Phong Uyên – Trả lời một vài phản hồi bài tôi viết về Trần Văn Tích và Nguyễn Mạnh Tường
19/08/2010 | 12:00 chiều | 12 Comments
Category: Lịch sử
Thẻ: Nguyễn Mạnh Tường
Xa Paris một tuần, trở về tôi mới có dịp đọc những phản hồi bài tôi bình luận những nhận định của ông Trần Văn Tích về nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường. Tôi thú thực hơi bị ngộp vì thấy chỉ nội trong 4 ngày đã có tới 59 bài phản hồi bàn cãi những đâu đâu, tự đả kích lẫn nhau, chỉ có chừng 4-5 bài liên quan tới Nguyễn Mạnh Tường. Để tránh bị sa lầy vào những cuộc bàn cãi có tính cách tán gẫu như nhận định của một độc giả, tôi xin giới hạn những câu trả lời vào bài phản hồi của ông Trần Văn Tích, đồng thời cũng gián tiếp trả lời của ông Nam Phan có ý cho tôi là “sống chung với lũ”. Tôi không biết là lũ nào, vì từ thưở thiếu thời cho tới nay đã gần nửa thế kỷ, tôi chỉ sống với lũ Tây!
1. Tôi hơi sững sờ khi đọc câu trả lời của ông Trần Văn Tích: “Tôi xin nói ngay là tôi chưa đọc cuốn sách đó. Và nếu có ai cho mượn thì tôi cũng chỉ đọc ơ hờ lơ mơ thôi… Bài tôi viết về Nguyễn Mạnh Tường… trong tư cách một kẻ nhận job chống cộng có laixăng… Đó là động cơ chính thức duy nhất…” Không đọc Un Excommunié, không biết ông Trần Văn Tích “có job và có laixăng chống cộng” căn cứ vào đâu để nói là ông Nguyễn Mạnh Tường xuất hiện (như Tề thiên đại thánh cộng sản) ở thủ đô Bỉ để:
– “lên án những kẻ gây đau khổ cho dân tộc vì chia đôi đất nước”;
– “tố cáo miền Nam lê máy chém”;
– “lăng mạ chính quyền cộng hoà hạ sát những người vượt vĩ tuyến17 ra miền Bắc bằng cách qua sông Bến Hải.”
Tôi không biết có người nào tự cho cái job chống cộng của mình quan trọng hơn cái chính trực và cái công minh của một người trí thức để có thể, chỉ căn cứ vào bài viết của một tác giả, kết tội một cách hồ đồ một bậc tiền bối đáng tuổi cha ông mình. Tôi chưa được đọc bài viết của ông Đinh Từ Thức nên không dám xét đoán tác giả đã vô tình hay cố ý, chỉ trích dẫn một vài câu do chính ông Nguyễn Mạnh Tường tự thuật, để kết tội ông đã một hồi làm tay sai của ông Hồ mà không cần biết trong 346 trang của cuốn sách, ông Nguyễn Mạnh Tường đã tố cáo ra sao những thủ đoạn thâm hiểm và tàn ác cộng sản kiểu Mao của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ông Trần Văn Tích có những lí luận lạ đời mà nếu thốt ra từ miệng một người khác, với cương vị của một người bác sĩ ông không thể không nghĩ là gặp một người “parano”: “Tôi đọc chớp nhoáng… để rồi quên luôn cả đầu đề sách, đừng nói gì nội dung. Tại sao? Tại vì tôi ngấy tới tận cổ… Ông bố vợ tôi…” Cái Tôi của ông Trần Văn Tích thật là “thiên thượng địa hạ duy ngã (và bố vợ) độc tôn”.
Tôi hi vọng có một vài độc giả chịu khó đọc nguyên bản tiếng Pháp cuốn Un Excommunié để thấy là:
Ông Nguyễn Mạnh Tường dùng những từ ngữ tiếng Pháp đầy ý châm biếm như haut dignitaire du Parti, les potentats communistes… khi nói về các chóp bu cộng sản. Về bài diễn văn đọc vào phút chót, lúc mà mọi phái đoàn đã ra về gần hết, ông nói “dans ma péroraison” chứ không “dans la péroraison de mon discours”. Những người hiểu tiếng Pháp một cách tinh tế nhận thấy ngay là ông muốn nói Đảng (qua miệng ông) đang “pérorer” (với nghĩa xấu là đang nói huênh hoang rỗng tuếch).
Khi phải nói về máy chém, ông Nguyễn Mạnh Tường chỉ kể lại chuyện ông, với tư cách là một luật sư được chỉ định để bào chữa cho một tên tướng cướp Tàu, đã phải chứng kiến sự hành hình của tên này: “Bộ mặt vũ phu của y trước khi bị chém ngẩng đầu lên không gợi một cảm tình nào, nhưng cái nhìn của hắn trước khi chết khiến tôi động lòng thương xót”. Tuyệt nhiên không có chỗ nào ông nói “lê máy chém” mà tôi không biết ai đã lấy ở đâu ra từ ngữ này để đặt vào cuốn sách viết bằng tiếng Pháp của ông Nguyễn Mạnh Tường. Máy chém đâu có chân mà lê được? Cho là ông Nguyễn Mạnh Tường nói tiếng Tây bồi đi, nguyên văn tiếng Pháp của “lê máy chém” là thế nào? Để mọi người hiểu tiếng Tây biết là ông bị bắt buộc phải nói về máy chém theo ý của ông “chủ tịch Toà án quân sự đặc biệt”, ông có chêm vào một câu “cái máy chém này có từ thế kỷ trước”. Một máy chém đã trăm tuổi được sử dụng để chặt đầu tên tướng cướp Tàu từ thời Pháp thuộc, mà còn được thêm chân để lê đi cùng mọi nơi như một xe mercedes đời mới, thì thật là có một không hai từ thời bác sĩ Guillotin phát minh ra guillotine!
Khi nói về sông (rivière) chứ không phải cầu Hiền Lương, ông Nguyễn Mạnh Tường chỉ nói một cách mập mờ “không phải nước mà sông đang cuốn mà là nước mắt của những người đàn bà, của những bà mẹ và cũng là máu của những người không màng nguy hiểm cho mạng sống của mình vượt sông để bị chết dưới làn đạn của những tàu tuần tiễu. Xin ông Trần Văn Tích tìm cho tôi chữ nào nói là tàu của “chính quyền cộng hoà”? Và sông Bến Hải chỉ rộng chưa đầy 100 mét lại là gianh giới của 2 miền Nam Bắc, có tàu nào được phép của Ủy hội Quốc tế tuần tiễu trên sông? Tất nhiên là mọi người đều hiểu là nếu có làn đạn thì chỉ là làn đạn từ những chòi canh vọng gác bên bờ phía Bằc sông Bến Hải.
