Về bài viết «Xin đừng xúi Việt Nam bỏ Biển Đông»
07/04/2009 | 3:06 chiều | 27 Comments
Category: Vấn đề Biển Đông
Thẻ: Hoàng Sa-Trường Sa > Thềm lục địa
Về bài viết của ông Phạm Quang Tuấn «Xin đừng xúi Việt Nam bỏ Biển Đông », tôi chỉ xin trả lời bằng cách trích nguyên văn hai đoạn trong hai bài viết của tôi viết từ tháng 9 năm 2008 và đầu tháng 2 năm 2009, không thêm bớt, đó là bài «Những vấn đề lãnh thổ – lãnh hải và hồ sơ thềm lục địa mở rộng của Việt Nam» và bài “Bàn lại cùng TS Dương Danh Huy về giải pháp cho tranh chấp Biển Đông“. Tôi nghĩ hai bài này đủ để tôi giải thích lập trường của tôi về Biển Đông đồng thời chứng minh sự hiểu biết của các bên mà không cần phải viết thêm một bài khác.
I. Trích dẫn 1, trong bài «Những vấn đề lãnh thổ – lãnh hải và hồ sơ thềm lục địa mở rộng của Việt Nam»
… từ nay cho đến ngày 13 tháng 5 năm 2009, người ta có thể kiểm chứng lại lập trường Biển Đông của Việt Namqua hồ sơ «thềm lục địa mở rộng».
Thật vậy, luật quốc tế về biển 1982 có qui định một số các điều khoản, cho phép những nước cận biển có thể mở rộng thềm lục địa đến tối đa là 350 hải lý nhưng phải thỏa mãn một số điều kiện. Thí dụ: những nước muốn khai thác vùng thềm lục địa mở rộng phải chia sẻ tài nguyên khai khác được với một tỉ lệ sẽ được xác định với một cơ quan quốc tế thuộc LHQ (chú thích thêm: tỉ lệ hiện nay, bắt đầu từ 5% trên số lời khai thác được, sau đó sẽ là 10%/năm). Hồ sơ (về kỹ thuật và pháp lý) thềm lục địa mở rộng của các nước phải nộp cho Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS) thuộc LHQ trước ngày 13 tháng 5 năm 2009. (Ghi chú thêm: Việc này chỉ áp dụng cho các nước đã thông qua Luật Biển 1982 trước ngày 13 tháng 5 năm 1999. Thời điểm 13-5-1999 là ngày mà CLPC đồng ý về một chỉ thị hướng dẫn về kỹ thuật hồ sơ «thềm lục địa mở rộng», các nước có 10 năm để hoàn tất hồ sơ. Trường hợp các nước thông qua Luật Biển sau ngày 13-5-1999, những nước này cũng có thời hạn 10 năm để lập hồ sơ. Việt Nam đã thông qua Luật Biển ngày 23 tháng 6 năm 1994, như thế Việt Nam thuộc danh sách các quốc gia phải nộp hồ sơ trước ngày 13-5-2009). Như thế vấn đề “thềm lục địa mở rộng” là một vấn đề hoàn toàn kỹ thuật và pháp lý, mỗi nước phải làm một hồ sơ riêng và kết quả sẽ do CLCS quyết định.
Trường hợp của Biển Đông được bao bọc bởi các nước: Việt Nam, Mã Lai, Nam Dương, Brunei, Phi Luật Tân và Trung Quốc. Đài Loan cũng có tiếng nói tại Biển Đông do hiệu quả của đảo Itu-Aba, tức là đảo Ba Bình, chiếm của Việt Nam năm 1946. Đây là đảo lớn nhất TS, nếu chủ quyền của Đài Loan được xác định, đảo Ba Bình có thể hưởng vùng ZEE và thềm lục địa 200 hải lý, tương tự một vài đảo hiếm hoi khác tại đây có nước ngọt và cây cối có thể tạo một nền kinh tế tự túc cho một số người sinh sống. Điều hay là các đảo này đều thuộc Việt Nan.
Biển Đông có chiều dài trung bình 3.520km, chiều rộng 1.200km.
Các nước nói trên (ngoài Đài Loan) có thể mở vùng biển ZEE và thềm lục địa nước mình mỗi bên tối đa là 200 hải lý (370km), tính từ đường cơ bản. Trường hợp hai nước đối diện (theo chiều rộng), giả sử Việt Nam và Phi, tổng cộng vùng ZEE lý thuyết của hai bên là 740km. Như thế còn lại trên lý thuyết là 460km (xem hình 1), hai nước có thể phân chia vùng này, nếu tình trạng kỹ thuật cho phép, dựa trên điều ước về thềm lục địa mở rộng của Luật Biển 1982.
Hình 3, nguồn Mark Valencia, minh họa việc phân chia thềm lục địa mở rộng giữa các nước chung quanh Biển Đông, với điều kiện các nước hội đủ các điều kiện kỹ thuật theo qui ước của luật quốc tế về biển 1982.
