũng sĩ gì đó. Cô này kể lại khi được đưa vào Phủ chủ tịch và được Bác ra đón thì câu đầu tiên Bác hỏi là: “Cháu có buồn đi đái không thì bác chỉ chỗ cho mà đi?”. Một câu chuyện khác (trên báo Quân đội nhân dân – lâu rồi) là kỷ niệm cảm động của các nữ thanh niên xung phong. Khi Bác đến thăm, không báo trước, đi thẳng vào phòng làm chị em không kịp trang điểm, câu hỏi đầu tiên của Bác là: “Các cháu khó khăn lắm hả, thế kinh nguyệt có đều không?”. Các cháu nghe thế thì oà lên khóc, quá xúc động vì thấy Bác ân cần như một người cha! Ông Hồ là con nhà nho mà có cách ân cần kiểu này kể cũng lạ.

    Riêng tôi nghĩ, để hạ bệ ông Hồ về mặt đạo đức chỉ cần một quyển sách của Trần Dân Tiên đã là quá đủ. Nghe nói trong nước cũng không còn chối chuyện này nữa, trong khi vẫn hô hào “học tập gương đạo đức…”

    Đồng ý với bác Hoà Nguyễn. Lửa thử vàng, không đi đâu mà vội.

  11. USing viết:

    Đại học Oregon chắc là University of Oregon: http://www.uoregon.edu/?

  12. Hoà Nguyễn viết:

    Nếu đã cho đây là bản đánh máy lại, thì có thể có nhiều lỗi đánh chữ, nhất là khi bản chính in đã lâu trên giấy xấu, nhiều chữ bị mất hay nhoè, khó đọc và đọc sai.
    Thí dụ Pope (người ở Mỹ đọc là Pap), có thể trong nguyên bản viết theo tiếng Pháp (và đọc) là Pape.

    @ Ông Trần Văn Tích : Ở Oregon có trường đại học Oregon State University, chắc ông VT muốn nói trường này. Theo tôi biết, các bang ở Mỹ đều có trường đại học mang tên tiểu bang.

    Tôi vẫn tồn nghi cho đến khi thấy bản chụp một trang bên trong tờ Học tập này.

  13. […] Chí Minh tại Đại hội Đảng 1951: “Đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa” — (talawas). “Đó là nhờ chúng ta, toàn giai cấp lao động thế giới, toàn quân đội nhân […]

  14. vantruong viết:

    Trân trọng @ tất cả.
    Chữ pope trong tiếng Pháp có những nghĩa như ở sau:
    http://dictionnaire.sensagent.com/pope/fr-fr/
    http://www.mediadico.com/dictionnaire/definition/pope/1

  15. 1. @bác Trần Văn Tích

    Là một người làm việc trong ngành thư viện đại học ở Mỹ, tôi cho rằng những yêu cầu của bác về việc chứng minh tài liệu trong trường hợp này là không cần thiết.

    1. Việc một tài liệu được lưu trữ tại đâu không thật sự nói lên giá trị của tài liệu. Nếu tài liệu mà Vũ Tường có trong tay là tài liệu riêng do anh kiếm được trong khi làm nghiên cứu ở Việt Nam, và anh không đưa nó vào thư viện đại học Oregon, thì việc này cũng hoàn toàn không có ảnh hưởng gì đến giá trị của tài liệu. Tài liệu trên có bản chụp hình bìa của ấn bản với đầy đủ thông tin về nơi xuất bản, ngày tháng. Theo tôi như vậy là đủ. Nó không phải là một bức thư rời nhặt được đâu đó để cần xác minh thêm về nguồn gốc.

    2. Bác đòi “số đăng bộ” của tài liệu là số gì? Tài liệu trong thư viện chỉ có số phân loại, gọi là Call Number. Có hai hệ thống phân loại chính ở Mỹ. Phần lớn thư viện đại học dùng hệ thống của Thư Viện Quốc Hội (Library of Congress Classification System). Phần lớn thư viện công cộng dùng hệ thống Dewey (Dewey Decimical System). Call Number chỉ dùng để phân loại, sắp xếp tài liệu trong thư viện. Nó hoàn toàn không có giá trị “đăng ký” hay “chứng nhận” gì cả. Việc phân loại tài liệu (catalog) thì tùy thư viện. Nếu thư viện có đủ professional cataloger (rất hiếm, nhất là cataloger tiếng nước ngoài), họ có thể catalog và có record cho tất cả tài liệu mà họ có trong tay, kể cả những thứ lặt vặt, lẻ tẻ. Nếu không, họ chỉ catalog sách và các bộ tạp chí có nhiều số. Ở thư viện của tôi, những tài liệu lẻ tẻ như một hai số tạp chí, các ghi chép… họ không catalog, mà chỉ để trong một phòng riêng cho người nghiên cứu tại chỗ. Những thứ lẻ tẻ này không có Call Number.

    3. Bác muốn Vũ Tường đi xin con dấu/chữ ký để chứng nhận gì đó cho tài liệu. Sẽ không có ai có thể làm chuyện đó ngoại trừ một người librarian/curator chuyên ngành Đông Nam Á và rành về tài liệu Việt Nam. Ở Mỹ chỉ có khoảng 10 người librarian/curator chuyên về Đông Nam Á trong các thư viện đại học. Và tôi là người Việt Nam duy nhất. Nếu bác Trần Văn Tích muốn, tôi có thể “đóng dấu” cho tài liệu của Vũ Tường ngay tại đây là một tài liệu có nguồn gốc xuất bản đúng như những gì được ghi trên hình bìa chụp lại. Nó không thể là một tài liệu ngụy tạo. Việc còn lại là suy luận của các nhà nghiên cứu và đọc giả về giá trị lịch sử của tài liệu này. Việc mạnh dạn “đóng dấu” này một phần cũng vì tôi có quen biết anh Vũ Tường ngoài đời, một học giả thận trọng, được đào tạo từ Princeton và UC Berkeley.

    Tôi quý trọng bác Trần Văn Tích ở thái độ cương trực, chính kiến rõ ràng, nhưng đôi khi không khỏi thấy bác hơi lẩm cẩm. Cũng là lời nói thẳng, mong bác bỏ qua.

1 2 3 4
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>