Tôi xin kể sau đây những lời tố cáo cộng sản của ông Nguyễn Mạnh Tường trong cuốn Un Excommunié:
Ngay trong trang đầu của cuốn sách, ông Nguyễn Mạnh Tường đã kể lại là mấy tháng sau chiến thắng Điện Biên Phủ, trí thức bị triệu tập tới họp ở Tân Trào để nghe chỉnh huấn, báo hiệu cho những cuộc thanh trừng trí thức sẽ xảy ra sau khi tiếp thu Hà Nội vì Đảng cho rằng trí thức sau nhiều năm học tập chủ nghĩa Mácxít, theo những lớp học chính trị, những khoá tự kiểm thảo và học tập lao động, cũng vẫn còn giữ trong mình những dấu vết tư sản và sẽ lại bị nhiễm trùng (tư sản) một khi trở về Hà Nội. Tiên đoán của ông Nguyễn Mạnh Tường đã hoàn toàn đúng khi toàn thể trí thức bị rơi vào cái bẫy “Nhân văn – Giai phẩm”.
Ông tố cáo sự hận thù của người cộng sản đối với luật pháp: “Họ quyết định quét sạch luật pháp, chà đạp mọi quyền vì khi còn ở trong rừng, nhà nước đã quen chỉ nói chuyện với cây cỏ, với thú vật”.
Sau Hội nghị các luật gia dân chủ ở Bruxelles, ông Nguyễn Mạnh Tường nhận lời mời của phái đoàn Tiệp Khắc để có dịp ghé Prague đàm đạo riêng bằng tiếng Pháp với các luật gia Tiệp. Ông giảng giải cho các luật gia Tiệp lí do nào khiến chế độ cộng sản không thể nào chấp nhận bất cứ một nghề nghiệp tự do nào như luật sư, bác sĩ: “Đảng và thủ lãnh của nó muốn có mặt ở khắp mọi chỗ, muốn biểu lộ uy quyền tuyệt đối của mình nên phải cần những người chỉ biết nhắm mắt phục tòng lệnh của những ông chủ. Với kết quả là trong mọi guồng máy từ trên xuống dưới, không ai là người có khả năng, có hiểu biết mà chỉ là những người dốt nát và ngu tối… một đám đầy tớ (une valetaille) chỉ biết vâng lời! Trong một vài nước, ngay ông bộ trưởng bộ giáo dục cũng chưa qua khỏi Trung học và bộ trưởng bộ Tư pháp chưa bao giờ bước chân vào một phân khoa Luật nào”. Ông nói Đảng đặc biệt trù dập giới luật sư vì luật sư là những người trí thức có cái đầu để nghĩ, có cái miệng để nói khiến làm sai lạc những tính toán của Đảng… Ông cũng giảng giải cho các luật gia Tiệp rằngnguyên lí căn bản của nền dân chủ là mọi người đều bình đẳng trước pháp luật với hệ luận là tam quyền phân lập tự cân bằng nhau, tự kiểm sát nhau. Các luật gia Tiệp bị Đảng chuyên quyền nắm chặt bộ máy nhà nước làm khiếp sợ từ trước đến nay, cám ơn ông Nguyễn Mạnh Tường đã giải thoát cho họ nỗi lo sợ trên đường đòi hỏi dân chủ.
Ông Nguyễn Mạnh Tường cũng ghé qua Moscou gặp các luật gia Liên Xô. Tuy rất tò mò muốn biết ý kiến của các luật gia này về những vấn đề quan trọng, nhưng ông cũng biết là “mệnh lệnh của bất kỳ chế độ cộng sản nào là không được mở miệng nên chúng tôi chỉ biết lắng tai nghe những báo cáo được lặp đi lặp lại và được sửa đổi nhiều lần bởi những người hữu trách trong Đảng. Ai cũng đã biết trước màu sắc, luận điệu và nội dung chửi bới tư bản thối nát, ca tụng những kết quả 1 trăm phần trăm đạt được mỗi năm của chế độ cộng sản. Nhưng khi chia tay nhau, chỉ qua ánh mắt mọi người đều biết là có cùng chung một ý nghĩ và cùng hiểu nhau”.
Và đây là những điều ông Nguyễn Mạnh Tường nói về những người bị dính líu vào vụ Nhân văn – Giai phẩm như sử gia Đào Duy Anh, triết gia Trần Đức Thảo, nhà phê bình văn học Trương Tửu: “đều cùng hiểu một nghĩa về dân chủ, đều cùng dè dặt với chính quyền mà mọi người đều biết chỉ gồm những tên đồ tể, những quan toà dị giáo thời trung cổ được hoá trang dưới lớp son phấn đấu tranh giai cấp và bảo vệ chủ nghĩa Mácxít chính cống… Tuyệt đại đa số trí thức Hà Nội, nhất là những nhà văn kể cả những người còn trong quân đội, những người lo lắng cho tự do và sự trung thực của trí thức, đều cùng đứng lên như chỉ là một người, để nghe theo tiếng gọi của dân chủ tố cáo cái chính trị độc tài đang bóp ngẹt mọi hoạt động của trí thức”.
Nhưng cái khủng khiếp nhất mà ông Nguyễn Mạnh Tường kể lại trong cuốn sách của ông, là cộng sản hay lợi dụng đêm tối thủ tiêu những người bị cầm tù: “Tôi hồi tưởng lại những năm tôi đi cùng các thôn xóm làng xã để làm nhiệm vụ một luật sư và ban đêm ngủ lại được nghe kể những chuyện rất là thống thiết: trong bóng tối của hoàng hôn những người này thấy đi thất thểu ngoài ven rừng từng đoàn người gầy giơ xương lê từng bước chân một. Một giờ đã qua ban đêm đã xuống, bỗng nhiên có một tràng tiếng nổ làm thức tỉnh mọi người. Một cuộc hành hình tập thể vừa mới diễn ra, và mọi người khuyên nhau đừng nên tìm hiểu để thoả chí tò mò làm gì. Nhưng, từ mái nhà tranh này tới mái nhà tranh khác, mọi người đều rì rầm với nhau cái tin tức làm ớn lạnh xương sống…” (tr 236-237).