Nhưng Việt Nam là nước có chủ quyền các đảo thuộc hai quần đảo HS và TS. Như đã nói trên, các đảo này tuy rất nhỏ nhưng một số có nước ngọt và cây cối, có thể làm nơi trú ngụ thường trực và phát triển kinh tế tự túc cho một số nhân sự nhất định. Như thế một số các đảo ở đây hội đủ điều kiện của luật quốc tế về biển để được hưởng lãnh hải 12 hải lý và vùng kinh tế độc quyền ZEE 200 hải lý. Việt Nam vì thế có thể mở rộng vùng biển của mình, như bản đồ đính kèm các tuyên bố 1977 và 1982 (hình 2).
Tuy nhiên, một số đảo của Việt Nam bị nước ngoài xâm chiếm: toàn bộ các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa đã bị Trung Quốc xâm lăng từ năm 1974. Phi Luật Tân chiếm một số đảo của Việt Nam thuộc TS rải rác từ thập niên 60-70 như đảo Loại Ta, đảo Vĩnh Viển, đảo Song Tử Đông, đảo Thị Tứ… Đài Loan chiếm của Việt Namđảo Ba Bình (đã nói trên). Mã Lai chiếm của Việt Nam các đảo Kỳ Vân, Hoa Lau và Kiệu Ngựa. Một số các đảo này hội đủ điều kiện để có hải phận và vùng kinh tế độc quyền 200 hải lý. Một số các đảo nhỏ khác đã được các nước xây dựng, làm bồn chứa nước, xây phi đạo, be bờ, đổ đất, trồng cây cối, mở rộng diện tích để các đảo này có thể có nền kinh tế tự túc, cho phù hợp điều kiện của Luật Biển 1982, để có vùng biển ZEE. Nhưng việc xây dựng lại khiến các đảo này trở thành đảo nhân tạo, như thế lại mâu thuẩn với một điều ước khác của Luật Biển 1982, do đó vô hiệu hoá vùng biển ZEE của các đảo nhân tạo đó.
Các nước liên hệ vì thế có thể dựa trên hiệu lực các đảo chiếm được của Việt Nam để đòi hỏi vùng biển ZEE của mình.
Trường hợp Trung Quốc, từ lâu họ đòi hỏi toàn bộ Biển Đông qua bản đồ 9 gạch. Một trong những lý lẽ của họ là do hiệu lực của các đảo HS và TS mà họ ngang ngược chiếm của Việt Nam và tuyên bố có chủ quyền. Họ cũng chiếm luôn nhóm đá ngầm Scarborough Reef, ở phía đông, khoảng giữa HS và TS, để vùng biển này được liên tục, vì hiệu quả ZEE của các đảo HS và TS vẫn không phủ hết Biển Đông, mặc dầu vùng đá ngầm Scarborough Reef chìm sâu dưới nước đến 80m.
Như thế muốn phân định hải phận Biển Đông thì các nước trước hết phải xác định chủ quyền các đảo thuộc hai quần đảo HS và TS. Việt Nam có ưu thế hơn tất cả các nước khác vì Việt Nam có đầy đủ hồ sơ lịch sử và pháp lý để chứng minh chủ quyền của mình tại hai quần đảo này.
Thời hạn chót nộp hồ sơ «thềm lục địa mở rộng» là ngày 13 tháng 5 năm 2009. Hiện nay, các nước bao bọc chung quanh Biển Đông, chỉ có Nam Dương là hoàn tất hồ sơ và đã nộp cho CLCS trước thời hạn nhiều tháng.
Việc tranh chấp chủ quyền các đảo vì thế làm cho hồ sơ «thềm lục địa mở rộng» của các nước mang tính chiến lược, nhất là đối với Việt Nam và Trung Quốc.
Chắc chắn các nước từ đây đến ngày 13 tháng 5 năm 2009 cũng phải nộp hồ sơ. Nếu không có đồng thuận trước, sẽ không nước nào nộp trước, tất cả sẽ chờ cùng nộp vào thời khắc cuối cùng. Nước nào nộp hồ sơ trước, hay để lộ nội dung hồ sơ, nước kia có thể lập hồ sơ khác hóa giải hay nắm phần trên.
Như thế có thể tiên đoán rằng hai nước Việt Nam và Trung Quốc (có thể có cả Phi) sẽ cùng nộp hồ sơ một lúc. Nếu nộp trước thời hạn 13-5-2009, các bên Việt Nam và Trung Quốc (và Phi) đã đạt được một thoả thuận về Biển Đông. Nếu các bên cùng nộp vào phút chót ngày 13-5 thì chưa chắc các bên có một sự đồng thuận nào đó.
Trường hợp có sự đồng thuận giữa Việt Nam và Trung Quốc, phía nhượng bộ chắc chắn là Việt Nam, nội dung thỏa thuận có thể là nguyên tắc phân chia theo 3 điểm ở trên: 1/ để qua một bên vấn đề tranh chấp chủ quyền các đảo ; 2/ phân chia hải phận trên nguyên tắc đường trung tuyến; 3/ các đảo HS và TS có hiệu lực 12 hải lý lãnh hải (lãnh địa hải phận) và không có vùng kinh tế độc quyền (ZEE) cũng như thềm lục địa 200 hải lý.