Tôi không biết “một tràng tiếng nổ ban đêm” có phải là đã được ban Tư duy biến thành những tràng đạn bắn người yêu nước vượt sông Bến Hải để mớm cho ông Trần Văn Tích nói về Nguyễn Mạnh Tường không?
Lại thêm một cú nữa của Ban Tư duy đã mượn nhà chống cộng Trần Văn Tích phổ biến giùm luận án của ông Cao Huy Thuần tố cáo âm mưu của các cố đạo Tây “lưỡi gươm đi trước thập giá đi sau” mở đường cho Tây xâm chiếm Việt Nam từ thế kỷ thứ XVI với sự ủng hộ của những người giáo dân cầm đầu bởi tên gián điệp Alexandre de Rhodes.
Tôi xin hồi đáp ông Trần Văn Tích về 2 luận án về Luật và văn học của Nguyễn Mạnh Tường:
Cách đây 400 năm ở Âu châu gần như không có dân luật hay nếu có chỉ là phỏng theo Luật La Mã và cá nhân chỉ là những thuộc dân không có một chút nhân vị nào. Số phận mỗi cá nhân con người hoàn toàn thuộc sự định liệu của giai cấp quý tộc và của Nhà Thờ. Cũng thời đó Luật Nhà Lê của nước Đại Việt ra đời. Luật có những điều lệ bảo vệ cá nhân trong một xã hội cổ chỉ có sinh hoạt cộng đồng. Có thể nói Nhà Lê đã đi trước những tư tưởng nhân quyền của Cách Mạng Pháp tới 200 năm và Cách Mạng Pháp chỉ trao cho con người những quyền chính trị. Còn quyền cá nhân khi có Code civil của Napoléon mới bắt đầu được nói đến.
Cái uyên bác của ông Nguyễn Mạnh Tường không thể tưởng tượng nổi:
Một luận án văn chương mà là 2 luận án:
Một luận án về Alfred de Musset, một thi sĩ của phái lãng mạn, mà mọi người đều biết là văn chương lãng mạn Pháp có ảnh hưởng rất lớn trong sự canh tân nền văn học Việt Nam. Tất cả những thi sĩ Việt Nam trước Thế chiến thứ 2 đều thuộc phái lãng mạn.
Một luận án về J Boissière gần như là một luận án về lịch sử vì J Boissiere viết về Việt Nam ở những thập niên cuối thế kỷ thứ XIX. Khi ông Nguyễn Mạnh Tường được qua lại Pháp năm 1989, việc đầu tiên là ông trở lại Clermont l’Hérault, quê hương của J. Boissière gần Monpellier và làm một bản thuyết trình trước công chúng tại đây.
Ông Nguyễn Mạnh Tường có khi nào nói sang Âu châu và đi nhiều nước để nghiên cứu bao giờ đâu? Ở thời ông Nguyễn Mạnh Tường, giới trí thức nào đã từ bỏ chủ nghĩa cộng sản – nhất là Gide -? Tôi xin thưa với ông Tích là André Gide không bao giờ là người cộng sản mà chỉ là người có óc xã hội vị tha chống thực dân. Ông nổi tiếng vì văn chương của ông thuộc phái tượng trưng (le symbolisme). Có thể Gide có một chút tư tưởng Marxiste trong một thời gian rất ngắn từ năm 1930 đến 1936 trước khi ông đi Liên Xô về. Những gì ông thấy ở Liên Xô làm ông ghê tởm chế độ Staline. Nhưng Stalinine có dính gì tới Marx mà ông, cũng vẫn như đa số những người chống cộng Việt Nam, cứ khư khư gán Marx cho Staline, coi Marx như là tổ sư của Staline và của ĐCSVN làm ban Tư duy mừng rơn, mà không biết là có nhiều vị chống Marx này đang sống ở những nước Dân chủ – Xã hội mà 2 vị tổ sư lại chính là Marx và Engels! Ông Nguyễn Mạnh Tường là tiến sĩ văn chương tất nhiên là biết nhiều về symbolisme. Nhưng tại sao lại bắt ông phải để ý về chuyến đi URSS của André Gide?
Tôi xin lỗi tôi không thể tiếp tục nói về cái xu hướng giải (bội) thực này của ông Trần Văn Tích. Tôi chỉ xin thêm là ở Hội nghị Genève năm 1954, Tàu và Mỹ đã chia nhau mỗi bên một nửa Việt Nam rồi nên ông Trần Văn Đỗ có ký hay không ký cũng không thay đổi một dấu phết trong bản hiệp định này. Tôi cũng xin nói leo chuyện của mấy vị đang cãi lộn nhau về thực dân Anh, thực dân Pháp, thực dân nào biết điều hơn thực dân nào: thực dân Anh rất thâm hiểm khi chia đôi Ấn Độ ra làm 2 nước Ấn Độ Ấn giáo và Ấn Độ Hồi giáo là Pakistan ngày nay.
© 2010 Phong Uyên
© 2010 talawas
Bình luận
12 Comments (bài “Phong Uyên – Trả lời một vài phản hồi bài tôi viết về Trần Văn Tích và Nguyễn Mạnh Tường”)
Gpó ý phản hồi ông Nguyễn Lê Hiếu trích dẫn câu viết trên Wiki.
Theo nhận định của nhiều người trên talawas từ lâu, những truy cứu, dẫn chứng từ Wikipedia là rất yếu, chỉ dùng cho chuyện thông thường, phổ thông, để bổ túc, làm nguồn phụ cho tài liệu chính, hay khi không có tài liệu nào khác (hoặc khi muốn tranh cãi kiểu tranh tối tranh sáng). Lý do là tác giả các bài viết trên Wiki thường không ghi tên tác giả, không chịu trách nhiệm điều họ viết, nhất là không biết họ đứng về phía nào khi nêu ý kiến về một vấn đề chính trị, gây tranh cãi (không bao giờ họ chịu lộ diện, thí dụ cho biết họ là “thầy cãi” cho bên nào, là nhìn theo quan điểm quốc gia hay CS). Huống chi điều Nguyễn Lê Hiếu ở đây là mấy câu trích dẫn, không là toàn bộ bài viết về quan điểm, về cách giải thích HĐ Genève của người ẩn danh nào đó.
Xét câu ông NLH trích: The Geneva Agreements carefully worded the division of northern and southern Vietnam as a “provisional military demarcation line”…
Là nhận định có thể không sai, nhưng cũng là cả một sư lừa dối cố tâm được che giấu trong HĐ, và trong cách giải thích đã dẫn. Thật ra “carefully worded” ( dùng chữ cẩn thận) khi viết văn bản HĐ là để phỉnh gạt người dân thường, nhất là ở phía quốc gia, như ông Trần Văn Đổ theo ông Phong Uyên nhớ, nhưng đã chứng tỏ không chút hiệu quả. Ông Đỗ không ký HĐ (Mỹ không mắc mớ gì chuyện này để ký), và hàng triệu người Việt vội vã, bán sống bán chết, bỏ lại tất cả, rời vùng này để chạy qua vùng kia, khi có thể làm được điều đó. Giải thích (vĩ tuyến 17 là) ” đướng phân cách tạm thời về quân sự” thì tại sao người dân không được quyền tự do đi lại giữa hai vùng, ít nhất cho tới khi bầu cử. Trái lại, ngay cả thư từ qua lại giữa người trong gia đình ở hai vùng khác nhau cũng không được phép (những tấm bưu thiệp in theo mẫu sẵn để “lộ thiên” không phải là thư riêng theo nghĩa bình thướng). Khi ông NLH cho đây là lời “cộng sản nóí rõ như vậy”, nhưng công bằng hơn cũng còn là lời nói của thực dân, thì chính là bằng chứng biện minh cho lời ông Thiệu: đừng nghe những gì cộng sản (và thực dân) nói.
Xét câu: L’élection référendaire sur tout le Viêt Nam pour la réunification prévue par les Accords de Genève en 1956 et ayant été prévue dans les vingt-quatre mois après leur signature ne s’est jamais tenue. En effet, Diem ainsi que les Américains craignaient quant à la possibilité d’authentiques d’élections libres dans le territoire géré par Ho Chi Minh
NLH muốn dùng dẫn chứng cho ý tưởng “bầu cử vào năm 1956 để thống nhất”:” réunification prévue par les Accords de Genève en 1956″ . Nhưng đây là ai và , dựa vào điều quy định nào trong HĐ Genève để nói “bầu cử vào năm 1956”? Nhấn mạnh ở điểm không có quy định rõ ràng, mang tính ràng buộc là hai bên sẽ bầu cử trong năm 1956.
“ayant été prévue dans les vingt-quatre mois après leur signature ne s’est jamais tenue”: Trong “leur signature” (chữ ký của họ) thì “leur” (họ) bao gồm những ai. Đây nếu không là cách viết rất lập lờ, đánh lận con đen, thì cũng cho thấy phía VN Quốc gia (SG) không buộc phải làm chuyện bầu cử tưởng tượng ra bời người viết HĐ Genève, Đơn giản vì “leur” không bao gồm phía họ khi không có chữ ký của họ. Có lẽ thực dân và CS muốn bầu cử với nhau. Nhưng đừng cho ông Diệm đuổi 36 ngàn quân Pháp còn lại ở miền Nam năm 1956 là để tránh bầu cử, vì số lính viễn chinh này không còn là gì đối với chính tình nước VN độc lập dù chia đội vào trước năm đó.
@Hoa Nguyen: Re: Wikipedia
Geneva Agreements and response
The Geneva Agreements carefully worded the division of northern and southern Vietnam as a “provisional military demarcation line”,[10] “on either side of which the forces of the two parties shall be regrouped after their withdrawal”.[10] To specifically put aside any notion that it was a partition, they further stated, in the Final Declaration, Article 6: “The Conference recognizes that the essential purpose of the agreement relating to Vietnam is to settle military questions with a view to ending hostilities and that the military demarcation line is provisional and should not in any way be interpreted as constituting a political or territorial boundary” [10]
L’élection référendaire sur tout le Viêt Nam pour la réunification prévue par les Accords de Genève en 1956 et ayant été prévue dans les vingt-quatre mois après leur signature ne s’est jamais tenue. En effet, Diem ainsi que les Américains craignaient quant à la possibilité d’authentiques d’élections libres dans le territoire géré par Ho Chi Minh
Nguyễn Lê Hiếu viết: Về việc đất nước bị “chia” thành hai vùng vào năm 1954, ai cũng biết là do Pháp và Cộng-sản chủ trương. Tuy nhiên, Cộng sản cũng đã nói rõ là “tạm chia thành hai vùng quân sự chứ không phải hai nước và hai chính thể khác nhau” và sẽ “thống nhất qua bầu cử vào năm 1956”.
Và: miền Nam thay đổi thể chế muốn duy trì tình trạng chia đôi để “cứu và xây dựng phần còn lại của đất nước bị chia đôi”.
Trong phản hồi trước tôi đã trích lại và thử tìm hiểu phần đầu đoạn viết trên, bây giờ là tìm hiểu phần sau (theo gợi ý của ông NLH):
1/ ” Cộng sản cũng đã nói rõ là “tạm chia thành hai vùng quân sự chứ không phải hai nước và hai chính thể khác nhau” và sẽ “thống nhất qua bầu cử vào năm 1956 ”.
Điều này được đọc thấy ở đâu, trên báo Nhân Dân , theo truyền đơn rải ở miền nam thời đó, hay nghe “Lời Người Ra Đi ” (tập kết, theo câu hát: Rằng muốn có một ngày về, thì chiến đấu đừng sờn lòng ). Tôi thật tình không biết.(vì thời đó chưa tới tuổi để biết).
Tuy nhiên, lúc đó thật sự trên lãnh thổ VN có hai nước, hai thể chế khác nhau, không thể chối bỏ. Riêng miền Nam đã độc lập hoàn toàn theo thỏa uớc mới ký giửa Pháp và chính phủ Bửu Lôc (giống trường hợp Miên, Lào), được một số nước trên thế giới như Pháp, Anh, Nhật, Mỹ công nhận, và miền Bắc là một chính phủ khác cũng được một số nước như LX, Trung Quốc công nhận. Vậy câu viết “ chứ không phải hai nước và hai chính thể khác nhau ” được giải thích thế nào cho phù hợp với thực tế ? Nếu không sát hợp thì có là lập loè.
Tôi đọc thấy hiệp định Genève không trù liệu sẽ có “bầu cử vào năm 1956 để thống nhất”. Vậy không biết chuyện này được suy đoán từ đâu, và có giá trị thế nào (như một dự đoán chính trị đáng tin cậy hay chỉ là cách nói ru ngủ).