Nếu không có thoả thuận, hồ sơ của Việt Nam có thể là nội dung của hai bản tuyên bố 1977 và 1982 đồng thời đính kèm thêm một số chi tiết kỹ thuật và pháp lý về các đảo thuộc HS và TS. Đương nhiên Trung Quốc cũng lập hồ sơ với vùng biển thu nhỏ lại, vì không thể tính hiệu quả lãnh hải và ZEE của nhóm đá ngầm Scarborough Reef.
Sự «chồng lấn» giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ phải giải quyết bằng một trọng tài quốc tế mà phần thắng sẽ thuộc về phía Việt Nam, nếu lãnh đạo CS Việt Nam biết cách hóa giải các cam kết, các tuyên bố ngày trước của Đảng CS Việt Nam đã nhìn nhận HS và TS thuộc chủ quyền Trung Quốc.
II. Trích dẫn 2, trong bài “Bàn lại cùng TS Dương Danh Huy về giải pháp cho tranh chấp Biển Đông“:
2/ Phương pháp phân chia:
Về nội dung đề nghị của TS Huy, nói đúng ra là của học giả Valencia, tôi nhận thấy có một số điều không ổn như sau:
2.1. TS Huy đề nghị: “tạm gác chủ quyền các đảo sang một bên…”
2.2 TS Huy đề nghị: “chia vùng biển này thành các vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa cho những nước…”
Chia thành các vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa? Nhìn trên bản đồ thì phương pháp chia là phương pháp chia thềm lục địa mở rộng. TS Huy hình như không phân biệt được “vùng kinh tế độc quyền” và “thềm lục địa mở rộng”.
Tôi cho rằng phương pháp “chia hai” của TS Huy có nhiều điều không ổn vì không tôn trọng tinh thần Luật Biển 1982 về các nguyên tắc phân chia “vùng kinh tế độc quyền – zone économique exclusive ZEE” cũng như về thềm lục địa mở rộng (Plateau continental étendu).
Về việc phân chia theo ZEE hay thềm lục địa:
Biển Đông có chiều dài trung bình 3.520km, chiều rộng 1.200km.
Hai nước đối diện có thể mở ra vùng biển ZEE và thềm lục địa nước mình mỗi bên tối đa là 370km (200 hải lý), tính từ đường cơ bản, tức tổng cộng hai bên là 740km.
Phương pháp của TS Huy đã làm cho hai nước đối diện chiếm trái phép vùng biển (và thềm lục địa) của nhân loại có bề dày là 1.200km – 740km = 460km.
Về việc phân chia theo thềm lục địa mở rộng:
Luật Biển 1982 cho phép những nước cận biển có thể mở rộng thềm lục địa đến tối đa là 350 hải lý nhưng phải thỏa mãn một số điều kiện. Trong trường hai nước đối diện là Việt Nam và Phi, thì Phi Luật Tân bị hai trở ngại: 1/ Do Luật Biển 1961 của xứ này và 2/ Độ sâu của biển quanh các đảo của Phi vượt trên 2.500m. Trở ngại khác, những nước muốn mở rộng thềm lục địa của mình phải nộp hồ sơ (về kỹ thuật và pháp lý) thềm lục địa mở rộng của mình cho Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS) thuộc LHQ trước tháng 5 năm 2009. Mặt khác, những nước muốn khai thác vùng thềm lục địa mở rộng phải chia sẻ tài nguyên khai khác được với một tỉ lệ sẽ được xác định với một cơ quan quốc tế thuộc LHQ, có thẩm quyền về những gì thuộc về đáy biển (fond marin).
Như thế vấn đề “thềm lục địa mở rộng” là một vấn đề hoàn toàn kỹ thuật và pháp lý, mỗi nước phải làm một hồ sơ riêng và kết quả sẽ do CLCS quyết định. Việc này sẽ không sớm hơn tháng 5 năm 2009.
Phương pháp “chia hai” của ông Valencia là một giả thuyết (trong nhiều giả thuyết khác mà ông đã đưa ra) để thử giải quyết việc tranh chấp. Phương pháp này đã dành cho Phi Luật Tân những ưu điểm mà đáng lẽ nước này không có. Ta có thể thông cảm cho ông Valencia. Ông này người Phi Luật Tân.
Nhưng TS Huy lấy “giả thuyết” của ông Valencia, vội xem đó là một kiểu mẫu cho việc giải quyết tranh chấp.
Tranh chấp Biển Đông và chủ quyền HS và TS, cũng sẽ như bất kỳ tranh chấp nào, nếu không có sự thỏa thuận giữa các bên, cách giải quyết cuối cùng là một vấn đề của một trọng tài quốc tế.
Một kiểu mẫu giải quyết tự nó đã không tôn trọng pháp lý thì nó có thể là một phương pháp giải quyết hay không?
Như thế, về vấn đề «thềm lục địa mở rộng», theo tôi thì ít nhất cho đến ngày 16-9-2008, ông Huy chưa có khái niệm về «thềm lục địa mở rộng». Chỉ sau khi có sự góp ý của tôi ông Huy mới có các khái niệm về việc này.