2/ “ miền Nam thay đổi thể chế muốn duy trì tình trạng chia đôi để “cứu và xây dựng phần còn lại của đất nước bị chia đôi ”.
Câu này có thể hiểu : Miền Nam lật đổ Bảo Đại( để thay đổi thể chế) là muốn duy trì tình trạng chia đôi ?
Những ai sống ở miền Nam trong giai đoạn đó có nghĩ như vậy không ? Nếu Bảo Đại vẫn là quốc trưởng, miền Nam sẽ bị ràng buộc gì để phải làm tổng tuyển cử, khi chính phủ quốc gia trong thờì Bảo Đại còn tại vị không ký tên vào bản HĐ Genève, và lại còn lên tiếng phản đối nội dung (chia hai đất nước). Bảo Đại từng chứng tỏ chống Pháp (cũng chống Cộng), và lúc đó Pháp đã cho Việt Nam quốc gia được độc lập hoàn toàn (như nói trên), vậy không thể nào BĐ chịu nghe theo Pháp. Tóm lại, nếu ông Diệm “muốn duy trì tình trạng chia đôi”, Bảo Đại cũng muốn thế và làm được điều đó (rồi ra sao thì ra).
để “cứu và xây dựng phần còn lại của đất nước bị chia đôi” : Ý tường cũng hay nhưng là lời ai nói, có phải của ông Ngô Đình Diệm, hay do suy đoán riêng ?.
Nhưng sao không nghĩ cứu cả nước và xây dựng cả nước bằng cách phát động chiến tranh theo câu hàt “quân Nam về giải phóng Thăng Long” (bài hát Con đò vĩ tuyến của Lam Phương).
Tạm cho là chính phủ trong Nam thích hòa bình, hay quân lực yếu, nhưng ngại bầu cử sẽ thua (tôi nghĩ sẽ thua xét theo điều kiện chung lúc đó), thì cách chọn lựa này có chính đáng và hợp lý không, so với mưu tính thống nhất bằng bạo lực với những hậu quả phải thấy trước, hoặc xuôi tay nhắm mắt cho miền Nam bị nhuộm đỏ. Điều này chỉ là tôi tự nghĩ, không có ý hỏi ông NLH.
@ Trầm Kha
Xin đa tạ bác.
@Hòa Nguyễn viết : ngôn ngữ văn học được sử dụng khéo léo cho “nhận định chính trị lập lờ”.
NLH viết: Về việc đất nước bị “chia” thành hai vùng vào năm 1954, ai cũng biết là do Pháp và Cộng-sản chủ trương. Tuy nhiên, Cộng sản cũng đã nói rõ là “tạm chia thành hai vùng quân sự chứ không phải hai nước và hai chính thể khác nhau” và sẽ “thống nhất qua bầu cử vào năm 1956”.
Và: miền Nam thay đổi thể chế muốn duy trì tình trạng chia đôi để “cứu và xây dựng phần còn lại của đất nước bị chia đôi”.
Thưa, rõ ràng như vậy mà bị kết án là “nhận định chính trị lập lờ” thì oan hơn là Thị Kính.
@Nguyễn Lê Hiếu:
Xin bác nhận nơi đây lời cảm tạ & tri ân của tôi đối với bác về bài viết & phản hồi điềm nhiên bằng cái tâm trong sáng của bác.
Ông Phong Uyên viết: Tôi chỉ xin thêm là ở Hội nghị Genève năm 1954, Tàu và Mỹ đã chia nhau mỗi bên một nửa Việt Nam rồi nên ông Trần Văn Đỗ có ký hay không ký cũng không thay đổi một dấu phết trong bản hiệp định này
Tôi nhận thấy ông Nguyễn Lê Hiếu có cách viết lịch sự giống ông Trần Văn Tích, không xét tới một sự kiện trong câu viết trên của ông Phong Uyên, và ông Nguyễn Lê Hiếu cũng rất tôn trọng sự thật khi ghi: “ Về việc đất nước bị “chia” thành hai vùng vào năm 1954, ai cũng biết là do Pháp và Cộng-sản chủ trương “.
Nhiều người quan tâm đến giai đoạn lịch sử đó còn nhớ chuyện được thuật lại: trong một buổi họp, trưởng phái đoàn Pháp mừng rơn, như cờ tam sắc mở trong bụng, khi ông Tạ Quang Bửu đề nghị giải pháp chia VN thành hai vùng (theo mô hình Triều Tiên) thay vỉ quân dội hai bên đóng xen kẽ kiểu da beo (theo kế hoạch đề nghị lúc đầu). Đó chính là điều Pháp mong muốn, nhưng chưa nói ra vì sợ phía VM khó chấp nhận. Cũng theo chuyện ghi lại, sau đó ông Tạ Quang Bửu giải thích thêm là VNDCCH cần có thủ đô (Hà Nội) và cảng thông ra quốc tế (Hải Phòng). Chuyện như thế gần với sự thật nhất, nhưng đổ tội cho Mỹ-Tàu thì dễ đưọc người VN nghe hơn (ít nhất một nửa người VN ghét Tàu, nửa còn lại ghét Mỹ, và ít người nhớ tới Pháp).
Theo tài liệu hay cách nhìn từ phía Mỹ (mà tôi căn cứ, có khi chép lại nguyên văn, vào quyển “Vũng Lầy Bạch Ốc” của Nguyễn Kỳ Phong), sau khi Pháp mất Điện Biên Phủ và chiến doàn Lưu động 100 của Pháp bị đánh tan ở cao nguyên Trung phần, thì bộ chỉ huy quân sự của Pháp ở Đông Dương yêu cầu mẫu quốc phải thương thuyết nhanh với Việt Minh, nếu không họ sẽ di tản đám tàn quân còn lại ở miền Bắc vào Nam (tướng Cogny ở Bắc Việt đòi di tản khỏi Hà Nội). Trong tình hình đó, Pháp phải điều đình để rút khỏi miền Bắc trong danh dự.