III. Vài chi tiết cần làm sáng tỏ về đá Rockall và ý nghĩa của ZEE
Tài liệu của Bộ Ngoại giao Việt Nam Sổ tay pháp lý cho người đi biển do Ban Biên giới Chính phủ và NXB Chính trị Quốc gia phát hành năm 2002, do Tuần ViệtNam đăng lại, có viết:
Năm 1955, Nữ hoàng Anh đã ra lệnh cho Hải quân cắm cờ, dựng bia chủ quyền trên Rock All rộng 3 m vuông, cao 21 m, để tuyên bố vùng đặc quyền về kinh tế xung quanh Rock All là 200 hải lý.
Tài liệu thuộc Bộ Ngoại giao của một nước đương nhiên có tính «qui chiếu» (référence), tuy nhiên tài liệu này đã sai ít ra trên 2 chi tiết: lỗi chính tả và hiệu lực thực tế của nó. Tài liệu này ấn hành năm 2002, tức đến 5 năm sau khi Anh tuyên bố rút lại đòi hỏi ZEE, cho thấy phía tài liệu phía Việt Nam có vấn đề.
Tài liệu do Việt Nam công bố cực kỳ hiếm hoi, nhưng khi công bố thì lỗi sai đầy dẫy. Đây là một điều mà phía Việt Namcần nhanh chóng điều chỉnh lại.
Tôi có kiểm chứng tài liệu này qua tự điển mở http://fr.wikipedia.org/wiki/Rockall; nguyên văn như sau:
L’île proprement dite se réduit à un rocher d’une taille insuffisante pour justifier de droits à une zone économique exclusive (ZEE). Jusqu’en 1997, le Royaume-Uni prétendait que Rockall devait être pris en compte pour la détermination des limites des zones économiques exclusives dans le secteur, mais a désormais renoncé à cette revendication. Demeure aujourd’hui un désaccord concernant les droits sur le plateau continental.
Đoạn gạch dưới nhấn mạnh việc ngày hôm nay vẫn còn có những bất đồng về thềm lục địa tại đây.
Về ý nghĩa của ZEE – vùng kinh tế độc quyền, ông Phạm Quang Tuấn không hiểu là trong vùng ZEE gồm có: cùng nước (cột nước), mặt đáy biển và phần dưới đáy biển (thềm lục địa). Trường hợp Rockall là một thí dụ cho thấy một nước có thể tuyên bố bỏ một số quyền nào đó và giữ một số quyền nào đó về vùng ZEE.
Thí dụ khác, hiện nay giữa Ý và Tunisie, hai bên ký kết hiệp ước năm 1971, lúc đó lãnh hải của Ý được xác định là 6 hải lý (thay vì 12 hải lý như qui định của UNCLOS 1982). Trên tinh thần đó đảo Lampedusa, Linosa và Pantelleria được hưởng 13 hải lý và đảo Lampione được 12 hải lý.
Nhưng sau khi có công ước 1982, phía Ý đã thay đổi lập trường về việc phân định như trên. Phía Ý công nhận «vùng nước» theo tinh thần hiệp ước 1971, nhưng đặt lại vấn đề chủ quyền «thềm lục địa». Tháng 2 năm 2006, chính phủ Ý thông qua một vùng « ZPE », đặt lại vấn đề hiệp ước 1971, đòi hỏi phân chia thềm lục địa với Tunise, theo đó các đảo trên phải được chia theo đường trung tuyến với bờ biển Tunise. Hồ sơ này đang chờ phân xử.
IV. Kết luận
Cá nhân tôi đã nghiên cứu về tranh chấp biên giới Việt-Trung bắt đầu từ năm 2000. Đây là thời gian rất ngắn so với nhiều học giả khác (như ông Nguyễn Nhã, gần cả cuộc đời nghiên cứu Hoàng Sa & Trường Sa). Tôi không có tham vọng đề nghị một giải pháp giải quyết Biển Đông ở tầm mức quốc gia, vì tôi biết, muốn đề nghị một giải pháp như thế, người đề nghị phải am tường ít nhất ba lãnh vực: lịch sử – pháp lý – địa lý chính trị, mà cả ba lãnh vực tôi chỉ là người nghiên cứu tài tử. Tuy nhiên, với một số kiến thức nhất định, tôi nghĩ mình có thẩm quyền phê bình những người mạo hiểm, chỉ trong vài tháng trước, không biết gì về «thềm lục địa mở rộng».
Về các góp ý của ông Phạm Quang Tuấn, tôi cho rằng không quan trọng, tác giả chỉ viết theo thành kiến, thiếu tham khảo hồ sơ và thiếu kiến thức cơ bản vầ địa lý HS&TS cũng như về Luật Biển. Tôi không chấp nhất, cho dầu ông Phạm Quang Tuấn đã phê bình tôi đầy ác ý trong những nhận định nông cạn cũng như các suy diễn hàm hồ.
Tôi sẽ trở lại qua một bài khác, nói về nguy cơ «buông» HS&TS của nhà nước Việt Nam, trình bày một số bằng chứng sai mà ông Dương Danh Huy đã đưa ra chứng minh trong các bài viết, cũng như các chi tiết khác chưa kịp nói trong bài này.