Pháp có trong tay lá bài đủ giúp họ vận động với Liên Xô và “Trung Cộng”. Pháp vẩn chưa chịu để cho Tây Đức vào NATO theo yêu cầu của Anh, Mỹ (Pháp rất ngại tái vũ trang Tây Đức), và vẫn giữ tình trạng như thế nếu Liên Xô chịu làm áp lực lên Việt Minh. Pháp sẽ nhìn nhận Trung Quốc (có thể cả cho vị thế TQ ở LHQ) nếu “Trung Cộng” làm áp lực lên ông Hồ. Phần Trung Quốc sợ Mỹ đem quân vào can thiệp và thiết lập đầu cầu trên lục địa Đông Nam Á. Tuần lể đầu tháng 6 năm 1954, Chu Ân Lai từ hội nghị bay vế Nam kinh gặp Hồ Chí Minh, sau đó trở lại Genève gặp riêng thủ tướng Mendes France. Phần Mỹ, lúc đó đã có ý muốn can thiệp quân sự vào Đông Dương, nếu Pháp yêu cầu (nhưng Pháp chỉ muốn xin viện trợ tiền và vũ khí). Hội định Genève hình thành là công trình của Pháp, Anh, Liên Xô, và Trung Quốc, còn việc chọn vĩ tuyến 17 là kết quả của kỳ kèo bớt một thêm hai. Anh năn nỉ Mỹ gửi đại diện đến chứng kiến sự biểu quyết bản văn hiệp định, nhưng Hoa kỳ chỉ ghi nhận chứ không công nhận những tuyên ngôn của các nước tham dự.
Ngày 21-7-1954, tất cà quốc gia tham dự họp lại phát biểu những cam kết chung về hiệp định Genvève. Trong phát biểu lần cuối này, nhiều nước tham dự đồng ý theo bản Tuyên Cáo (điều 7) là các nhà cầm quyền của hai miền Nam Bắc Việt Nam sẽ tham khảo với nhau từ ngày 20-7-1955 về cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Sau đó mỗi nước được phát biểu riêng về hiệp định Genève. Hoa kỳ và Việt Nam Quốc gia phát biểu sự phản đối đối với hiệp định. Không quốc gia nào ký tên vào bản Tuyên Cáo trên; họ chỉ đồng ý bằng miệng.
Về sau, khi ông Phạm Văn Đồng đòi miền Nam thực hiện lời hứa miệng này thì ông Ngô Đình Diệm không đồng ý. Ngoại trừ miền Bắc VN, không biết có nước nào đòi hỏi cuộc tổng tuyển cử dự liệu này không, và có nhận định Liên Xô không muốn một tổng tuyển cử để thống nhất VN, vì sẽ tạo thành một tiền lệ cho nước Đúc mà chắc chán Đông Đức sẽ thất bại.
Khi ông Nguyễn Lê Hiếu viết ngay từ mở đầu:” Một cái ly lưng nước mà theo tiếng ngọai quốc, có thể nói “nửa vơi hay nửa đầy…”, có vẻ như muốn nói miền Bắc chia cắt đất nước, còn miền Nam không chịu thống nhất, và ngôn ngữ văn học được sử dụng khéo léo cho nhận định chính trị lập lờ.
Tôi thấy về vấn đề chia cắt và thống nhất, hai ông Nguyễn Mạnh Tường và Đinh Từ Thức trình bày cách nhìn minh bạch, thẳng thắn hơn, tuy rất khác nhau.
1- Một cái ly lưng nước mà theo tiếng ngọai quốc, có thể nói “nửa vơi hay nửa đầy”; các bác sỹ tâm lý hay dùng câu này để nói lên tâm trạng người nói. Về việc đất nước bị “chia” thành hai vùng vào năm 1954, ai cũng biết là do Pháp và Cộng-sản chủ trương. Tuy nhiên, Cộng sản cũng đã nói rõ là “tạm chia thành hai vùng quân sự chứ không phải hai nước và hai chính thể khác nhau” và sẽ “thống nhất qua bầu cử vào năm 1956″. Một năm sau ngày tạm chia thành hai vùng, Thủ tướng Ngô Đình Diệm vào ngày 16-7-1955 cũng chấp nhận “sẵn sàng tổ chức tổng tuyển cử nếu có thể bàu được tự do”. Nhưng ba tháng sau, thể chế miến Nam thay đổi và năm tháng sau đó, ngày 6-4-1957, Tổng-thống Ngô Đình Diệm quyết định không có tổng tuyển cử. Ba tháng sau nữa, ngày 18 tháng 7 năm 1957, Thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng tiếp tục gửi thư cho Tổng thống yêu cầu hiệp thương. Bị từ chối.
Cho nên, người quốc gia tố cáo là Cộng sản chia đôi đất nước và phe CS trách là TT Diệm không chịu thống nhất. Nói chung, “nguyện vọng thống nhất” quả thực là có. Cộng sản muốn thống nhất dưới tay họ nên tiếp tục xin cho tổng tuyển cử để (qua việc gian lận, bỏ phiếu không tự do) còn miền Nam thay đổi thể chế muốn duy trì tình trạng chia đôi để “cứu và xây dựng phần còn lại của đất nước bị chia đôi”.
2- Hoà Nguyễn giới thiệu bài của Đinh Từ Thức tố cáo NMT “cổ võ cuộc chiến thôn tính miền Nam” “chính nghĩa thống nhất đất nước bằng chiến tranh”. Nên đọc thêm cả bài “Biện hộ cho bị cáo Nguyễn Mạnh Tường” trên talawas, ngày 13-5-2010 trong đó tôi kể ra vài lỗi lầm vô tình hay cố ý (?) của người viết. Đọc cả hai để thấy hai cách nhìn và ảnh hưởng của cái tâm trong việc phê bình phán đoán người xưa và chuyện cũ.
Ông Nguyễn Đình Đăng viết: Tôi chưa đọc, nhưng tôi lên án được dùng để chỉ ra rằng không thể nào có được sự phê bình mang tính xây dựng từ phía người phản biện không hiểu biết về đối tượng được/bị phán xét.
Ông Phong Uyên (PU) viết: Không đọc Un Excommunié, không biết ông Trần Văn Tích “có job và có laixăng chống cộng” căn cứ vào đâu để nói là ông Nguyễn Mạnh Tường xuất hiện ở thủ đô Bỉ để”:
– “lên án những kẻ gây đau khổ cho dân tộc vì chia đôi đất nước”
– “tố cáo miền Nam lê máy chém”…
Tôi nghĩ không ai có thể đọc hết những tác phẩm của các tác giả nổi tiếng. Nhất là khi tác phẩm “Un Excommunié ” được viết bằng tiếng Pháp, và tuy bây giờ có bản dịch in ở Pháp, nhưng chưa chắc nhiều người hứng thú đủ để tìm đọc.