© 2009 Trương Nhân Tuấn
© 2009 talawas blog
Ông Phạm Quang Tuấn cho 30 năm nữa, Trung quốc vẫn phát triển cao như những năm qua? Nhưng ít ra trong năm nay đã có dự đoán TQ tăng trưởng chừng 6 hay 8%. Không phải chỉ vì khủng hoảng kinh tế, còn vì khi GDP càng cao, tỷ lệ tăng trưởng càng thấp xuống, như đã thấy ở Nhật,Hàn, Đài Loan. Nhiều người cho khi đời sống kinh tế cao hơn TQ dễ chấp nhận chế độ dân chủ hơn. Hiện nay, tuy nền kinh tế TQ đứng hàng thứ ba thế giới,nhưng thu nhập đầu người(per capita)đứng thứ 97(so với VN thứ 127 ,Đài Loan thứ 25). Người ta có thể hy vọng ngày nào đó khi là nước dân chủ TQ sẽ tôn trọng luật pháp quốc tế hơn, bỏ đòi hỏi vô lý về cái “lưỡi bò” ở Biển Đông, và muốn giải quyết tranh chấp bằng thương thuyết theo luật pháp quốc tế. Phi đã thách thức TQ đưa vấn đề nội thủy ở TS ra tòa án quốc tế, nhưng TQ từ khước, trái hẳn với cường quốc Anh trong vụ tranh chấp đảo đá Rockall với các nước nhõ như Ireland. Tin được cùng với các nước, VN sẽ tiến lên về kinh tế, quân sự,chứ không phải ngày càng lùi xa.
TNT: GDP của TQ hiện nay chỉ khoảng 3% tổng sản lượng địa cầu, nhưng vào thế kỷ trước con số này lớn hơn đến 10 ( ?)
GDP của TQ hiện nay là 8% tổng sản lượng địa cầu (theo CIA), và tỉ số này đang tăng nhanh chóng! 30 năm nữa nó sẽ là bao nhiêu % của thế giới?
Còn con số “GDP của TQ vào TK trước là 30% địa cầu” thì lại … phịa rồi! 🙂 100 năm trước TQ đang bị Âu Châu và Nhật xâu xé, coi như too^m tép.
TNT: Hơn nữa, thế giới hôm nay ngày càng tiến đến một trật tự mới mà « dân chủ » được vinh danh, sự công bằng được tôn trọng. Do đó sẽ ít thấy cảnh cá lớn nuốt cá bé.
Đọc TNTuấn là một cách giải trí thật tuyệt!
Cám ơn bác Nguyễn Văn Nguyên và các bác đã góp ý.
Tôi cũng có cái nhìn như bác Nguyễn Văn Nguyên về tình hình VN và TQ, vì không thể khoanh tay ngồi ngó, nên cố gắng viết những bài có tính cách báo động. Tôi quan niệm chẳng thà mình cảnh báo sai còn hơn là để cháu con sau này nguyền rủa mình đã đặt chúng trước hoàn cảnh nước mất nhà tan.
Nhưng tôi không chia sẻ ý kiến « Việc buông hay giữ Trường Sa, Hoàng Sa có nguy cơ sẽ không còn phụ thuộc vào ý chí của nhà nước Việt Nam hay thậm chí cả dân tộc Việt Nam » của bác được.
Nhìn lại lịch sử, trước tiền bán thế kỷ 19, đế quốc Hán giàu mạnh hơn hiên nay nhiều lần. Nếu tôi không nhớ sai, GDP của TQ hiện nay chỉ khoảng 3% tổng sản lượng địa cầu, nhưng vào thế kỷ trước con số này lớn hơn đến 10 ( ?) lần. Phương pháp nào cha ông ta giữ được nước cho đến hôm nay ?
Hơn nữa, thế giới hôm nay ngày càng tiến đến một trật tự mới mà « dân chủ » được vinh danh, sự công bằng được tôn trọng. Do đó sẽ ít thấy cảnh cá lớn nuốt cá bé.
Khó khăn cho VN hiện nay là chế độ độc tài, đảng CSVN muốn làm gì thì làm, bất kể việc đó đem di hại cho đất nước ra sao. Một thể chế như thế, tự đặt mình ngoài « trật tự mới », thì ánh sáng công lý nào rọi tới ?
Theo tôi, vấn nạn VN hiện nay là do đảng CSVN quá lệ thuộc vào đảng CSTQ, bị sức ép từ phía lãnh đạo TQ, do đó có nhiều nhượng bộ cho TQ mà bình thường một nhà nước dân chủ khó chấp nhận được. VN có giữ nước được hay không là do VN có lãnh đạo vì dân vì nước thực sự hay không ?