Người tìm đọc Un Excommunié có thể là những nhà nghiên cứu chính trị ở hai đầu cực chống cộng và biện minh cho chủ nghĩa cộng sản, hay cũng có thể “vô tư” muốn tìm hiểu chủ nghĩa CS ở VN, nhất là trong giai doạn từ 1945 đến khi mở cửa. Một số người vì từng biết, ngưỡng mộ nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường. Phần tôi, không tìm đọc vì nghĩ những gì ông NMT nói tới thì tôi đã đọc biết ở chỗ khác từ những tác phẩm của những ai đó, ngoài ra còn bằng trải nghiệm riêng. Cái kinh nghiệm sống dưới chế độ CSVN (giống ông Trần Văn Tích, và khác ông Phong Uyên) khiến tôi hoàn toàn không thấy lạ, không ngạc nhiên, không có ấn tượng mạnh để nhớ cho lâu những khó khăn trong đời sống ở Hà Nội của ông NMT khi ông bị “dứt phép thông công”. Hàng triệu người miền Nam sau ngày Giải Phóng cũng “khổ” không kém ông NMT trước kia, dù không từng được thông công (trong “hội Thánh”) để sau bị tuyệt thông.
Thật sự, ông Trần Văn Tích đã nói rõ ông đọc các bài ông Đinh Từ Thức (ĐTT) viết về Nguyễn Mạnh Tường trên talawas, và tôi cũng đọc như ông. Tôi nghĩ không thể có cái nhìn trung thực về NMT nếu chỉ đọc ông Phong Uyên mà không đọc ông Đinh Từ Thức, nên xin giới thiệu lại bài ông ĐTT đã viết:
– Kỳ1: http://www.talawas.org/?p=19124
-Kỳ 2: http://www.talawas.org/?p=19136
Tôi xin dẫn một thí dụ để làm sáng tỏ ý tưởng khi đọc bài ông PU cũng nên đọc bài ông ĐTT) qua hai điểm đã nêu trên.
Câu nói của NMT được ông ĐTT dẫn lại :
“ Thưa các bạn, cái máy chém đó, có từ thế kỷ trước. Nó chẳng những được dùng để chém đầu những kẻ phạm tội ác, mà còn dùng để chém đầu những người con yêu nước đang đấu tranh để thống nhất Tổ quốc, để khủng bố dân lành và để trấn áp lòng yêu nước của họ ”
Ông Phong Uyên diển giải ý nghĩa như sau :
Khi phải nói về máy chém, ông Nguyễn Mạnh Tường chỉ kể lại chuyện ông, với tư cách là một luật sư được chỉ định để bào chữa cho một tên tướng cướp Tàu, đã phải chứng kiến sự hành hình của tên này: “Bộ mặt vũ phu của y trước khi bị chém ngẩng đầu lên không gợi một cảm tình nào, nhưng cái nhìn của hắn trước khi chết khiến tôi động lòng thương xót”. Tuyệt nhiên không có chỗ nào ông nói “lê máy chém” mà tôi không biết ai đã lấy ở đâu ra từ ngữ này để đặt vào cuốn sách viết bằng tiếng Pháp của ông Nguyễn Mạnh Tường
Ông Đinh Từ Thức viết:
Tại miền Nam vĩ tuyến 17, từ 1954 đến 1956, có bao nhiêu người đã phải lên máy chém chỉ vì “đấu tranh để thống nhất Tổ quốc”? Người viết chỉ còn nhớ rõ một trường hợp tử tội là ông Ba Cụt, nhưng không phải vì ông tranh đấu đòi thống nhất. Dù có đến hàng chục, và chắc không đến hàng trăm người phải lên máy chém tại miền Nam, ít ra họ cũng đã được xét xử tại tòa án theo thủ tục pháp lý thông thường, có luật sư biện hộ, chứ không đến nỗi bị xử và hành hình dã man như tại các “tòa án nhân dân” …mà luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã biết quá rõ
Ông Phong Uyên viết:
” Tôi chỉ xin thêm là ở Hội nghị Genève năm 1954, Tàu và Mỹ đã chia nhau mỗi bên một nửa Việt Nam rồi nên ông Trần Văn Đỗ có ký hay không ký cũng không thay đổi một dấu phết trong bản hiệp định này . Như vậy có lẽ ông PU không hiểu được “tấm lòng” của ông NMT (không muốn chia cắt đất nước, và nếu đã chia thì mong thống nhất), theo ông ĐTT trình bày như sau:
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã so sánh tình trạng đất nước chia đôi với “cảnh chia tay của một cặp vợ chồng”,…cái gánh nặng buồn đau lại đổ trên vai của những đứa con ” Ông nói tới “ những tiếng kêu van, trách móc và than khóc của hàng triệu người bị buộc phải xa lìa nhau mà không hề biết tại sao”…
Ông Nguyễn Mạnh Tường đã thừa nhận việc chia đôi Việt Nam thành hai phần là “rất đúng luật về mặt hình thức”. Ông đã ví sự phân chia này với hoàn cảnh một cặp vợ chồng ly dị, gây ra đau khổ cho các con. Nhưng không phải tự nhiên mà một dân tộc phải phân ly hay một cặp vợ chồng ly dị. Chia ly vì không thể ở với nhau, vì bạo hành, gian trá hay phản bội. Cũng đã có những trường hợp phân ly rồi tái hợp. Nhưng chỉ có thể tái hợp khi những nguyên nhân đã gây ra phân ly thay đổi, hay không còn nữa. Và tái hợp chỉ thành tựu khi được sự thỏa thuận của các bên liên hệ. Trên thế giới này, có nước nào, có luật lệ nào, có đạo lý nào cổ võ việc một cặp vợ chồng ly dị hợp pháp phải tái hợp bằng võ lực? </i
Tác giả Phong Uyên có vẻ am tường lịch sự thế giới… wá xá. Chắc “ngài” đã nghiên cứu không thiếu một “dấu phết” toàn bộ tác phẩm Karl Marx, Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông và… ai who else?
Nếu “thực dân Anh rất thâm hiểm khi chia đôi Ấn Độ ra làm 2 nước Ấn Độ Ấn giáo và Ấn Độ Hồi giáo là Pakistan ngày nay” (Phong Uyên) cớ chi hai quốc gia này vẫn còn ở trong thị trường (?) chung “Commonweath” gồm các thuộc địa cũ của “thực dân Anh rất thâm hiểm”, trong đó có Australia và Canada (?); và tới nay Nữ hoàng Anh vẫn được tiếp đón long trọng mỗi khi “bà” thăm viếng các quốc gia này?
Tôi thì xin đề nghị chúng ta nên nhận định các đóng góp của đời một người trí thức nói chung trên ba yếu tố sau: suy tư, học thuật và sự quan tâm đến con người. Ba yếu tố này phải hài hoà trong người trí thức. Nhân vô thập toàn đến độ có nhiều trí thức học thuật nhiều, suy tư cao sâu nhưng lại kém về sự quan tâm đến ảnh hưởng của học thuật và suy tư mình đạt được lên hiện tại và tương lai của nhân quần xã hội. Ngược lại, quá quan tâm mà học thuật kém hay suy tư nông nỗi thì rồi cũng chẳng đến đâu. Cả ba yếu tố phải được hài hoà phát huy trong đời người trí thức hầu cho sự đóng góp cho xã hội đạt mức tối ưu, bằng không dễ tạo hoang tưởng, thất bại cho chính mình và cho xã hội, tai ương, tiếc nuối, phiền trách, lên án lẫn nhau. Tệ nhất khi các công trình của người trí thức là dầu cho thêm vào lửa, tạo thêm chiến tranh, thù hận triền miên. Tôi tin rằng một hành động khẳng khái từ quan với triều đình cộng với một lời khuyên của một bậc thức giả hiểu nhiều biết rộng suy tư cao có thể giúp nước nhà tránh được cảnh đao binh thù hận vô ích. Lịch sử đông tây đã chứng minh điều này, và tôi tin là trí thức ai ai cũng có thể làm được điều này trong thời đại ngày nay.
«Hе читал но осуждаю».
(Tôi chưa đọc, nhưng tôi lên án.)
——————————————–
Sau khi tiểu thuyết “Bác sĩ Zhivago” cuả Boris Pasternak được bí mật tuồn từ Liên Xô sang phương Tây, được dịch rồi xuất bản, bản dịch tiếng Anh của tiểu thuyết này đã dẫn đầu danh sách bestseller trong vòng hơn 6 tháng trời của 1958 – 1959. Năm 1958 hội đồng Nobel quyết định trao giải Nobel văn chương cho Boris Pasternak.
Trong khi đó tại Liên Xô đã dấy lên một chiến dịch chống lại Boris Pasternak, kết tội ông phản bội tổ quốc, làm tay sai cho đế quốc v.v., khiến ông phải từ chối giải Nobel, và qua đời 2 năm sau đó. Năm 1989, con trai ông đã thay mặt cha lĩnh giải Nobel.
Cho dù KHÔNG AI TRONG SỐ NHỮNG KẺ CHỈ TRÍCH ÔNG TỪNG ĐỌC MỘT DÒNG TỪ “BÁC SĨ ZHIVAGO”, một số quan chức hội Nhà văn Xô-Viết đã lớn tiếng đòi “tống cố con lợn đó ra khỏi vườn nhà chúng ta.“. Tổng thư ký hội Nhà Văn Liên Xô khi đó thậm chí đã tuyên bố:
“Nếu so sánh Pasternak với lợn, thì lợn sẽ không làm nổi cái mà hắn đã làm.”
(Nguyên văn: Eсли сравнить Пастернака со свиньей, то свинья не сделает того, что он сделал).
Có người còn viết như sau trong báo Văn học của Liên Xô năm 1958:
“Báo chí viết về một Pasternak nào đó, dường như là một nhà văn. Tôi chẳng biết gì về hắn ta từ trước tới nay, chưa bao giờ từng đọc sách hắn viết… Đó không phải là nhà văn, mà là một tên Bạch vệ… Tôi chưa đọc Pasternak, nhưng tôi biết rằng văn chương sẽ hay hơn nếu không có lũ cóc nhái“.
(Nguyên văn: Газеты пишут про какого-то Пастернака. Будто бы есть такой писатель. Ничего о нём я до сих пор не знал, никогда его книг не читал… это не писатель, а белогвардеец… я не читал Пастернака. Но знаю: в литературе без лягушек лучше.)
Từ đó câu nói «Hе читал, но осуждаю» (Tôi chưa đọc, nhưng tôi lên án) được dùng để chỉ ra rằng không thể nào có được sự phê bình mang tính xây dựng từ phía người phản biện không hiểu biết về đối tượng được/bị phán xét.
http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=12455&rb=0306
Monique Hirshorn:
Sau khi tỉnh giấc khỏi sự kiên định cứng đầu, các triết gia mới đang khám phá ra sự thật đơn giản đến không ngờ . Mối liên quan giữa Gulag và Marx quá rõ ràng. Không phải một thiếu sót có thể giải thích được bằng thói quan liêu, phản bội của Stalin hay sai lầm của Lenin. Thật ra, đây là hậu quả lý luận trực tiếp và không thể tránh được của những nguyên tắc Marxism. Xã hội phi giai cấp không phải là một tầm nhìn khai sáng, mà đúng hơn, cái tên khác của kinh hoàng .
Sorry, tớ không chống ông Nguyễn Mạnh Tường, nhưng về mặt học thuật, câu hỏi “Nhưng Stalin có dính gì tới Marx ” thừa thãi . Zinoviev biện hộ cho Stalin vì Stalin đã đi rất đúng logic của chủ nghĩa Mác, vì vậy theo Zinoviev, lỗi chính là ở Marx chứ không phải Stalin. Và theo tư duy đó, chính Lenin mới là người phản bội chủ nghĩa Mác ít nhất 2 lần, cách mạng Nga hiện nguyên hình là cuộc nổi dậy của nông dân theo kiểu “được làm vua thua làm giặc” vì đã không hội đủ điều kiện tạo ra cách mạng như Marx tiên đoán, cũng như tất cả các cuộc cách mạng nhân danh Marx sau này, chủ nghĩa Mác chỉ được áp dụng sau này trong việc cải tạo xã hội . Lần thứ 2 là NEP khi nền kinh tế Mác-xít đã đi vào con đường phá sản . Chính Stalin đã nhìn ra NEP đi ngược lại Marxism, và khi lên cầm quyền đã thẳng tay dẹp .
Phong Uyên nên nhìn Marxism như chính Marxism, thay vì nhìn qua lăng kính lãng mạn của các triết gia Pháp hồi đầu thế kỷ trước, và bỏ giùm cái lý luận “nhưng mục đích của Marx là tốt”. Sorry, but I ain’t buyin’.