Theo tài liệu của ông Vũ Hữu San có lẽ VN sẽ không được thêm bao nhiêu trong phần Thềm lục địa mở rộng (TLĐMR). Vì ở miền Trung thềm lục địa rất nhỏ hẹp, có nơi chỉ chừng 22 HL,còn ở Nam bộ sẽ đụng với “Lưỡi Bò” của TQ, và phần biển tiếp theo đã thỏa hiệp chia với Indonesia, nay khó thay đổi.Dự liệu sẽ có tranh chấp với TQ ỏ các vùng gần HS, vũng Tư Chính-Vũng Mây. EEZ của VN lại lớn hơn thềm lục địa. Trích từ quyển “Địa lý Biển Đông với HS & TS” của Vũ Hữu San, chương 8.7: “Trường-hợp Việt-Nam diện-tích Vùng Biển Đặc-quyền Kinh-tế là 1 triệu km2, còn thềm Lục-Địa lại chừng 700,000 km2.Con số này do tham-dự-viên Việt-Nam đưa ra trong buổi hội-thảo biển tại Trường Đại-Học Tufts”(có thể download sách này theo link http://anhduong.net/DiaLyBienDong13June07.doc ).
Với VN có thể chọn cách tính nào sau đây có lợi nhất cho TLĐMR . Hoặc từ chân (dốc)thềm lục địa lấy ra thêm 60 HL. Hoặc lấy ra tới chỗ lớp trầm tích có độ dày bằng hoặc lớn hơn 1% khoảng cách từ điểm đó tới chân thềm lục-địa.
TN Tuấn viết: “Thực sự tôi không có thói quen «nghiên cứu» trên internet như nhiều người khác.” Ông ngoặc kép chữ “nghiên cứu” làm như ông không coi đó là nghiên cứu! Những người đang làm công tác nghiên cứu (như tôi) đọc cái đó phải phì cười, vì đó là cách chúng tôi nghiên cứu và dạy sinh viên của chúng tôi nghiên cứu thời nay. Từ 90 tới 99% tài liệu là coi qua internet, kể cả tất cả các tập san khoa học. Dĩ nhiên, về biển Đông thì tôi không phải là nhà nghiên cứu, chỉ là một độc giả bình thường nhưng có óc suy xét, đọc thấy cái gì có vẻ vô lý hay gây tranh cãi thì biết cách kiểm chứng. Không như TN Tuấn tự xưng là “học giả”!
Tuy nhiên, buồn cười nhất là sau khi chê lối nghiên cứu bằng internet, ông lại nói rằng ông chỉ biết về Rockall qua hai tài liệu… internet là… báo tuanvietnam và Wikipedia (và còn hiểu sai Wikipedia)! Ở đại học, sinh viên nào mà dùng tài liệu cỡ đó thì có cơ ăn trứng. Trong khi đó, tôi đưa tài liệu đáng tin cậy của một đại học uy tín thì ông vẫn không đọc!
Về Rockall TN Tuấn viết: “Đó là tôi viết theo ý của hai tài liệu trên. Có thể tài liệu sai, vì thế có thể tôi viết sai, nhưng tôi không cố tình bịa chuyện viết sai để phục vụ cho một ý đồ nào đó.”
Còn một khả năng nữa là TN Tuấn không có khả năng đọc những bài dài (dù là bằng tiếng Pháp, ngoại ngữ chính của ông) nên chỉ chọn ra một câu rồi hiểu theo cách “lợi” cho ông, chứ không đọc tiếp xem bài đó thực sự nói gì. Nếu, khi đọc bài Wikipedia, ông chịu khó click con chuột vào phần “Histoire et revendications territoriales” thì sẽ thấy ngay!
Vẫn chưa thấy TN Tuấn nói gì về gốc gác của Mark Valencia (tôi nghĩ tới ông này khi đọc câu TN Tuấn viết “tôi không cố tình bịa chuyện viết sai để phục vụ cho một ý đồ nào đó”).
(tt)
Thêm một yếu tố tăng mối lo. Nếu nguyện vọng của dân chúng hôm nay về vấn đề khai thác bauxít không được lắng nghe, đáp ứng thì trong vòng 10-15 năm nữa ở khu vực Tây Nguyên vẫn còn hiện diện một lực lượng hàng vạn người Trung quốc. Vì vấn đề đó mà các vị tướng lãnh Việt Nam lo lắng cho an ninh quốc gia là hoàn toàn có cơ sở. Bình thường những người Trung Quốc này chỉ là công nhân khai khoáng. Khi có biến ở Biển Đông, biết đâu vũ khí có thể được vận chuyển qua ngã Miến Điện, Lào, Camphuchia họ sẽ trở thành một lực lượng quân sự bám trụ trên vùng cao. Chỉ cần họ gây sức ép, bắt mình nhượng bộ ở biển Đông cũng là mệt rồi.
Khi tập đoàn Chalco báo cáo lợi nhuận bằng 0, có người mong họ gặp khó khăn sẽ xem xét lại dự án ở Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có thể đấy là cách nói khó của đứa con cưng nhằm vòi vĩnh những hỗ trợ, ưu đãi của nhà nước Trung quốc khi tập đoàn này sang Việt Nam mà thôi.
Vài trao đổi thẳng thắn trên tinh thần tương kính hy vọng không làm giảm sự nhiệt tình của các bác.
Bác Trương Nhân Tuấn viết „…nguy cơ «buông» HS&TS của nhà nước Việt Nam…“
Việc buông hay giữ Trường Sa, Hoàng Sa có nguy cơ sẽ không còn phụ thuộc vào ý chí của nhà nước Việt Nam hay thậm chí cả dân tộc Việt Nam. Với đà phát triển quân sự Trung Quốc như hiên nay, tham vọng thôn tính cả biển Đông ấp ủ hàng thế kỷ thì không rõ 10-15 năm nữa điều gì sẽ xảy ra với chủ quyền Tổ quốc, nếu ngay từ bây giờ chúng ta chỉ khoanh tay ngồi nhìn.
Chỉ sau một thời gian không xa, Trung Quốc sẽ hoàn thiện xong một vài chiếc bè chở máy bay. Họ thả nó trôi xuống biển Nam để … hỗ trợ các tàu đánh cá tại các vùng như Tư Chính-Vũng Mây hay Côn Sơn thì còn ai dám hợp tác khai thác dầu khí với Việt Nam? Mong sao Nhà nước dẹp bỏ các dự án kém hiệu quả, khẩn trương tập trung ưu tiên tiến hành các hoạt động thăm dò khai thác tài nguyên ở những vùng biển này.
Để mọi chuyện sáng tỏ, ông Trương Nhân Tuấn có thể viết thư cho Mark Valencia để xin một tấm hình và mấy chữ xác nhận quốc tịch của ông nầy?
Hiện tại, tôi chỉ có thể tìm thấy bản CV sơ lược, theo đó, Mark J. Valencia tốt nghiệp ở Hoa Kỳ và gắn bó 26 năm sự nghiệp nghiên cứu với East-West Center (Hawaii):
http://www.mima.gov.my/mima/htmls/conferences/LIMA05/valencia-cv.pdf
Theo bài phỏng vấn dưới đây, Mark J. Valencia coi bộ có quốc tịch Mỹ:
http://www.teenink.com/Interviews/article/5364/60s-ActivistHippie-Mark-Valencia/
Chưa có chỉ dấu nào cho hay ông có gốc gác Phi Luật Tân, mặc dầu không loại trừ khả năng nầy. Một tấm ảnh của Mark J Valencia:
http://www.opinionasia.org/contributor/560
Trong bài này tôi có một phạm một sai lầm liên quan đến hai nước Tunisie và Ý. Sai lầm do việc ghi chép không rõ rệt trong lúc tham khảo tại thư viện. Trân trọng cáo lỗi.
Thay vì hai nước này đã phân định « thềm lục địa » năm 1971, tôi đã ghi trong bài là phân định « hải phận ». Hiện nay hai nước đang thuơng thuyết để phân định « vùng biển » (thay vì thềm lục địa).
Nguyên nhân việc phân định lại hải phận là do phía Tunise tuyên bố xác định vùng ZEE, dành vùng đánh cá, bao gồm vùng có tên gọi « il Mammelone », có nhiều cá mà ngư thuyền Ý thường xuyên khai thác, trong lúc phí Ý xem vùng này là « biển cả – haute mer ». Phía Ý lập ra vùng ZPE (vùng bảo vệ môi sinh – zone de protection écologique) năm 2006. Vì thế hai nước sẽ phải phân định lại « hải phận ».
Trả lời anh Huy về đá Rockall : Thực sự tôi không có thói quen « nghiên cứu » trên internet như nhiều người khác. Về trường hợp đá Rockall, tôi tham khảo một nguồn tin (ở đây là tài liệu của bộ Ngoại Giao VN) sau đó kiểm chứng tại một nguồn khác (ở đây là tự điểm mở wikipédia), sau đó viết : « Năm 1955, Nữ hoàng Anh đã ra lệnh cho hải quân cắm cờ, dựng bia chủ quyền trên Rock All rộng 3 m vuông, cao 21 m, để tuyên bố vùng đặc quyền về kinh tế xung quanh Rock All là 200 hải lý. Mặc dầu hiện nay Anh đã rút lại đòi hỏi về hải phận ZEE nhưng về thềm lục địa họ vẫn giữ nguyên tuyên bố 200 hải lý quyền khai thác. »
Đó là tôi viết theo ý của hai tài liệu trên. Có thể tài liệu sai, vì thế có thể tôi viết sai, nhưng tôi không cố tình bịa chuyện viết sai để phục vụ cho một ý đồ nào đó. Tuần qua, tôi có viết thư cho bộ ngoại giao Anh để hỏi thăm tình trạng Rockall, họ có gởi một số tài liệu nhưng tôi chưa có thì giờ tham khảo.
Về Valencia
“Phương pháp “chia hai” của ông Valencia là một giả thuyết (trong nhiều giả thuyết khác mà ông đã đưa ra) để thử giải quyết việc tranh chấp. Phương pháp này đã dành cho Phi Luật Tân những ưu điểm mà đáng lẽ nước này không có. Ta có thể thông cảm cho ông Valencia. Ông này người Phi Luật Tân.”
Đã rất nhiều lần, trên Talawas cũng như các nơi khác, TNTuấn “chụp mũ” rằng Valencia là người Phi Luật Tân, và dùng việc đó để kết tội DDHuy mắc mưu ông này. Xin hỏi ông TNTuấn nghe ở đâu chuyện Valencia là người Phi, hay là phịa đại theo thói quen cố hữu?
Về Rockall:
DD Huy: “Bác PQ Tuấn đã chỉ ra một bài viết học thuật đăng bởi International Boundaries Research Unit (một cơ quan có uy tín tầm vóc quốc tế) của ĐH Durham (một trong những đại học có uy tín nhất của Anh), cho cả URL, bác TN Tuấn lại đi trích…Wikipedia.” Thực ra TN Tuấn hiểu sai. Chắc vì Wikipedia viết hơi dài nên TN Tuấn không đủ kiên nhẫn đọc hết. Cái câu “Demeure aujourd’hui un désaccord concernant les droits sur le plateau continental” được giải thích ở phần sau bài đó. Câu này nói về vụ Ireland, Iceland và Danemark tranh giành thềm lục địa Ở VÙNG BIỂN Hatton-Rockall. Dĩ nhiên, vụ tranh giành này không ăn nhậu gì đến hòn Rockall hết, và không nước nào (kể cả Anh) đòi EEZ hay thềm lục địa cho Rockall cả.
Buồn cười nhất là TN Tuấn đọc tài liệu của tuanvietnam về Rockall, tin như sấm (“quy chiếu”) và chép cả lỗi chính tả, và bây giờ thấy mình hớ thì xoay ra nói chữa “tài liệu phía VN có vấn đề”. Hình như ông không bao giờ kiểm lại bằng tài liệu khoa học thứ thiệt!
Tôi sẽ trở lại qua một bài khác, nói về nguy cơ «buông» HS&TS của nhà nước Việt Nam,
Nếu bác cho là có nguy cơ NN VN “buông” HSTS thì lẽ ra bác phải cảm ơn tôi và các tác giả viết “phải bảo vệ chủ quyền đối với HSTS một cách triệt để” trên báo trong nước để 80 triệu người đọc.
Nhưng theo bài bác viết trên Thông Luận thì bác cũng muốn “buông” một số đảo TS cho Phi thì phải?
trình bày một số bằng chứng sai mà ông Dương Danh Huy đã đưa ra chứng minh trong các bài viết, cũng như các chi tiết khác chưa kịp nói trong bài này.
Trong bài này bác viết sai về Rockall (do không tham khảo tài liệu học thuật) và viết một cách không đáng tin cậy về ranh giới TLĐ Ý-Tunisia, trong khi thực tế là ngày nay ranh giới đó vẫn là 1 hiệp định có hiệu lực.
Như vậy thì không chứng minh được là người khác sai.
Tháng 2 năm 2006, chính phủ Ý thông qua một vùng « ZPE », đặt lại vấn đề hiệp ước 1971, đòi hỏi phân chia thềm lục địa với Tunise, theo đó các đảo trên [Lampedusa, Linosa Pantelleria, Lampione] phải được chia theo đường trung tuyến với bờ biển Tunise. Hồ sơ này đang chờ phân xử.
Ranh giới TLĐ Ý-Tunisia tôi đưa ra là ranh giới được hoạch định bằng hiệp định đã đi vào hiệu lực. Đó là một dẫn chứng cho tập quán ngoại giao về các đảo nhỏ chỉ được ít hiệu lực EEZ/TLĐ trong vùng chồng lấn.
Nếu Ý muốn đơn phương đổi ranh giới TLĐ đó thành trung tuyến giữa Lampedusa, Linosa Pantelleria, Lampione và Tunisia thì đó không phải là tập quán ngoại giao.
Hồ sơ này đang chờ phân xử.
Bác TN Tuấn nói đang chờ ai phân xử?
Hiệp định ranh giới TLĐ đã đi vào hiệu lực, Toà án Công lý Quốc tế sẽ không xử nếu một bên đơn phương muốn thay đổi.
Chắc bác TN Tuấn lầm ranh giới TLĐ tôi nói tới với ranh giới khác.
Về Rockall:
Bác PQ Tuấn đã chỉ ra một bài viết học thuật đăng bởi International Boundaries Research Unit (một cơ quan có uy tín tầm vóc quốc tế) của ĐH Durham (một trong những đại học có uy tín nhất của Anh), cho cả URL, bác TN Tuấn lại đi trích…Wikipedia.
Đoạn gạch dưới nhấn mạnh việc ngày hôm nay vẫn còn có những bất đồng về thềm lục địa tại đây.
Trên thực tế, không còn bất đồng về thềm lục địa dựa trên Rockall.
Về ý nghĩa của ZEE – vùng kinh tế độc quyền, ông Phạm Quang Tuấn không hiểu là trong vùng ZEE gồm có: cùng nước (cột nước), mặt đáy biển và phần dưới đáy biển (thềm lục địa). Trường hợp Rockall là một thí dụ cho thấy một nước có thể tuyên bố bỏ một số quyền nào đó và giữ một số quyền nào đó về vùng ZEE.
Bác TN Tuấn có thể đưa ra một đặc quyền (exclusive) nào mà Anh còn giữ dựa trên Rockall không? Nên nhớ chúng ta đang nói về Exclusive Economic Zone dựa trên Rockall.